Luật Đất đai 2024

Nghị định 222-HĐBT năm 1991 Quy định về cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu 222-HĐBT
Cơ quan ban hành Hội đồng Bộ trưởng
Ngày ban hành 23/07/1991
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Doanh nghiệp
Loại văn bản Nghị định
Người ký Võ Văn Kiệt
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 222-HĐBT

Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 1991

 

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ  222-HĐBT NGÀY 23-7-1991 BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY 

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG 

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Luật Công ty đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
Để thực hiện Luật Công ty,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều1. Nay ban hành Nghị định này kèm theo Quy định về cụ thể hoá một số điều trong Luật Công ty.

Điều 2. Nghị định này thi hành từ ngày ban hành, những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 3. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các cấp chịu trách nhiệm thực hiện Nghị định này.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

QUY ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
(Ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng)

Điều 1. Vốn pháp định đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần trong từng ngành, nghề nói tại điều 3 Luật Công ty được quy định trong danh mục ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 2. Các Công ty (Xí nghiệp liên doanh) đã được thành lập trước đây theo Nghị định số 28-HĐBT ngày 22-3-1989 của Hội đồng Bộ trưởng, nếu có đủ các điều kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn hay Công ty cổ phần đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Công ty.

Điều 3.

Những đối tượng sau đây không được thành lập hoặc tham gia quản lý Công ty:

- Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về công chức Nhà nước số 169-HĐBT ngày 25-5-1991.

- Những người đang giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền các cấp theo chế độ bầu cử.

- Cán bộ quản lý các Liên hiệp xí nghiệp và xí nghiệp quốc doanh.

- Sĩ quan tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.

Điều 4.

Công ty muốn kinh doanh một số ngành nghề do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo quy định tại điều 11, Luật Công ty, phải làm đơn gửi đến Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định. Căn cứ quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban Nhân dân tỉnh) cấp giấy phép thành lập Công ty. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, trả lời đơn xin phép thành lập Công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét và cấp giấy phép thành lập Công ty trong những trường hợp sau đây:

- Sản xuất thuốc chữa bệnh; phân hoá học; thuốc trừ sâu, trừ mối; sản xuất các loại pháo.

- Sản xuất và cung ứng điện (không thuộc mạng lưới điện quốc gia).

- Dịch vụ truyền thanh, truyền hình, xuất bản trong phạm vi địa phương.

Khi xem xét cấp giấy phép thành lập Công ty theo thẩm quyền của mình, Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải trao đổi với Bộ quản lý ngành để thống nhất ý kiến. Trong trường hợp không thống nhất ý kiến thì báo cáo để Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.

Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.

Điều 6. Công ty kinh doanh các ngành, nghề dưới đây được Nhà nước khuyến khích theo quy định tại điều 7:

1. Sản xuất các sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và đời sống hàng xuất khẩu:

- Sản xuất lương thực, thực phẩm trên những địa bàn được quy hoạch làm hàng xuất khẩu.

- Sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu (kể cả thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế).

- Sản xuất hàng dệt, may mặc, da giầy, thủ công, mỹ nghệ xuất khẩu là chủ yếu.

- Khai thác, chế biến, nông, lâm, thuỷ, hải sản xuất khẩu.

- Sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản phẩm.

- Sản xuất các loại hoá chất cơ bản; phân hoá học; thuốc trừ sâu, trừ mối.

- Trồng rừng và khai thác các vùng đất trống, đồi trọc, mặt nước để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.

2. Sản xuất và sửa chữa các phương tiện vận tải và vận tải:

- Đóng mới phương tiện vận tải chuyên dùng, đầu máy, toa xe thay thế phương tiện nhập khẩu.

- Sửa chữa các phương tiện vận tải chuyên dùng.

- Vận tải hàng hoá phục vụ các tỉnh miền núi, hải đảo.

3. Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ trên cả nước hoặc trên địa bàn lãnh thổ.

Điều 7. Công ty kinh doanh các ngành, nghề nói tại điều 6 được Nhà nước khuyến khích bằng các chính sách:

- Ưu đãi trong việc xem xét giải quyết đất xây dựng cơ sở sản xuất mới hoặc mở rộng cơ sở sản xuất hiện có, theo Luật đất đai hiện hành.

- Ưu tiên trong việc vay vốn của Ngân hàng đầu tư để xây dựng cơ sở sản xuất mới hoặc mở rộng cở sở sản xuất hiện có và mua sắm thêm thiết bị cần thiết cho sản xuất.

- Miễn thuế, giảm thuế theo quy định trong các Luật và Pháp lệnh thuế hiện hành.

- Được tạo điều kiện thuận lợi trong việc xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu các sản phẩm do cơ sở mình sản xuất ; trong việc hợp tác liên doanh với nước ngoài theo Luật đầu tư; trong việc ra nước ngoài để tiếp cận thị trường, nghiên cứu học tập công nghệ mới.

Công ty kinh doanh các ngành, nghề được khuyến khích nếu muốn hưởng các khuyến khích này phải làm đơn gửi đến Uỷ ban Nhân dân tỉnh để xem xét, quyết định.

Điều 8. Công ty kinh doanh các ngành, nghề dưới đây phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện do các Bộ quản lý ngành và Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định:

1. Các ngành, nghề do các Bộ quy định các điều kiện cụ thể:

- Năng lượng,

- Một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng,

- Luyện kim,

- Sản xuất, lắp ráp điện tử,

- Sản xuất, lắp ráp động cơ điện, biến thế điện, dụng cụ đo điện,

- Sản xuất, lắp ráp, đóng mới các phương tiện vận tải cơ giới và thủ công,

- Sản xuất các sản phẩm nhựa và cao-su,

- Sản xuất hoá chất cơ bản; phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, trừ mối,

- Sản xuất, chế biến các loại dược phẩm, các loại thuốc chữa bệnh (cả đông và tây y), các loại mỹ phẩm có ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân,

- Chế biến lương thực, thực phẩm, nước giải khát,

- Khai thác, chế biến hải sản,

- Khai thác lâm sản.

- Vận tải liên tỉnh, vận tải quá cảnh, vận tải thuỷ.

2. Các ngành, nghề do Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định các điều kiện cụ thể cho phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương:

- Sản xuất gạch, ngói nung,

- Sử dụng lò hơi, máy búa, thuốc nổ, khí nén, các chất (không thuộc khoản 1 điều 8) có khí độc thoát ra.

- Sử dụng nguồn nước và xử lý các chất thải công nghiệp.

Điều 9. Các Bộ quản lý ngành, các Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải rà soát lại ngay các quy định đã ban hành để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, hoàn chỉnh các điều kiện cụ thể và hướng dẫn, tổ chức kiểm tra việc thực hiện. Công ty nào không bảo đảm các điều kiện cụ thể đã ban hành thì Bộ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh có quyền yêu cầu Công ty phải chấn chỉnh, tổ chức lại, hoặc tạm đình chỉ hoạt động của Công ty cho đến khi bảo đảm các điều kiện cụ thể đã quy định hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Điều 10. Các Công ty đã thành lập trước ngày Luật Công ty có hiệu lực đều phải làm lại các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh và đăng báo theo Luật định và theo các quy định của Nghị định này.

