Phương pháp xác định dân số đối với nhà chung cư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (cũ) ra sao?
Mua bán Nhà riêng tại Bình Thuận
Nội dung chính
Phương pháp xác định dân số đối với nhà chung cư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (cũ) ra sao?
Điều 5 Quy định kèm theo Quyết định 31/2023/QĐ-UBND về phương pháp xác định dân số đối với nhà chung cư, nhà chung cư hỗn hợp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận như sau:
(1) Trong giai đoạn lập quy hoạch, chưa đủ cơ sở tính toán chi tiết diện tích sử dụng căn hộ, cơ cấu chức năng căn hộ, dân số nhà chung cư, nhà chung cư hỗn hợp được xác định theo bình quân số liệu thống kê thực tế toàn tỉnh về người/căn hộ hoặc xác định theo chỉ tiêu bình quân m2 sàn/người đã được cấp có thẩm quyền công bố (hoặc phê duyệt) tại thời điểm lập quy hoạch.
(2) Trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng, tổng mặt bằng, phương án kiến trúc công trình, dân số nhà chung cư, nhà chung cư hỗn hợp được xác định theo cơ cấu phòng ở và diện tích sàn sử dụng tương ứng của căn hộ, cụ thể:
- Căn hộ 01 phòng ở: Diện tích sử dụng căn hộ từ 25 m2 đến 45 m2: Tính 01 người.
- Căn hộ 02 phòng ở: Trường hợp diện tích sử dụng căn hộ từ trên 45 m2 đến 70 m2: Tính 02 người. Trường hợp diện tích sử dụng căn hộ từ trên 70 m2 đến 100 m2: Tính 03 người.
- Căn hộ từ 03 phòng ở trở lên: Trường hợp diện tích sử dụng căn hộ từ trên 100 m2 đến 125 m2: Tính 04 người. Trường hợp diện tích sử dụng căn hộ từ trên 125 m2 đến dưới 180 m2: Tính 05 người. Trường hợp diện tích sử dụng căn hộ từ 180 m2 trở lên: Tính 06 người.
- Trường hợp phương án thiết kế không thống nhất giữa diện tích sàn sử dụng và cơ cấu phòng ở quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 5 Quy định kèm theo Quyết định 31/2023/QĐ-UBND thì việc tính dân số nhà chung cư, nhà chung cư hỗn hợp được xác định theo chỉ tiêu diện tích sàn sử dụng tương ứng

Phương pháp xác định dân số đối với nhà chung cư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (cũ) ra sao? (Hình từ Internet)
Trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời đối với nhà chung cư có nguy cơ sập đổ thuộc về ai?
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 27 Nghị định 98/2024/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 27. Trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời
1. Trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với nhà chung cư quy định tại điểm b khoản 2 Điều 59 của Luật Nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời;
b) Đối với nhà chung cư quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 59 của Luật Nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời cho đến khi lựa chọn được chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư. Sau khi lựa chọn được chủ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời trong thời gian thực hiện dự án; nếu đã có chỗ ở tạm thời thì chủ đầu tư chi trả kinh phí bố trí chỗ ở tạm thời;
c) Đối với nhà chung cư quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 59 của Luật Nhà ở thì chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời.
2. Đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh hoặc cơ quan được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp đề xuất phương án bố trí chỗ ở tạm thời và dự kiến kinh phí từ nguồn ngân sách chi thường xuyên của địa phương để bố trí chỗ ở tạm thời.
Kinh phí bố trí chỗ ở tạm thời được chủ đầu tư hoàn trả vào ngân sách nhà nước sau khi nghiệm thu, hoàn thành đưa nhà ở vào sử dụng đối với trường hợp chủ đầu tư thực hiện dự án không bằng nguồn vốn đầu tư công.
Bên cạnh đó, tại điểm c khoản 2 Điều 59 Luật Nhà ở 2023 quy định:
Điều 59 Nhà chung cư thuộc trường hợp phải phá dỡ
[...]
2. Các trường hợp phải phá dỡ nhà chung cư bao gồm:
[...]
c) Nhà chung cư có các kết cấu chịu lực chính của công trình xuất hiện tình trạng nguy hiểm tổng thể, có nguy cơ sập đổ, không đáp ứng điều kiện tiếp tục sử dụng, cần phải di dời khẩn cấp chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư;
Như vậy, nhà chung cư có nguy cơ sập đổ không đáp ứng điều kiện tiếp tục sử dụng, cần phải di dời khẩn cấp chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời cho đến khi lựa chọn được chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư. Sau khi lựa chọn được chủ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời trong thời gian thực hiện dự án; nếu đã có chỗ ở tạm thời thì chủ đầu tư chi trả kinh phí bố trí chỗ ở tạm thời;
Cạnh đó, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh hoặc cơ quan được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp đề xuất phương án bố trí chỗ ở tạm thời và dự kiến kinh phí từ nguồn ngân sách chi thường xuyên của địa phương để bố trí chỗ ở tạm thời.
Kinh phí bố trí chỗ ở tạm thời được chủ đầu tư hoàn trả vào ngân sách nhà nước sau khi nghiệm thu, hoàn thành đưa nhà ở vào sử dụng đối với trường hợp chủ đầu tư thực hiện dự án không bằng nguồn vốn đầu tư công.
Trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời được thực hiện như thế nào?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 98/2024/NĐ-CP, quy định về trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời như sau:
Theo đó, trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời được thực hiện theo quy định sau đây:
- Đối với nhà chung cư quy định tại điểm b khoản 2 Điều 59 của Luật Nhà ở 2023 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời;
- Đối với nhà chung cư quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 59 của Luật Nhà ở 2023 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời cho đến khi lựa chọn được chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư.
Sau khi lựa chọn được chủ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời trong thời gian thực hiện dự án; nếu đã có chỗ ở tạm thời thì chủ đầu tư chi trả kinh phí bố trí chỗ ở tạm thời;
- Đối với nhà chung cư quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 59 của Luật Nhà ở 2023 thì chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư có trách nhiệm bố trí chỗ ở tạm thời.
