Dự án bất động sản có phải phù hợp với pháp luật về quy hoạch đô thị không?

Dự án bất động sản có phải phù hợp với pháp luật về quy hoạch đô thị không?

Nội dung chính

    Dự án bất động sản có phải phù hợp với pháp luật về quy hoạch đô thị không?

    Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định như sau:

    Điều 11. Yêu cầu đối với dự án bất động sản
    1. Dự án bất động sản phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
    2. Dự án bất động sản phải phù hợp với quy hoạch được phê duyệt theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về quy hoạch đô thị.
    3. Trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng dự án bất động sản thực hiện theo quy định của pháp luật về: quy hoạch, đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở và pháp luật có liên quan.
    4. Tuân thủ giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải cấp giấy phép xây dựng.
    5. Dự án bất động sản phải được đầu tư xây dựng theo tiến độ, quy hoạch, thiết kế và trong thời hạn thực hiện dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
    6. Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở, ngoài việc đáp ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này thì còn phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật về nhà ở.

    Theo đó, dự án bất động sản phải phù hợp với pháp luật về quy hoạch đô thị.

    Dự án bất động sản có phải phù hợp với pháp luật về quy hoạch đô thị không?

    Dự án bất động sản có phải phù hợp với pháp luật về quy hoạch đô thị không? (Hình từ Internet)

    Mật độ mạng lưới giao thông công cộng có phụ thuộc vào cơ cấu quy hoạch đô thị không?

    Căn cứ tiết 2.9.3.3 điểm 2.9.9 khoản 2.9 Điều 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng ban hành kèm theo Thông tư 01/2021/TT-BXD quy định như sau:

    2. QUY ĐỊNH KỸ THUẬT
    [...]
    2.9 Yêu cầu về giao thông
    [...]
    2.9.3.2 Quảng trường giao thông, chỗ giao nhau giữa các đường đô thị
    - Quy định về tổ chức quảng trường giao thông, chỗ giao nhau của đường đô thị phải tuân thủ QCVN 07-4:2016/BXD;
    - Bán kính đường cong của bó vỉa tại các vị trí giao nhau của đường phố tối thiểu phải đảm bảo: tại quảng trường giao thông và đường phố cấp đô thị ≥ 15 m; đường phố cấp khu vực ≥ 12 m; đường phố cấp nội bộ ≥ 8 m;
    - Tại các nút giao của các tuyến đường mở mới trong khu vực đô thị hiện hữu trong trường hợp không thể đảm bảo kích thước vạt góc, cho phép sử dụng các biện pháp kỹ thuật khác thay thế như: dùng gờ giảm tốc, dải phân cách, biển báo, đèn tín hiệu...
    2.9.3.3 Mạng lưới giao thông vận tải hành khách công cộng.
    - Đối với những đô thị từ loại III trở lên phải tổ chức mạng lưới giao thông vận tải hành khách công cộng. Các loại hình giao thông công cộng gồm có: đường sắt đô thị, xe buýt, tàu thủy (nếu có);
    - Khoảng cách giữa các tuyến giao thông công cộng tối thiểu là 600 m và tối đa là 1 200 m (ở khu trung tâm đô thị tối thiểu là 400 m). Khoảng cách đi bộ từ nơi ở, nơi làm việc, nơi mua sắm, vui chơi giải trí... đến ga, bến công cộng tối đa là 500 m;
    - Mật độ mạng lưới giao thông công cộng phụ thuộc vào cơ cấu quy hoạch đô thị, tối thiểu phải đạt 2 km/km2 đất xây dựng đô thị. Khoảng cách giữa các bến giao thông công cộng trong đô thị được quy định như sau: đối với bến xe buýt, tàu điện tối đa là 600 m; đối với bến xe buýt nhanh (BRT), đường sắt đô thị (tàu điện ngầm; tàu điện mặt đất hoặc trên cao) tối thiểu là 800 m;
    - Tại chỗ giao nhau giữa các tuyến đường có phương tiện giao thông công cộng, phải bố trí trạm chuyển xe từ phương tiện này sang phương tiện khác với chiều dài đi bộ < 200 m;
    - Bến xe buýt và tàu điện trên đường chính phải bố trí cách chỗ giao nhau ít nhất 20 m. Chiều dài bến xe một tuyến, chạy một hướng ít nhất 20 m, trên tuyến có nhiều tuyến hoặc nhiều hướng phải tính toán cụ thể, nhưng không ngắn hơn 30 m. Chiều rộng bến ít nhất 3 m.
    [...]

    Như vậy, mật độ mạng lưới giao thông công cộng phụ thuộc vào cơ cấu quy hoạch đô thị và phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu là 2 km/km² đất xây dựng đô thị.

    Chuyên viên pháp lý Nguyễn Xuân An Giang
    saved-content
    unsaved-content
    381