DANH MỤC

VỐN PHÁP ĐỊNH ĐỐI VỚI TỪNG NGÀNH, NGHỀ
(Ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều quy định trong Luật công ty)

(Đơn vị tính: triệu đồng Việt Nam tính theo thời giá đầu năm 1991. Nếu giá cả biến động trên 50% thì Hội đồng Bộ trưởng sẽ điều chỉnh cho phù hợp)

------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngành nghề Công ty Công ty

trách nhiệm cổ phần

hữu hạn

------------------------------------------------------------------------------------------------

1. Khai thác một số lĩnh vực thuộc ngành

khai khoáng 1300 1500

2. Điện:

- Thuỷ điện 300 500

- Nhiệt điện 200 300

- Mạng lưới điện 150 200

- Cung ứng điện 100 150

3. Luyện kim:

- Luyện, cán, kéo kim loại đen 1200 1500

- Luyện, cán, kéo kim loại mầu, kim

loại quý 1300 1500

4. Cơ khí:

- Sản xuất, lắp ráp máy móc, thiết bị,

công cụ 1000 1000

- Sản xuất sản phẩm cơ khí tiêu dùng 500 500

- Sửa chữa sản phẩm cơ khí 300 300

5. Điện tử:

- Sản xuất, lắp ráp sản phẩm điện tử 300 400

- Sửa chữa sản phẩm điện tử 200 200

6. Hoá chất:

- Sản xuất sản phẩm hoá chất, hoá chất

cơ bản, phân hoá học, thuốc trừ sâu,

thuốc trừ mối 1200 1500

- Sản xuất thuốc chữa bệnh 150 200

7. Dệt, nhuộm:

- Chế biến sợi, len 300 500

- Dệt thủ công, bán cơ khí 300 500

- Nhuộm vải, sợi, len, dạ... 300 500

- Dệt máy, dệt kim, dệt len 300 500

8. May:

- May thông thường 300 500

- May công nghiệp 300 500

9. Hàng tiêu dùng:

- Sản xuất nguyên liệu da, vải giả da

và sản phẩm bằng da, vải giả da. 200 300

- Sản xuất nguyên liệu cao-su, nhựa và

sản phẩm bằng cao su, nhựa. 200 300

- Sản xuất hàng gốm, sứ, thuỷ tinh 150 200

- Sản xuất hàng mây, tre, đay, cói... 200 300

- Sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ,

mỹ phẩm 200 300

- Sản xuất nguyên liệu giấy, sản phẩm

giấy các-tông 200 300

- Sản xuất dụng cụ y tế, thể dục, thể thao,

nhạc cụ đồ chơi trẻ em 150 200

10. Chế biến lương thực, thực phẩm:

- Chế biến lương thực 50 150

- Chế biến thực phẩm 70 200

11. Nông nghiệp:

- Trồng trọt 50 100

- Chăn nuôi 50 50

12. Lâm nghiệp:

- Trồng rừng 50 100

- Khai thác lâm sản 70 200

- Chế biến lâm sản, sản xuất đồ gỗ 50 200

13. Thuỷ, hải sản:

- Khai thác thuỷ, hải sản 400 1000

- Chế biến thuỷ, hải sản 50 200

- Nuôi trồng thuỷ, hải sản 50 150

14. Xây dựng:

- Xây dựng công nghiệp 300 1000

- Xây dựng dân dụng 200 600

- Sửa chữa nhà ở và trang trí nội thất 160 400

- Sản xuất vật liệu xây dựng 100 500

15. Vận tải: (đường bộ, đường thuỷ)

- Vận tải hàng hoá 300 800

- Vận tải hành khách 200 500

16. Thương nghiệp:

- Buôn bán hàng tư liệu sản xuất 150 500

- Buôn bán hàng tư liệu tiêu dùng,

thuốc chữa bệnh 100 300

- Buôn bán hàng lương thực, thực phẩm. 50 200

- Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá 50 200

- Các cửa hàng dịch vụ 50 200

17. Các cửa hàng ăn, giải khát 50 200

18. Khách sạn 250 500

46
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị định 222-HĐBT năm 1991 Quy định về cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Tải văn bản gốc Nghị định 222-HĐBT năm 1991 Quy định về cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Chưa có văn bản song ngữ
Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị định 222-HĐBT năm 1991 Quy định về cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Số hiệu: 222-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Lĩnh vực, ngành: Doanh nghiệp
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 23/07/1991
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điều này bị thay thế bởi Khoản 2 Điều 2 Nghị định 361-HĐBT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 01/10/1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điểm trong quy định cụ thể hoá Luật công ty, ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23 tháng 7 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng:
...
2. Thay điều 4 cũ bằng điều 4 mới như sau:

2a. Các sáng lập viên muốn thành lập Công ty trong những ngành, nghề do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo điều 11 Luật công ty, phải gửi hồ sơ xin phép thành lập đến Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) nơi dự định đặt trụ sở của công ty. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh xem xét, có ý kiến và gửi hồ sơ lên bộ quản lý ngành. Trường hợp sáng lập viên xin phép lập công ty kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau thì căn cứ vào ngành kinh doanh nào là chính, có vốn pháp định cao nhất, hồ sơ được gửi lên Bộ quản lý ngành đó. Bộ trưởng Bộ quản lý ngành xem xét, có ý kiến trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định và thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh để căn cứ vào quyết định đó, Uỷ ban Nhân dân tỉnh cấp hoặc không cấp giấy phép thành lập công ty cho đương sự.

2b. Thủ tục thành lập công ty kinh doanh tiền tệ thực hiện theo quy định về hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính trong pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động; Công ty phải đăng ký kinh doanh tại trọng tài kinh tế theo Luật công ty.

2c. Những trường hợp sau đây, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh xem xét, quyết định hoặc không cấp giấy phép thành lập Công ty sau khi có ý kiến của bộ quản lý ngành:

Sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc trừ sâu, trừ mối và sản xuất các loại pháo;

Sản xuất và cung ứng điện (không thuộc màng lưới điện quốc gia);

Dịch vụ cho truyền thanh, truyền hình trong phạm vi địa phương.

2d. Việc cấp giấy phép thành lập công ty trong những ngành, nghề không thuộc phạm vi quy định tại điều 4 mới và điều 11 Luật công ty thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Nhân dân tỉnh nơi công ty đặt trụ sở chính. Khi xét cấp giấy phép Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải tuân thủ quy định của Hội đồng Bộ trưởng và của Bộ về các điều kiện thành lập Công ty trong từng ngành nghề (theo khoản 1, điều 8 của quy định ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT). Trường hợp cần giải quyết khác với quy định của Bộ quản lý ngành thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải trao đổi ý kiến và có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ quản lý ngành mới được cấp giấy phép thành lập công ty. Nếu không thống nhất ý kiến thì Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.

2đ. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh uỷ quyền cho Sở quản lý ngành tiếp nhận hồ sơ xin phép thành lập công ty để trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xét.

Trường hợp đương sự xin phép thành lập công ty có kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau thì sở quản lý ngành sản xuất kinh doanh chính hoặc có vốn pháp định cao nhất tiếp nhận hồ sơ.

Công ty kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau thì vốn pháp định làm căn cứ để xem xét cấp giấy phép thành lập công ty là tổng số vốn pháp định của các ngành, nghề mà công ty xin phép kinh doanh.

3e. Khi muốn thay đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh, công ty phải xin phép cơ quan đã cấp giấy phép thành lập và khai báo lại với cơ quan trọng tài kinh tế. Trường hợp thay đổi, bổ sung ngành, nghề nêu tại điều 11 Luật công ty thì phải tuân theo quy định tại điều 4 mới.

Xem nội dung VB
Điều 4.

Công ty muốn kinh doanh một số ngành nghề do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo quy định tại điều 11, Luật Công ty, phải làm đơn gửi đến Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định. Căn cứ quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban Nhân dân tỉnh) cấp giấy phép thành lập Công ty. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, trả lời đơn xin phép thành lập Công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét và cấp giấy phép thành lập Công ty trong những trường hợp sau đây:

- Sản xuất thuốc chữa bệnh; phân hoá học; thuốc trừ sâu, trừ mối; sản xuất các loại pháo.

- Sản xuất và cung ứng điện (không thuộc mạng lưới điện quốc gia).

- Dịch vụ truyền thanh, truyền hình, xuất bản trong phạm vi địa phương.

