Mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 06/01/2026 theo Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP

Ngày 06/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP có quy định mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 06/01/2026.

Nội dung chính

    Mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 06/01/2026 theo Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP

    Ngày 06/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất theo quy định của Luật Đất đai 2024.

    (*) Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 01 năm 2026 đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2027.

    Theo Điều 2 Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP có quy định về tiền đặt trước tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân như sau:

    Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân theo quy định của Luật Đất đai 2024 thì tiền đặt trước tối thiểu là mười phần trăm (10%) và tối đa là năm mươi phần trăm (50%) giá khởi điểm.

    (*) Trước đó, quy định về tiền đặt trước trong đấu giá tài sản tại khoản 1 Điều 39 Luật Đấu giá tài sản 2016 được sửa đổi bổ sung bởi điểm a khoản 24 Điều 1 Luật Đấu giá tài sản sửa đổi 2024 như sau:

    Điều 39. Tiền đặt trước và xử lý tiền đặt trước
    1. Người tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước. Tiền đặt trước được gửi vào một tài khoản thanh toán riêng của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
    Người tham gia đấu giá, người có tài sản đấu giá và tổ chức hành nghề đấu giá tài sản có thể thỏa thuận thay thế tiền đặt trước bằng bảo lãnh ngân hàng.
    Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư, quyền sử dụng tần số vô tuyến điện thì người có tài sản đấu giá yêu cầu phong tỏa tài khoản thanh toán riêng của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản đối với khoản tiền đặt trước đó theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.
    1a. Tiền đặt trước do tổ chức hành nghề đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá thỏa thuận, nhưng tối thiểu là năm phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm của tài sản đấu giá, trừ trường hợp quy định tại khoản 1b Điều này và các trường hợp sau đây:
    a) Trường hợp đấu giá quyền khai thác khoáng sản mà giá khởi điểm chưa xác định được bằng tiền thì tiền đặt trước được xác định theo quy định của pháp luật về khoáng sản; đối với đấu giá quyền khai thác khoáng sản mà giá khởi điểm xác định được bằng tiền thì tiền đặt trước tối thiểu là mười phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm;
    b) Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì tiền đặt trước tối thiểu là mười phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm;
    c) Trường hợp đấu giá quyền cho thuê tài sản mà giá khởi điểm được xác định theo đơn giá thuê hằng năm thì tiền đặt trước tối thiểu là năm phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm nhân với thời hạn cho thuê.
    1b. Trường hợp đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện thì tiền đặt trước do tổ chức hành nghề đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá thỏa thuận và được xác định như sau:
    a) Trường hợp trả giá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 59 của Luật này thì tiền đặt trước tối thiểu là năm phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm của khối băng tần đấu giá;
    b) Trường hợp trả giá, chấp nhận giá theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 59 của Luật này thì tiền đặt trước tối thiểu là năm phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm của một khối băng tần nhân với số lượng khối băng tần đăng ký mua;
    c) Trường hợp trả giá theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 59 của Luật này thì tiền đặt trước tối thiểu là năm phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm của khối băng tần có giá khởi điểm cao nhất trong số các khối băng tần đưa ra đấu giá nhân với số lượng khối băng tần đăng ký mua.
    ...

    Như vậy, mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 06/01/2026 tăng lên tối đa 50% giá khởi điểm, mức đặt cọc đấu giá đất tối thiểu là 10%.

    Mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 6/1/2026 theo Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP

    Mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 06/1/2026 theo Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP (Hình từ Internet)

    Quy định xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở như thế nào?

    Theo Điều 3 Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP, quy định việc xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở như sau:

    (1) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở vi phạm nghĩa vụ nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất dẫn đến quyết định công nhận kết quả đấu giá bị hủy, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm thì bị cấm tham gia đấu giá đối với quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở như sau:

    - Từ 02 năm đến 05 năm đối với trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền trúng đấu giá;

    - Từ 06 tháng đến 03 năm đối với trường hợp người trúng đấu giá nộp không đầy đủ tiền trúng đấu giá.

    (2) Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở cho cá nhân là cơ quan có thẩm quyền quyết định cấm tham gia đấu giá quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP.

    Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết định hủy quyết định công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền quyết định cấm tham gia đấu giá xem xét, ban hành quyết định cấm tham gia đấu giá đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP.

    (3) Nội dung của quyết định cấm tham gia đấu giá, việc gửi, đăng tải quyết định cấm tham gia đấu giá trên Cổng Đấu giá tài sản quốc gia, việc khiếu nại, khởi kiện và thời hiệu xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 25, Điều 26 Nghị định 172/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản 2016 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật Đấu giá tài sản sửa đổi 2024.

    (*) Trên đây là thông tin về "Mức tiền đặt cọc đấu giá đất từ 06/01/2026 theo Nghị quyết 66.11/2026/NQ-CP"

    saved-content
    unsaved-content
    1