Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đâu?

Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đâu? Đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp là những loại đất nào?

Nội dung chính

    Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đâu?

    Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ phong trào Duy Tân do các sĩ phu yêu nước khởi xướng, tiêu biểu là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng.

    Phong trào Duy Tân cổ vũ cải cách xã hội, chấn hưng dân trí, dân quyền và nâng cao kinh tế qua phát triển công thương nghiệp. Trong quá trình tuyên truyền, các sĩ phu đã vạch trần sự bóc lột nặng nề của thực dân Pháp và triều đình tay sai thông qua chính sách thuế khóa bất công.

    Từ đó, nhân dân Trung Kỳ, đặc biệt ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Thừa Thiên, đã nổi dậy phản đối việc tăng thuế, đòi giảm sưu, bãi bỏ thuế thân và các loại thuế vô lý khác.

    Dưới tác động mạnh mẽ của phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 mang tính chất rộng lớn, có tổ chức và thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân. Tuy cuối cùng phong trào chống thuế bị đàn áp nhưng đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình thức tỉnh dân tộc và đấu tranh chống thực dân.

    Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đâu?

    Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đâu? (Hình từ Internet)

    Đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp là những loại đất nào?

    Căn cứ Điều 2 Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 quy định đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp là đất dùng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm:

    - Đất trồng trọt;

    - Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản;

    - Đất rừng trồng.

    Đồng thời, căn cứ theo Điều 2 Nghị định 74-CP năm 1993 quy định như sau:

    Điều 2. Đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp gồm:
    1. Đất trồng trọt là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ.
    Đất trồng cây hàng năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng (từ khi trồng đến khi thu hoạch) không quá 365 ngày như lúa, ngô, rau, lạc... hoặc cây trồng một lần cho thu hoạch một vài năm nhưng không trải qua thời kỳ xây dựng cơ bản như mía, chuối, cói, gai, sả, dứa (thơm)..
    Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng trên 365 ngày, trồng một lần nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm và phải trải qua một thời kỳ xây dựng cơ bản mới cho thu hoạch như cao su, chè, cà phê, cam, quýt, nhãn, cọ, dừa...
    Đất trồng cỏ là đất đã có chủ sử dụng vào việc trồng cỏ để chăn nuôi gia súc.
    2. Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất đã có chủ sử dụng chuyên nuôi trồng thuỷ sản hoặc vừa nuôi trồng thuỷ sản vừa trồng trọt, nhưng về cơ bản không sử dụng vào các mục đích khác.
    3. Đất trồng là đất đã được trồng rừng và đã giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, chăm sóc và khai thác, không bao gồm đất đồi núi trọc.
    Trong trường hợp không sử dụng đất thuộc diện chịu thuế theo quy định tại điều này chủ sử dụng đất vẫn phải nộp thuế theo quy định của Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp.

    Theo đó, đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:

    - Đất trồng trọt gồm ba nhóm chính:

    + Đất trồng cây hàng năm: Là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng không quá 365 ngày, như: lúa, ngô, rau, lạc, đậu... hoặc cây trồng một lần, thu hoạch trong vài năm nhưng không có thời kỳ xây dựng cơ bản, ví dụ: mía, chuối, cói, gai, dứa (thơm)...

    + Đất trồng cây lâu năm: Là đất trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng trên 365 ngày, trồng một lần nhưng cho thu hoạch nhiều năm, phải trải qua thời kỳ xây dựng cơ bản, như: cao su, cà phê, chè, cam, quýt, nhãn, cọ, dừa...

    + Đất trồng cỏ: Là đất được sử dụng để trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc.

    - Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản: Là đất đã có chủ sử dụng chuyên nuôi trồng thủy sản, hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản và trồng trọt, nhưng không dùng vào mục đích khác.

    - Đất rừng trồng: Là đất đã được trồng rừng, được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, chăm sóc, khai thác, không bao gồm đất đồi núi trọc.

    Lưu ý, dù đất thuộc các nhóm trên chưa hoặc không được sử dụng, người sử dụng đất vẫn phải nộp thuế theo quy định của Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993.

    Trường hợp nào người dân được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp?

    Căn cứ Điều 19 Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 quy định như sau:

    Điều 19.
    1. Miễn thuế cho đất đồi, núi trọc dùng vào sản xuất nông, lâm nghiệp, đất trồng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
    2. Miễn thuế cho đất khai hoang không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này dùng vào sản xuất:
    - Trồng cây hàng năm: 5 năm; riêng đối với đất khai hoang ở miền núi, đầm lầy và lấn biển: 7 năm;
    - Trồng cây lâu năm: miễn thuế trong thời gian xây dựng cơ bản và cộng thêm 3 năm từ khi có thu hoạch. Riêng đối với đất ở miền núi, đầm lầy và lấn biển được cộng thêm 6 năm.
    - Đối với cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì chỉ nộp thuế khi khai thác theo quy định tại khoản 4, Điều 9 của Luật này.
    3. Miễn thuế cho đất trồng cây lâu năm chuyển sang trồng lại mới và đất trồng cây hàng năm chuyển sang trồng cây lâu năm, cây ăn quả: trong thời gian xây dựng cơ bản và cộng thêm 3 năm từ khi có thu hoạch.
    4. Chính phủ quy định việc giảm thuế, miễn thuế đối với đất khai hoang được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước.

    Như vậy, người dân được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong một số trường hợp như:

    - Sử dụng đất đồi, núi trọc vào sản xuất nông, lâm nghiệp;

    - Sử dụng đất khai hoang không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 vào việc trồng cây hàng năm trong thời hạn 05 năm;

    - Sử dụng đất trồng cây lâu năm chuyển sang trồng lại mới và đất trồng cây hàng năm chuyển sang trồng cây lâu năm, cây ăn quả: trong thời gian xây dựng cơ bản và cộng thêm 3 năm từ khi có thu hoạch;...

    Chuyên viên pháp lý Nguyễn Xuân An Giang
    saved-content
    unsaved-content
    70