Khi xem xét cấp giấy phép thành lập Công ty theo thẩm quyền của mình, Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải trao đổi với Bộ quản lý ngành để thống nhất ý kiến. Trong trường hợp không thống nhất ý kiến thì báo cáo để Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.
Thủ tục xin và cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty trong những ngành nghề quy định tại Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 141-PLDS/KT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 18/03/1992 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Điều 1. Thông tư này hướng dẫn thủ tục xin và cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty trong những ngành nghề phải được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo Điều 5 của Luật doanh nghiệp tư nhân và Điều 11 Luật công ty. Những ngành nghề đó là:
1- Sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc độc, hoá chất độc;
2- Khai thác các loại khoáng sản quý;
3- Sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn;
4- Sản xuất các loại phương tiện phát sóng, truyền tin, dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản;
5- Vận tải viễn dương và vận tải hàng không;
6- Chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu;
7- Du lịch quốc tế.
Điều 2. Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, các sáng lập viên muốn thành lập công ty để kinh doanh các ngành, nghề nói tại Điều 1 Thông tư này, phải gửi hai bộ hồ sơ xin phép thành lập đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương nơi dự định đặt trụ sở doanh nghiệp.
Điều 3. Hồ sơ xin thành lập doanh nghiệp tư nhân bao gồm:
1- Đơn xin phép thành lập;
2- Bản giải trình phương án kinh doanh;
3- Giấy chứng nhận của Ngân hàng về phần vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, mà đương sự có trong tài khoản ở Ngân hàng;
4- Giấy chứng nhận của cơ quan công chứng về trị giá tài sản bằng hiện vật thuộc sở hữu của người xin thành lập doanh nghiệp để xác định vốn đầu tư ban đầu.
5- Bằng hoặc giấy chứng nhận trình độ nghề nghiệp mà pháp luật đòi hỏi đối với những ngành nghề nhất định.
Đơn xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân phải ghi rõ:
1- Họ, tên, tuổi, nghề nghiệp và địa chỉ thường trú của chủ doanh nghiệp;
2- Trụ sở dự định của doanh nghiệp; nếu có nhiều trụ sở thì phải ghi rõ nơi đóng trụ sở chính (là nơi doanh nghiệp có văn phòng điều hành và giao dịch pháp lý).
3- Mục tiêu, ngành nghề kinh doanh cụ thể; nếu kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau thì phải ghi rõ từng ngành nghề kinh doanh;
4- Vốn đầu tư ban đầu, ghi rõ phần vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và tài sản bằng hiện vật;
5- Biện pháp bảo vệ môi trường như: chống ô nhiễm, xử lý chất thải...
Đơn phải có dấu xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường về địa chỉ thường trú của đương sự.
Điều 4. Hồ sơ xin phép thành lập công ty bao gồm:
1- Đơn xin phép thành lập công ty;
2- Dự thảo điều lệ công ty;
3- Bản giải trình phương án kinh doanh;
4- Giấy chứng nhận về tài sản của các thành viên góp vào công ty;
5- Nếu thành viên tham gia công ty là các doanh nghiệp Nhà nước thì phải có quyết định cho phép góp vốn của cơ quan quản lý cấp trên và số vốn góp tính thành tiền.
6- Bằng hoặc giấy chứng nhận về trình độ nghề nghiệp của người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty mà pháp luật đòi hỏi phải có đối với những ngành nghề nhất định.
Điều 5. Đơn xin thành lập công ty phải ghi rõ:
1- Họ, tên, tuổi, địa chỉ thường trú của cac sáng lập viên; nếu sáng lập viên là tổ chức thì phải ghi rõ tên, nơi đóng trụ sở và cơ quan ra quyết định thành lập tổ chức đó.
2- Loại hình, tên gọi, trụ sở dự định của công ty (là nơi công ty có Văn phòng điều hành và giao dịch pháp lý).
3- Mục tiêu, ngành nghề kinh doanh cụ thể; nếu kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau thì phải ghi rõ từng ngành nghề kinh doanh;
4- Vốn điều lệ, ghi rõ phần vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và vốn bằng hiện vật và cách thức góp vốn;
5- Biện pháp bảo vệ môi trường;
6- Chương trình xây dựng công ty.
Đơn phải có chữ ký của tất cả các sáng lập viên; nếu sáng lập viên là tổ chức thì phải có chữ ký của người đại diện tổ chức đó. Các sáng lập viên uỷ quyền cho một sáng lập viên thay mặt mình gửi hồ sơ đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi dự định mở trụ sở.
Điều 6. Về giấy chứng nhận tài sản nói tại Điều 74 điểm 4 được quy định như sau:
1- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn là giấy chứng nhận của Ngân hàng (đối với vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, hoặc vàng, có trong tài khoản gửi tại Ngân hàng) và giấy chứng nhận của cơ quan công chứng (đối với tài sản bằng hiện vật) về giá trị tài sản tương ứng của mỗi sáng lập viên dự định sẽ góp vào công ty.
2- Đối với công ty cổ phần, là giấy chứng nhận của Ngân hàng (đối với vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc vàng có trong tài khoản gửi tại Ngân hàng và giấy chứng nhận của cơ quan công chứng (đối với tài sản bằng hiện vật) về giá trị tài sản tương ứng với số cổ phiếu mà mỗi sáng lập viên đã đăng ký mua.
Điều 7.
1- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương tổ chức việc tiếp nhận và xem xét hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty do các đương sự gửi đến.
2- Sở quản lý ngành trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh là cơ quan giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc tiếp nhận và xem xét hồ sơ, có trách nhiệm phát biểu ý kiến bằng văn bản với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trong những vấn đề liên quan đến thẩm quyền quản lý của ngành mình.
3- Trong thời hạn 10 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân) và 20 ngày (đối với công ty) kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải có ý kiến bằng văn bản ghi rõ ý kiến đề nghị cho phép hay không cho phép thành lập doanh nghiệp kèm vào hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty và gửi đến Bộ quản lý ngành có liên quan.
Điều 8. Trong thời hạn 10 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc 20 ngày (đối với công ty) kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ quản lý ngành tổ chức việc tiếp nhận và xem xét hồ sơ, có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến thẩm quyền quản lý của ngành mình, trong đó ghi rõ ý kiến đề nghị cho phép hay không cho phép thành lập doanh nghiệp đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty và trình lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Điều 9.
1- Căn cứ vào hồ sơ của đương sự do Bộ quản lý ngành mình lên và trên cơ sở ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Bộ trưởng Bộ quản lý ngành kèm theo, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét và quyết định cho phép hoặc từ chối cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trong thời hạn 10 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc 20 ngày (đối với công ty) kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
2- Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc cho phép hoặc không cho phép thành lập doanh nghiệp được gửi ngay cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi tiếp nhận hồ sơ ban đầu.
3- Trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ quản lý ngành có liên quan xem xét và quyết định cho phép hoặc từ chối cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty, thì trong thời hạn 20 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc 10 ngày (đối với công ty) kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ quản lý ngành phải ra quyết định và gửi quyết định cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân nơi tiếp nhận hồ sơ ban đầu.
Điều 10. Căn cứ vào quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hoặc Bộ trưởng Bộ quản lý ngành nói tại Điều 9, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương phải cấp hoặc trả lời từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cho đương sự. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải giải thích rõ lý do.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 4.

Công ty muốn kinh doanh một số ngành nghề do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo quy định tại điều 11, Luật Công ty, phải làm đơn gửi đến Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định. Căn cứ quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban Nhân dân tỉnh) cấp giấy phép thành lập Công ty. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, trả lời đơn xin phép thành lập Công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét và cấp giấy phép thành lập Công ty trong những trường hợp sau đây:

- Sản xuất thuốc chữa bệnh; phân hoá học; thuốc trừ sâu, trừ mối; sản xuất các loại pháo.

- Sản xuất và cung ứng điện (không thuộc mạng lưới điện quốc gia).

- Dịch vụ truyền thanh, truyền hình, xuất bản trong phạm vi địa phương.

Khi xem xét cấp giấy phép thành lập Công ty theo thẩm quyền của mình, Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải trao đổi với Bộ quản lý ngành để thống nhất ý kiến. Trong trường hợp không thống nhất ý kiến thì báo cáo để Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.
Điều này bị thay thế bởi Khoản 2 Điều 2 Nghị định 361-HĐBT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 01/10/1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Thủ tục xin và cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty trong những ngành nghề quy định tại Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 141-PLDS/KT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 18/03/1992 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Điều này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Nghị định 361-HĐBT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 01/10/1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điểm trong quy định cụ thể hoá Luật công ty, ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23 tháng 7 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng:

1. Bổ sung điều 3:

Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, những người đang giữ chức vụ trong bộ máy chính quyền theo chế độ bầu cử; cán bộ quản lý các liên hiệp xí nghiệp và xí nghiệp quốc doanh, sĩ quan quân đội và công an tại ngũ chỉ được tham gia thành lập và quản lý công ty khi được tổ chức Nhà nước có thẩm quyền cử làm đại diện cho phần vốn thuộc sở hữu Nhà nước góp vào công ty.

Xem nội dung VB
Điều 3.

Những đối tượng sau đây không được thành lập hoặc tham gia quản lý Công ty:

- Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về công chức Nhà nước số 169-HĐBT ngày 25-5-1991.

- Những người đang giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền các cấp theo chế độ bầu cử.

- Cán bộ quản lý các Liên hiệp xí nghiệp và xí nghiệp quốc doanh.

