Người đang thi hành án phạt tù có bị cấm mua bán nhà ở không?
Mua bán Nhà riêng trên toàn quốc
Nội dung chính
Người đang thi hành án phạt tù có bị cấm mua bán nhà ở không?
Căn cứ khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.
Căn cứ Điều 44 Bộ luật Hình sự 2015 quy định như sau:
Điều 44. Tước một số quyền công dân
1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:
a) Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước;
b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.
Như vậy, nếu sau khi phải vào tù thi hành án phạt tù thì phạm nhân vẫn được đảm bảo quyền có tài sản và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản thuộc sở hữu của mình trong đó có việc mua bán nhà ở.

Dùng nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình cho bao nhiêu người đánh bạc thì bị phạt tù? (Hình từ Internet)
Vợ có được quyền bán nhà ở khi chồng đang thi hành án phạt tù không?
Việc người vợ có quyền bán nhà khi chồng đang thi hành án phạt tù cần căn cứ vào quy định của pháp luật như sau:
(1) Trường hợp nhà ở là tài sản riêng của người vợ:
Căn cứ Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định như sau:
Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Như vậy, nếu nhà ở là tài sản riêng của người vợ, người vợ có toàn quyền định đoạt, bao gồm cả quyền bán nhà ở mà không cần sự đồng ý của chồng.
(2) Trường hợp nhà ở là tài sản chung của vợ chồng:
Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định như sau:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Theo đó, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ chồng tạo lập, thu nhập chung, hoặc được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân.
Đồng thời, căn cứ Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
- Bất động sản;
- Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
- Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Như vậy, nếu nhà ở thuộc tài sản chung, việc bán nhà ở cần có sự đồng ý của chồng thông qua văn bản chấp thuận hoặc hợp đồng ủy quyền hợp pháp.
Chồng đang thi hành án phạt tù thì vợ thực hiện công chứng hợp đồng ủy quyền như thế nào?
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 46 Luật Công chứng 2024 quy định như sau:
Điều 46. Địa điểm công chứng
1. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp sau đây:
a) Lập di chúc tại chỗ ở theo quy định của Bộ luật Dân sự;
b) Không thể đi lại được vì lý do sức khỏe; đang điều trị nội trú hoặc bị cách ly theo chỉ định của cơ sở y tế;
c) Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
d) Có lý do chính đáng khác theo quy định của Chính phủ.
Như vậy, người vợ có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
Cụ thể, người vợ và đại diện của tổ chức hành nghề công chứng sẽ đến trại giam nơi chồng đang thi hành án phạt tù để thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền. Sau khi hợp đồng ủy quyền được công chứng, người vợ sẽ có quyền thay mặt chồng thực hiện các thủ tục bán nhà ở theo quy định của pháp luật.
