Khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng là?
Nội dung chính
Khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng là?
Khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng là một trong những khu vực bảo tồn quan trọng của Việt Nam, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2004. Khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng bao gồm các vùng đất ngập nước rộng lớn trải dài trên ba tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình.
Đây là một khu vực có hệ sinh thái đa dạng, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn và bãi bồi ven biển, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.
Khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng không chỉ có ý nghĩa về mặt bảo vệ đa dạng sinh học mà còn mang lại nhiều giá trị về kinh tế, du lịch và nghiên cứu khoa học. Trong khu vực này, có những địa điểm quan trọng như Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải (Thái Bình) và Khu bảo tồn đất ngập nước Kim Sơn (Ninh Bình). Những khu vực này là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc biệt là các loài chim di cư quan trọng trên thế giới.
Ngoài giá trị sinh thái, khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua các hoạt động như đánh bắt thủy sản bền vững, du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học. Người dân sinh sống trong khu vực này đã và đang hưởng lợi từ các mô hình phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, giúp nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên.
Việc duy trì và bảo vệ khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng hiện nay. Các nỗ lực bảo tồn rừng ngập mặn, bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm và phát triển bền vững đang được chính quyền và người dân địa phương thực hiện nhằm giữ gìn khu vực này cho thế hệ tương lai.

Khu dự trữ sinh quyển ở đồng bằng sông Hồng là? (Hình từ Internet)
Quan điểm phát triển vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030 là gì?
Căn cứ tại tiểu mục 1 Mục II Điều 1 Quyết định 368/QĐ-TTg năm 2024 quy định về quan điểm phát triển vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030 như sau:
- Vùng đồng bằng sông Hồng là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, là động lực phát triển hàng đầu, có vai trò dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước để tạo đột phá phát triển nhanh, bền vững. Phát triển vùng phải phát huy vai trò và khai thác hiệu quả các thế mạnh về địa chính trị, địa kinh tế, điều kiện tự nhiên và các giá trị văn hoá, lịch sử; các hành lang, vành đai kinh tế, cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hệ thống đô thị; phải bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước giai đoạn 2021 - 2030, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, các chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực quốc gia có liên quan; bảo đảm sự tuân thủ, tính liên tục, kế thừa và sự phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch ngành quốc gia;
- Phát triển và cơ cấu lại kinh tế vùng phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của vùng; phải phát huy hiệu quả các trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu quốc gia để chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng công nghiệp và dịch vụ hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, xanh, tuần hoàn, bảo đảm vùng phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái dẫn đầu cả nước. Phát triển hiệu quả, bền vững kinh tế biển theo hướng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển;
- Phát triển kinh tế hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, giá trị lịch sử, nhất là văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Coi văn hóa và các giá trị truyền thống là nguồn lực phát triển hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị. Phát triển văn hóa, y tế, giáo dục - đào tạo bảo đảm chất lượng cao, hiện đại, tương đương với các quốc gia phát triển trong khu vực;
- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm tổ chức không gian hợp lý, hiệu quả, thống nhất, liên kết nội vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế, phát huy tối đa những lợi thế của vùng và tác động lan tỏa của các vùng động lực, cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế và các cảng quốc tế. Tổ chức không gian phát triển vùng phải gắn kết giữa khu vực đất liền với không gian biển; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả không gian ngầm, vùng biển, vùng trời. Chú trọng việc kết nối các hành lang kinh tế trong nước với các hành lang kinh tế của khu vực và quốc tế. Ưu tiên bố trí nguồn lực cho các công trình động lực, có tính lan toả, kết nối vùng;
- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất, nước, rừng, biển; tài nguyên số, không gian số; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và nâng cao chất lượng đa dạng sinh học, nhất là rừng ngập mặn; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế, các địa phương ngoại vùng trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực sông Hồng;
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh biên giới, vùng biển và hải đảo; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.