- Sĩ quan tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.
Điều này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Nghị định 361-HĐBT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 01/10/1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 70-TC/TCT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 29/11/1991 (VB hết hiệu lực: 26/10/1992)
Thi hành điều 5 bản quy định ban hành kèm theo NĐ số 221/HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng bộ trưởng, cụ thể hóa một số điều quy định trong Luật doanh nghiệp tư nhân và điều 5 bản quy định ban hành kèm theo NĐ số 222/HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng bộ trưởng, cụ thể hóa một số điều trong Luật Công ty. Sau khi trao đổi với Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Bộ Tài chính hướng dẫn thu lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG THU

Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty khi được Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cấp đăng ký kinh doanh (kể cả trường hợp đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở ngoài tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính) đều phải nộp lệ phí cấp đăng ký kinh doanh.

II. MỨC THU

Mức thu lệ phí cho một lần cấp đăng ký kinh doanh như sau:

1- Đối với doanh nghiệp tư nhân: 0,1%( một phần nghìn) tính trên vốn đầu tư ban đầu.

2- Đối với Công ty:0,1% (một phần nghìn) tính trên vốn điều lệ.

Mức thu lệ phí khống chế tối tiểu là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); tối đa là 30.000 đ (ba mươi triệu đồng) một lần cấp đăng ký kinh doanh.

III. THỦ TỤC THU NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG NGUỒN THU

Lệ phí cấp đăng ký kinh doanh là nguồn thu của NSNN do cơ quan trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố đảm nhiệm thu đồng thời với việc cấp đăng ký. Khi thu sử dụng biên lai, chứng từ do Bộ Tài chính phát hành. Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố nhận biên lai, chứng từ tại Cục thuế địa phương và chịu trách nhiệm quản, sử dụng theo đúng chế độ đã được Bộ Tài chính quy định.

Toàn bộ số thu lệ phí được nộp vào ngân sách Nhà nước chậm nhất là 10 ngày sau khi thu (Chương 44, loại 14, khoản 01, hạng 9, mục 47 của mục lục ngân sách Nhà nước).

Bộ Tài chính sẽ có quy định riêng bảo đảm các khoản chi cần thiết phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân và Công ty của Trọng tài kinh tế.

IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Cục thuế Nhà nước các tỉnh, thành phố có nhiệm vụ kiểm tra và đôn đốc việc thu, nộp lệ phí đăng ký kinh doanh của Trọng tài kinh tế cùng cấp vào ngân sách theo quy định trong Thông tư này.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 29-11-1991 và thay thế Thông tư số 61 TC/TCT ngày 8-11-1991 của Bộ Tài chính. Mọi quy định của các cấp, các ngành về khoản lệ phí này đều bãi bỏ.

Đối với những địa phương mà Trọng tài kinh tế đã tiến hành thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh thì phải tiến hành xem xét lại và giải quyết đúng theo tinh thần Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh để Bộ Tài chính nghiên cứu, giải quyết.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 62-TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 26/10/1992 (VB hết hiệu lực: 14/12/2004)
Thi hành Điều 5 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 221-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cụ thể hoá một số điều quy định trong Luật doanh nghiệp tư nhân; Điều 5 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cụ thể hoá một số điều trong Luật Công ty và Điều 7 Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước ban hành theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20-11-1991 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 70-TC/TCT ngày 29-11-1991 hướng dẫn thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân và công ty;
Căn cứ vào Quyết định số 276/CT ngày 28-7-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao cho Bộ Tài chính thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí;
Qua thời gian thực hiện và theo dõi đề nghị của Trọng tài kinh tế Nhà nước;
Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn thu lệ phí cấp đăng ký Kinh doanh như sau:

I- ĐỐI TƯỢNG NỘP LỆ PHÍ

Các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty và các tổ chức kinh tế khác, khi được Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Kể cả trường hợp đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện), xác nhận thay đổi ngành nghề và các thay đổi khác trong giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh thì phải nộp lệ phí tại cơ quan Trọng tài kinh tế.

II- MỨC THU

1. Mức thu lệ phí cho một lần cấp đăng ký Kinh doanh như sau:

a) Đối với doanh nghiệp tư nhân: 0,1% (một phần nghìn) trên vốn thực có lúc đăng ký, nhưng mức thu tối thiểu là 100.000đ (một trăm nghìn đồng), tối đa là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

b) Đối với công ty: 0,1% (một phần nghìn) tính trên vốn điều lệ. Mức thu tối thiểu là 100.000đ (một trăm ngàn đồng), tối đa là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

c) Đối với doanh nghiệp Nhà nước có vốn pháp định dưới 20 tỷ đồng, mức thu: 300.000đ; có vốn pháp định trên 20 tỷ đồng, mức thu: 500.000đ;

d) Giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh cho chi nhánh hoặc văn phòng đại diện - Mức thu: 100.000đ (một trăm ngàn đồng).

Xác nhận thay đổi ngành nghề và các thay đổi khác mức thu 100.000đ (một trăm ngàn đồng) cho một lần thay đổi. Trường hợp thay đổi vốn, nếu tăng hơn mức vốn so với lần đăng ký trước đó trên 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) thì phải nộp lệ phí theo tỷ lệ 0,1% trên số vốn tăng, nhưng tổng số lệ phí mà doanh nghiệp phải nọp (kể cả đăng ký lần đầu) không quá 10.000.000đ (mười triệu đồng).

III- THỦ TỤC THU NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG NGUỒN THU

1. Thủ tục thu nộp và phân phối sử dụng:

Lệ phí đăng ký doanh nghiệp là khoản thu ngân sách do cơ quan trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố đảm nhiệm thu đồng thời vời việc cấp giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh và xác nhận các thay đổi về nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh. Khi thu lệ phí đăng ký Kinh doanh phải sử dụng biên lai chứng từ do Bộ Tài chính phát hành. Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố nhận biên lai, chứng từ tại Cục thuế địa phương và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo đúng chế độ đã được Bộ Tài chính quy định.

Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố được trích lại 10% số thu về lệ phí đăng ký Kinh doanh dùng để khen thưởng cho những người có thành tích trong công tác cấp đăng ký Kinh doanh nhưng mức thưởng không vượt quá 6 tháng lương cơ bản và các khoản phụ cấp theo chế độ hiện hành của những người trực tiếp làm công tác đăng ký Kinh doanh. Số được trích nếu vượt quá 6 tháng lương cơ bản và các khoản phụ cấp (nếu có) được để lại bổ sung thêm kinh phí hoạt động của đơn vị Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn sử dụng số tiền được để lại này theo đúng chế độ quy định. Hàng năm, Trọng tài kinh tế các cấp phải quyết toán việc sử dụng khoản tiền thường này với cơ quan tài chính cùng cấp.

Số tiền còn lại (sau khi trích theo tỷ lệ trên) chậm nhất 5 ngày đầu tháng sau phải nộp hết số phải nộp của tháng trước vào ngân sách Nhà nước tại kho bạc địa phương theo chương 44 loại 14 khoản 01 hạng 9 mục 35 của mục lục Ngân sách Nhà nước. Hàng tháng, quý, năm cơ quan trọng tài kinh tế phải báo cáo quyết toán với cơ quan thuế cùng cấp về biên lai thu tiền, số tiền lệ phí đã thu, đã nộp vào ngân sách Nhà nước trong kỳ theo chế độ của Bộ Tài chính quy định, đã nộp Ngân sách Nhà nước trong kỳ theo chế độ của Bộ Tài chính quy định. Cục thuế các tỉnh, thành phố có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc trọng tài kinh tế thực hiện nộp Ngân sách theo đúng quy định tại thông tư này.

2. Các khoản chi phí thực hiện cấp đăng ký Kinh doanh của Trọng tài kinh tế.

Chi phí cho hoạt động của cơ quan trọng tài kinh tế (Trung ương - tỉnh - t hành phố) kể cả chi phí phục vụ cho việc cấp đăng ký Kinh doanh là chi phí quản lý Nhà nước do Ngân sách Nhà nước cấp theo dự toán hàng năm. Do đó, để đảm bảo công tác thường xuyên, hàng năm cơ quan trọng tài kinh tế phải lập dự toán kinh phí chung trong đó có kinh phí phục vụ việc xét cấp giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh, gửi cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, giải quyết bao gồm: lương, phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội, công tác phí, sửa chữa thường xuyên mua sắm tài sản phục vụ công tác đăng ký Kinh doanh v.v...

Hàng quý, năm cơ quan Trọng tài kinh tế quyết toán các khoản chi nói trên với cơ quan tài chính cùng cấp và quản lý chặt chẽ theo chế độ hiện hành của Nhà nước.

Thông tư này thay thế Thông tư số 70-CT.TCT ngày 29-11-1991 và có hiệu lực thi hành từ ngày ký.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc đề nghị Trọng tài kinh tế tỉnh phản ánh kịp thời về Trọng tài kinh tế Nhà nước và Bộ Tài chính để xem xét giải quyết.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 có hiệu lực từ ngày 13/08/1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Theo quy định tại Điều 11 Luật doanh nghiệp tư nhân, điều 17 Luật công ty, sau khi được cấp giấy phép thành lập, trong thời hạn 60 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân), 180 ngày (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn), một năm(đối với Công ty cổ phần), chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Công ty (CT) phải đăng ký kinh doanh (ĐKKD) tại Trọng tài kinh doanh cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập.

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.

I- MỤC ĐÍCH ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1- Đăng ký kinh doanh là để xác nhận địa vị pháp lý của DNTN, công ty trong các hoạt động kinh doanh. Khi đã được cấp giấy CNĐKKD, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty được tiến hành các hoạt động kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký; được thừa nhận về tư cách doanh nghiệp để thiết lập các quan hệ kinh tế; được bảo vệ các quyền và lợi ích theo quy định của luật.

2- Thông qua đăng ký kinh doanh Nhà nước thực hiện việc giám sát quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, công ty từ khi thành lập đến giải thể hoặc phá sản nhằm ngăn ngừa các hoạt động kinh doanh trái pháp luật cũng như để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp tư nhân, công ty và các chủ nợ hoặc con nợ của họ trong trường hợp giải thể hoặc phá sản.

3- Thông qua ĐKKD, Nhà nước nắm được các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động theo các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh.

II- TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
III- TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH:

1- Đối với doanh nghiệp tư nhân:
...
2- Đối với Công ty: ( Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần):
...
3- Nhận hồ sơ ĐKKD:
...
4- Xem xét hồ sơ ĐKKD:
...
5- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
...
6- Không chấp nhận đăng ký kinh doanh:
...
7- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chi nhánh, Văn phòng đại diện:
...
8- Người cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người ký vào văn bản từ chối chấp nhận đăng ký kinh doanh, phải là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Trọng tài kinh tế ký.

9- Phí tổn về giấy tờ, biểu mẫu làm hồ sơ đăng ký kinh doanh, do Chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trả cho cơ quan Trọng tài kinh tế sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không tính vào trong lệ phí đăng ký kinh doanh.

IV- ĐĂNG KÝ KHI THAY ĐỔI KINH DOANH
...
1- Thay đổi ngành, nghề kinh doanh: Muốn thay đổi ngành nghề kinh doanh đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệ, chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty phải có văn bản cho phép doanh nghiệp được kinh doanh theo ngành, nghề mới của cấp có thẩm quyền cho phép kinh doanh ngành nghề đó .... đồng thời Doanh nghiệp phải chứng kinh trước Trọng tài kinh tế về vốn đầu tư (vốn điều lệ) của doanh nghiệp tại thời điểm xin thay đổi ngành nghề phù hợp với quy mô tổ chức kinh doanh ngành nghề đó của doanh nghiệp và không thấp hơn vốn pháp định đôí với ngành nghề đó.

2- Thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) khi có sự thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty phải có các căncứ xác nhận số vốn thay đổi và không được thấp hơn vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh.

3- Thay đổi trụ sở giao dich: Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty muốn đăng ký thay đổi trụ sở giao dịch cần có các giấy tờ chứng thực hợp lệ về quyền sử dụng trụ sở nơi dự định chuyển đến của doanh nghiệp.

4- Thay đổi tên doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp muốn thay đổi tên doanh nghiệp (mà không thay đổi ngành nghề kinh doanh) thì doanh nghiệp phải làm lại thủ tục đăng ký kinh doanh như khi thành lập doanh nghiệp.

5- Thay đổi chi nhánh, văn phòng đại diện:
...
6- Riêng đối với các công ty:
...
V- LƯU TRỮ BẢO QUẢN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ KINH DOANH LẬP BÁO CÁO ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
1- Hồ sơ đăng ký kinh doanh được lưu trữ tại Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh; được bảo quản tốt để sử dụng lâu dài; được sắp xếp khoa học để thuận tiện tra cứu tài liệu khi cần thiết, có phân công trách nhiệm của người quản lý hồ sơ (khi có sự thay đổi người quản lý phải có giao nhận rõ ràng, có biên bản và người chứng kiến việc giao nhận).

2- Mỗi tháng một kỳ, Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh phải lập báo cáo đăng ký kinh doanh theo mẫu quy định gửi lên Trọng tài kinh tế Nhà nước. Thời hạn gửi báo cáo tháng trước không được chậm quá ngày 5 của tháng sau.

3- Việc Trọng tài kinh tế thực hiện việc quản lý đăng ký kinh doanh bằng máy tính để phục vụ cho yêu cầu của Nhà nước và của Trọng tài kinh tế các tỉnh có nhu cầu đó trong phạm vi của tỉnh.

VI- GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ VIỆC KHÔNG ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP , GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH
...
VII- KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1- Trọng tài kinh tế Nhà nước kiểm tra việc thực hiện đăng ký kinh doanh của Trọng tài kinh tế cấp tỉnh.

2- Nội dung kiểm tra việc thực hiện đăng ký kinh doanh
...
3- Mỗi lần kiểm tra đều phải có biên bản kiểm tra, ghi rõ các nhận xét và kiến nghị của người kiểm tra.

Biên bản kiểm tra được gửi về Trọng tài kinh tế Nhà nước theo dõi hoặc giải quyết.

VIII- XỬ LÝ VI PHẠM:

1- Việc xem xét để cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là nhiệm vụ và quyền hạn của Trọng tài kinh tế . Vì vậy Trọng tài kinh tế phải thực hiện tốt nhiệm vụ này để cho các hoạt động kinh doanh được thực hiện theo pháp luật.
...
2-Mọi người trong cơ quan Trọng tài kinh tế, các doanh nghiệp có quyền tố cáo những hành vi lợi dụng quyền hạn trong việc đăng ký kinh doanh để mưu lợi cá nhân hoặc cục bộ. chủ tịch Trọng tài kinh tế xem xét, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các đơn, thư phát giác, tố cáo việc này, đồng thời báo cáo lên Trọng tài kinh tế Nhà nước.
...

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 70-TC/TCT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 29/11/1991 (VB hết hiệu lực: 26/10/1992)
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 62-TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 26/10/1992 (VB hết hiệu lực: 14/12/2004)
Việc đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 có hiệu lực từ ngày 13/08/1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 70-TC/TCT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 29/11/1991 (VB hết hiệu lực: 26/10/1992)
Thi hành điều 5 bản quy định ban hành kèm theo NĐ số 221/HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng bộ trưởng, cụ thể hóa một số điều quy định trong Luật doanh nghiệp tư nhân và điều 5 bản quy định ban hành kèm theo NĐ số 222/HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng bộ trưởng, cụ thể hóa một số điều trong Luật Công ty. Sau khi trao đổi với Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Bộ Tài chính hướng dẫn thu lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG THU

Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty khi được Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cấp đăng ký kinh doanh (kể cả trường hợp đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở ngoài tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính) đều phải nộp lệ phí cấp đăng ký kinh doanh.

II. MỨC THU

Mức thu lệ phí cho một lần cấp đăng ký kinh doanh như sau:

1- Đối với doanh nghiệp tư nhân: 0,1%( một phần nghìn) tính trên vốn đầu tư ban đầu.

2- Đối với Công ty:0,1% (một phần nghìn) tính trên vốn điều lệ.

Mức thu lệ phí khống chế tối tiểu là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); tối đa là 30.000 đ (ba mươi triệu đồng) một lần cấp đăng ký kinh doanh.

III. THỦ TỤC THU NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG NGUỒN THU

Lệ phí cấp đăng ký kinh doanh là nguồn thu của NSNN do cơ quan trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố đảm nhiệm thu đồng thời với việc cấp đăng ký. Khi thu sử dụng biên lai, chứng từ do Bộ Tài chính phát hành. Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố nhận biên lai, chứng từ tại Cục thuế địa phương và chịu trách nhiệm quản, sử dụng theo đúng chế độ đã được Bộ Tài chính quy định.

Toàn bộ số thu lệ phí được nộp vào ngân sách Nhà nước chậm nhất là 10 ngày sau khi thu (Chương 44, loại 14, khoản 01, hạng 9, mục 47 của mục lục ngân sách Nhà nước).

Bộ Tài chính sẽ có quy định riêng bảo đảm các khoản chi cần thiết phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân và Công ty của Trọng tài kinh tế.

IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Cục thuế Nhà nước các tỉnh, thành phố có nhiệm vụ kiểm tra và đôn đốc việc thu, nộp lệ phí đăng ký kinh doanh của Trọng tài kinh tế cùng cấp vào ngân sách theo quy định trong Thông tư này.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 29-11-1991 và thay thế Thông tư số 61 TC/TCT ngày 8-11-1991 của Bộ Tài chính. Mọi quy định của các cấp, các ngành về khoản lệ phí này đều bãi bỏ.

Đối với những địa phương mà Trọng tài kinh tế đã tiến hành thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh thì phải tiến hành xem xét lại và giải quyết đúng theo tinh thần Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh để Bộ Tài chính nghiên cứu, giải quyết.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 62-TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 26/10/1992 (VB hết hiệu lực: 14/12/2004)
Thi hành Điều 5 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 221-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cụ thể hoá một số điều quy định trong Luật doanh nghiệp tư nhân; Điều 5 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cụ thể hoá một số điều trong Luật Công ty và Điều 7 Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước ban hành theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20-11-1991 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 70-TC/TCT ngày 29-11-1991 hướng dẫn thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân và công ty;
Căn cứ vào Quyết định số 276/CT ngày 28-7-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao cho Bộ Tài chính thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí;
Qua thời gian thực hiện và theo dõi đề nghị của Trọng tài kinh tế Nhà nước;
Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn thu lệ phí cấp đăng ký Kinh doanh như sau:

I- ĐỐI TƯỢNG NỘP LỆ PHÍ

Các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty và các tổ chức kinh tế khác, khi được Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Kể cả trường hợp đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện), xác nhận thay đổi ngành nghề và các thay đổi khác trong giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh thì phải nộp lệ phí tại cơ quan Trọng tài kinh tế.

II- MỨC THU

1. Mức thu lệ phí cho một lần cấp đăng ký Kinh doanh như sau:

a) Đối với doanh nghiệp tư nhân: 0,1% (một phần nghìn) trên vốn thực có lúc đăng ký, nhưng mức thu tối thiểu là 100.000đ (một trăm nghìn đồng), tối đa là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

b) Đối với công ty: 0,1% (một phần nghìn) tính trên vốn điều lệ. Mức thu tối thiểu là 100.000đ (một trăm ngàn đồng), tối đa là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

c) Đối với doanh nghiệp Nhà nước có vốn pháp định dưới 20 tỷ đồng, mức thu: 300.000đ; có vốn pháp định trên 20 tỷ đồng, mức thu: 500.000đ;

d) Giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh cho chi nhánh hoặc văn phòng đại diện - Mức thu: 100.000đ (một trăm ngàn đồng).

Xác nhận thay đổi ngành nghề và các thay đổi khác mức thu 100.000đ (một trăm ngàn đồng) cho một lần thay đổi. Trường hợp thay đổi vốn, nếu tăng hơn mức vốn so với lần đăng ký trước đó trên 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) thì phải nộp lệ phí theo tỷ lệ 0,1% trên số vốn tăng, nhưng tổng số lệ phí mà doanh nghiệp phải nọp (kể cả đăng ký lần đầu) không quá 10.000.000đ (mười triệu đồng).

III- THỦ TỤC THU NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG NGUỒN THU

1. Thủ tục thu nộp và phân phối sử dụng:

Lệ phí đăng ký doanh nghiệp là khoản thu ngân sách do cơ quan trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố đảm nhiệm thu đồng thời vời việc cấp giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh và xác nhận các thay đổi về nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh. Khi thu lệ phí đăng ký Kinh doanh phải sử dụng biên lai chứng từ do Bộ Tài chính phát hành. Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố nhận biên lai, chứng từ tại Cục thuế địa phương và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo đúng chế độ đã được Bộ Tài chính quy định.

Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố được trích lại 10% số thu về lệ phí đăng ký Kinh doanh dùng để khen thưởng cho những người có thành tích trong công tác cấp đăng ký Kinh doanh nhưng mức thưởng không vượt quá 6 tháng lương cơ bản và các khoản phụ cấp theo chế độ hiện hành của những người trực tiếp làm công tác đăng ký Kinh doanh. Số được trích nếu vượt quá 6 tháng lương cơ bản và các khoản phụ cấp (nếu có) được để lại bổ sung thêm kinh phí hoạt động của đơn vị Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn sử dụng số tiền được để lại này theo đúng chế độ quy định. Hàng năm, Trọng tài kinh tế các cấp phải quyết toán việc sử dụng khoản tiền thường này với cơ quan tài chính cùng cấp.

Số tiền còn lại (sau khi trích theo tỷ lệ trên) chậm nhất 5 ngày đầu tháng sau phải nộp hết số phải nộp của tháng trước vào ngân sách Nhà nước tại kho bạc địa phương theo chương 44 loại 14 khoản 01 hạng 9 mục 35 của mục lục Ngân sách Nhà nước. Hàng tháng, quý, năm cơ quan trọng tài kinh tế phải báo cáo quyết toán với cơ quan thuế cùng cấp về biên lai thu tiền, số tiền lệ phí đã thu, đã nộp vào ngân sách Nhà nước trong kỳ theo chế độ của Bộ Tài chính quy định, đã nộp Ngân sách Nhà nước trong kỳ theo chế độ của Bộ Tài chính quy định. Cục thuế các tỉnh, thành phố có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc trọng tài kinh tế thực hiện nộp Ngân sách theo đúng quy định tại thông tư này.

2. Các khoản chi phí thực hiện cấp đăng ký Kinh doanh của Trọng tài kinh tế.

Chi phí cho hoạt động của cơ quan trọng tài kinh tế (Trung ương - tỉnh - t hành phố) kể cả chi phí phục vụ cho việc cấp đăng ký Kinh doanh là chi phí quản lý Nhà nước do Ngân sách Nhà nước cấp theo dự toán hàng năm. Do đó, để đảm bảo công tác thường xuyên, hàng năm cơ quan trọng tài kinh tế phải lập dự toán kinh phí chung trong đó có kinh phí phục vụ việc xét cấp giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh, gửi cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, giải quyết bao gồm: lương, phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội, công tác phí, sửa chữa thường xuyên mua sắm tài sản phục vụ công tác đăng ký Kinh doanh v.v...

Hàng quý, năm cơ quan Trọng tài kinh tế quyết toán các khoản chi nói trên với cơ quan tài chính cùng cấp và quản lý chặt chẽ theo chế độ hiện hành của Nhà nước.

Thông tư này thay thế Thông tư số 70-CT.TCT ngày 29-11-1991 và có hiệu lực thi hành từ ngày ký.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc đề nghị Trọng tài kinh tế tỉnh phản ánh kịp thời về Trọng tài kinh tế Nhà nước và Bộ Tài chính để xem xét giải quyết.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 có hiệu lực từ ngày 13/08/1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Theo quy định tại Điều 11 Luật doanh nghiệp tư nhân, điều 17 Luật công ty, sau khi được cấp giấy phép thành lập, trong thời hạn 60 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân), 180 ngày (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn), một năm(đối với Công ty cổ phần), chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Công ty (CT) phải đăng ký kinh doanh (ĐKKD) tại Trọng tài kinh doanh cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập.

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.

I- MỤC ĐÍCH ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1- Đăng ký kinh doanh là để xác nhận địa vị pháp lý của DNTN, công ty trong các hoạt động kinh doanh. Khi đã được cấp giấy CNĐKKD, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty được tiến hành các hoạt động kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký; được thừa nhận về tư cách doanh nghiệp để thiết lập các quan hệ kinh tế; được bảo vệ các quyền và lợi ích theo quy định của luật.

2- Thông qua đăng ký kinh doanh Nhà nước thực hiện việc giám sát quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, công ty từ khi thành lập đến giải thể hoặc phá sản nhằm ngăn ngừa các hoạt động kinh doanh trái pháp luật cũng như để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp tư nhân, công ty và các chủ nợ hoặc con nợ của họ trong trường hợp giải thể hoặc phá sản.

3- Thông qua ĐKKD, Nhà nước nắm được các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động theo các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh.

II- TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
III- TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH:

1- Đối với doanh nghiệp tư nhân:
...
2- Đối với Công ty: ( Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần):
...
3- Nhận hồ sơ ĐKKD:
...
4- Xem xét hồ sơ ĐKKD:
...
5- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
...
6- Không chấp nhận đăng ký kinh doanh:
...
7- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chi nhánh, Văn phòng đại diện:
...
8- Người cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người ký vào văn bản từ chối chấp nhận đăng ký kinh doanh, phải là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Trọng tài kinh tế ký.

9- Phí tổn về giấy tờ, biểu mẫu làm hồ sơ đăng ký kinh doanh, do Chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trả cho cơ quan Trọng tài kinh tế sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không tính vào trong lệ phí đăng ký kinh doanh.

IV- ĐĂNG KÝ KHI THAY ĐỔI KINH DOANH
...
1- Thay đổi ngành, nghề kinh doanh: Muốn thay đổi ngành nghề kinh doanh đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệ, chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty phải có văn bản cho phép doanh nghiệp được kinh doanh theo ngành, nghề mới của cấp có thẩm quyền cho phép kinh doanh ngành nghề đó .... đồng thời Doanh nghiệp phải chứng kinh trước Trọng tài kinh tế về vốn đầu tư (vốn điều lệ) của doanh nghiệp tại thời điểm xin thay đổi ngành nghề phù hợp với quy mô tổ chức kinh doanh ngành nghề đó của doanh nghiệp và không thấp hơn vốn pháp định đôí với ngành nghề đó.

2- Thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) khi có sự thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty phải có các căncứ xác nhận số vốn thay đổi và không được thấp hơn vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh.

3- Thay đổi trụ sở giao dich: Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty muốn đăng ký thay đổi trụ sở giao dịch cần có các giấy tờ chứng thực hợp lệ về quyền sử dụng trụ sở nơi dự định chuyển đến của doanh nghiệp.

4- Thay đổi tên doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp muốn thay đổi tên doanh nghiệp (mà không thay đổi ngành nghề kinh doanh) thì doanh nghiệp phải làm lại thủ tục đăng ký kinh doanh như khi thành lập doanh nghiệp.

5- Thay đổi chi nhánh, văn phòng đại diện:
...
6- Riêng đối với các công ty:
...
V- LƯU TRỮ BẢO QUẢN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ KINH DOANH LẬP BÁO CÁO ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
1- Hồ sơ đăng ký kinh doanh được lưu trữ tại Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh; được bảo quản tốt để sử dụng lâu dài; được sắp xếp khoa học để thuận tiện tra cứu tài liệu khi cần thiết, có phân công trách nhiệm của người quản lý hồ sơ (khi có sự thay đổi người quản lý phải có giao nhận rõ ràng, có biên bản và người chứng kiến việc giao nhận).

2- Mỗi tháng một kỳ, Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh phải lập báo cáo đăng ký kinh doanh theo mẫu quy định gửi lên Trọng tài kinh tế Nhà nước. Thời hạn gửi báo cáo tháng trước không được chậm quá ngày 5 của tháng sau.

3- Việc Trọng tài kinh tế thực hiện việc quản lý đăng ký kinh doanh bằng máy tính để phục vụ cho yêu cầu của Nhà nước và của Trọng tài kinh tế các tỉnh có nhu cầu đó trong phạm vi của tỉnh.

VI- GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ VIỆC KHÔNG ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP , GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH
...
VII- KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1- Trọng tài kinh tế Nhà nước kiểm tra việc thực hiện đăng ký kinh doanh của Trọng tài kinh tế cấp tỉnh.

2- Nội dung kiểm tra việc thực hiện đăng ký kinh doanh
...
3- Mỗi lần kiểm tra đều phải có biên bản kiểm tra, ghi rõ các nhận xét và kiến nghị của người kiểm tra.

Biên bản kiểm tra được gửi về Trọng tài kinh tế Nhà nước theo dõi hoặc giải quyết.

VIII- XỬ LÝ VI PHẠM:

1- Việc xem xét để cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là nhiệm vụ và quyền hạn của Trọng tài kinh tế . Vì vậy Trọng tài kinh tế phải thực hiện tốt nhiệm vụ này để cho các hoạt động kinh doanh được thực hiện theo pháp luật.
...
2-Mọi người trong cơ quan Trọng tài kinh tế, các doanh nghiệp có quyền tố cáo những hành vi lợi dụng quyền hạn trong việc đăng ký kinh doanh để mưu lợi cá nhân hoặc cục bộ. chủ tịch Trọng tài kinh tế xem xét, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các đơn, thư phát giác, tố cáo việc này, đồng thời báo cáo lên Trọng tài kinh tế Nhà nước.
...

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 70-TC/TCT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 29/11/1991 (VB hết hiệu lực: 26/10/1992)
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 62-TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 26/10/1992 (VB hết hiệu lực: 14/12/2004)
Việc đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 có hiệu lực từ ngày 13/08/1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 70-TC/TCT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 29/11/1991 (VB hết hiệu lực: 26/10/1992)
Thi hành điều 5 bản quy định ban hành kèm theo NĐ số 221/HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng bộ trưởng, cụ thể hóa một số điều quy định trong Luật doanh nghiệp tư nhân và điều 5 bản quy định ban hành kèm theo NĐ số 222/HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng bộ trưởng, cụ thể hóa một số điều trong Luật Công ty. Sau khi trao đổi với Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Bộ Tài chính hướng dẫn thu lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG THU

Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty khi được Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cấp đăng ký kinh doanh (kể cả trường hợp đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở ngoài tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính) đều phải nộp lệ phí cấp đăng ký kinh doanh.

II. MỨC THU

Mức thu lệ phí cho một lần cấp đăng ký kinh doanh như sau:

1- Đối với doanh nghiệp tư nhân: 0,1%( một phần nghìn) tính trên vốn đầu tư ban đầu.

2- Đối với Công ty:0,1% (một phần nghìn) tính trên vốn điều lệ.

Mức thu lệ phí khống chế tối tiểu là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); tối đa là 30.000 đ (ba mươi triệu đồng) một lần cấp đăng ký kinh doanh.

III. THỦ TỤC THU NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG NGUỒN THU

Lệ phí cấp đăng ký kinh doanh là nguồn thu của NSNN do cơ quan trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố đảm nhiệm thu đồng thời với việc cấp đăng ký. Khi thu sử dụng biên lai, chứng từ do Bộ Tài chính phát hành. Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố nhận biên lai, chứng từ tại Cục thuế địa phương và chịu trách nhiệm quản, sử dụng theo đúng chế độ đã được Bộ Tài chính quy định.

Toàn bộ số thu lệ phí được nộp vào ngân sách Nhà nước chậm nhất là 10 ngày sau khi thu (Chương 44, loại 14, khoản 01, hạng 9, mục 47 của mục lục ngân sách Nhà nước).

Bộ Tài chính sẽ có quy định riêng bảo đảm các khoản chi cần thiết phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân và Công ty của Trọng tài kinh tế.

IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Cục thuế Nhà nước các tỉnh, thành phố có nhiệm vụ kiểm tra và đôn đốc việc thu, nộp lệ phí đăng ký kinh doanh của Trọng tài kinh tế cùng cấp vào ngân sách theo quy định trong Thông tư này.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 29-11-1991 và thay thế Thông tư số 61 TC/TCT ngày 8-11-1991 của Bộ Tài chính. Mọi quy định của các cấp, các ngành về khoản lệ phí này đều bãi bỏ.

Đối với những địa phương mà Trọng tài kinh tế đã tiến hành thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh thì phải tiến hành xem xét lại và giải quyết đúng theo tinh thần Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh để Bộ Tài chính nghiên cứu, giải quyết.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 62-TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 26/10/1992 (VB hết hiệu lực: 14/12/2004)
Thi hành Điều 5 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 221-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cụ thể hoá một số điều quy định trong Luật doanh nghiệp tư nhân; Điều 5 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cụ thể hoá một số điều trong Luật Công ty và Điều 7 Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước ban hành theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20-11-1991 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 70-TC/TCT ngày 29-11-1991 hướng dẫn thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân và công ty;
Căn cứ vào Quyết định số 276/CT ngày 28-7-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao cho Bộ Tài chính thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí;
Qua thời gian thực hiện và theo dõi đề nghị của Trọng tài kinh tế Nhà nước;
Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn thu lệ phí cấp đăng ký Kinh doanh như sau:

I- ĐỐI TƯỢNG NỘP LỆ PHÍ

Các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty và các tổ chức kinh tế khác, khi được Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Kể cả trường hợp đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện), xác nhận thay đổi ngành nghề và các thay đổi khác trong giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh thì phải nộp lệ phí tại cơ quan Trọng tài kinh tế.

II- MỨC THU

1. Mức thu lệ phí cho một lần cấp đăng ký Kinh doanh như sau:

a) Đối với doanh nghiệp tư nhân: 0,1% (một phần nghìn) trên vốn thực có lúc đăng ký, nhưng mức thu tối thiểu là 100.000đ (một trăm nghìn đồng), tối đa là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

b) Đối với công ty: 0,1% (một phần nghìn) tính trên vốn điều lệ. Mức thu tối thiểu là 100.000đ (một trăm ngàn đồng), tối đa là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

c) Đối với doanh nghiệp Nhà nước có vốn pháp định dưới 20 tỷ đồng, mức thu: 300.000đ; có vốn pháp định trên 20 tỷ đồng, mức thu: 500.000đ;

d) Giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh cho chi nhánh hoặc văn phòng đại diện - Mức thu: 100.000đ (một trăm ngàn đồng).

Xác nhận thay đổi ngành nghề và các thay đổi khác mức thu 100.000đ (một trăm ngàn đồng) cho một lần thay đổi. Trường hợp thay đổi vốn, nếu tăng hơn mức vốn so với lần đăng ký trước đó trên 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) thì phải nộp lệ phí theo tỷ lệ 0,1% trên số vốn tăng, nhưng tổng số lệ phí mà doanh nghiệp phải nọp (kể cả đăng ký lần đầu) không quá 10.000.000đ (mười triệu đồng).

III- THỦ TỤC THU NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG NGUỒN THU

1. Thủ tục thu nộp và phân phối sử dụng:

Lệ phí đăng ký doanh nghiệp là khoản thu ngân sách do cơ quan trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố đảm nhiệm thu đồng thời vời việc cấp giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh và xác nhận các thay đổi về nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh. Khi thu lệ phí đăng ký Kinh doanh phải sử dụng biên lai chứng từ do Bộ Tài chính phát hành. Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố nhận biên lai, chứng từ tại Cục thuế địa phương và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo đúng chế độ đã được Bộ Tài chính quy định.

Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố được trích lại 10% số thu về lệ phí đăng ký Kinh doanh dùng để khen thưởng cho những người có thành tích trong công tác cấp đăng ký Kinh doanh nhưng mức thưởng không vượt quá 6 tháng lương cơ bản và các khoản phụ cấp theo chế độ hiện hành của những người trực tiếp làm công tác đăng ký Kinh doanh. Số được trích nếu vượt quá 6 tháng lương cơ bản và các khoản phụ cấp (nếu có) được để lại bổ sung thêm kinh phí hoạt động của đơn vị Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn sử dụng số tiền được để lại này theo đúng chế độ quy định. Hàng năm, Trọng tài kinh tế các cấp phải quyết toán việc sử dụng khoản tiền thường này với cơ quan tài chính cùng cấp.

Số tiền còn lại (sau khi trích theo tỷ lệ trên) chậm nhất 5 ngày đầu tháng sau phải nộp hết số phải nộp của tháng trước vào ngân sách Nhà nước tại kho bạc địa phương theo chương 44 loại 14 khoản 01 hạng 9 mục 35 của mục lục Ngân sách Nhà nước. Hàng tháng, quý, năm cơ quan trọng tài kinh tế phải báo cáo quyết toán với cơ quan thuế cùng cấp về biên lai thu tiền, số tiền lệ phí đã thu, đã nộp vào ngân sách Nhà nước trong kỳ theo chế độ của Bộ Tài chính quy định, đã nộp Ngân sách Nhà nước trong kỳ theo chế độ của Bộ Tài chính quy định. Cục thuế các tỉnh, thành phố có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc trọng tài kinh tế thực hiện nộp Ngân sách theo đúng quy định tại thông tư này.

2. Các khoản chi phí thực hiện cấp đăng ký Kinh doanh của Trọng tài kinh tế.

Chi phí cho hoạt động của cơ quan trọng tài kinh tế (Trung ương - tỉnh - t hành phố) kể cả chi phí phục vụ cho việc cấp đăng ký Kinh doanh là chi phí quản lý Nhà nước do Ngân sách Nhà nước cấp theo dự toán hàng năm. Do đó, để đảm bảo công tác thường xuyên, hàng năm cơ quan trọng tài kinh tế phải lập dự toán kinh phí chung trong đó có kinh phí phục vụ việc xét cấp giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh, gửi cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, giải quyết bao gồm: lương, phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội, công tác phí, sửa chữa thường xuyên mua sắm tài sản phục vụ công tác đăng ký Kinh doanh v.v...

Hàng quý, năm cơ quan Trọng tài kinh tế quyết toán các khoản chi nói trên với cơ quan tài chính cùng cấp và quản lý chặt chẽ theo chế độ hiện hành của Nhà nước.

Thông tư này thay thế Thông tư số 70-CT.TCT ngày 29-11-1991 và có hiệu lực thi hành từ ngày ký.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc đề nghị Trọng tài kinh tế tỉnh phản ánh kịp thời về Trọng tài kinh tế Nhà nước và Bộ Tài chính để xem xét giải quyết.

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 có hiệu lực từ ngày 13/08/1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Theo quy định tại Điều 11 Luật doanh nghiệp tư nhân, điều 17 Luật công ty, sau khi được cấp giấy phép thành lập, trong thời hạn 60 ngày (đối với doanh nghiệp tư nhân), 180 ngày (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn), một năm(đối với Công ty cổ phần), chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Công ty (CT) phải đăng ký kinh doanh (ĐKKD) tại Trọng tài kinh doanh cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập.

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.

I- MỤC ĐÍCH ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1- Đăng ký kinh doanh là để xác nhận địa vị pháp lý của DNTN, công ty trong các hoạt động kinh doanh. Khi đã được cấp giấy CNĐKKD, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty được tiến hành các hoạt động kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký; được thừa nhận về tư cách doanh nghiệp để thiết lập các quan hệ kinh tế; được bảo vệ các quyền và lợi ích theo quy định của luật.

2- Thông qua đăng ký kinh doanh Nhà nước thực hiện việc giám sát quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, công ty từ khi thành lập đến giải thể hoặc phá sản nhằm ngăn ngừa các hoạt động kinh doanh trái pháp luật cũng như để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp tư nhân, công ty và các chủ nợ hoặc con nợ của họ trong trường hợp giải thể hoặc phá sản.

3- Thông qua ĐKKD, Nhà nước nắm được các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động theo các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh.

II- TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
III- TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH:

1- Đối với doanh nghiệp tư nhân:
...
2- Đối với Công ty: ( Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần):
...
3- Nhận hồ sơ ĐKKD:
...
4- Xem xét hồ sơ ĐKKD:
...
5- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
...
6- Không chấp nhận đăng ký kinh doanh:
...
7- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chi nhánh, Văn phòng đại diện:
...
8- Người cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người ký vào văn bản từ chối chấp nhận đăng ký kinh doanh, phải là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Trọng tài kinh tế ký.

9- Phí tổn về giấy tờ, biểu mẫu làm hồ sơ đăng ký kinh doanh, do Chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trả cho cơ quan Trọng tài kinh tế sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không tính vào trong lệ phí đăng ký kinh doanh.

IV- ĐĂNG KÝ KHI THAY ĐỔI KINH DOANH
...
1- Thay đổi ngành, nghề kinh doanh: Muốn thay đổi ngành nghề kinh doanh đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệ, chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty phải có văn bản cho phép doanh nghiệp được kinh doanh theo ngành, nghề mới của cấp có thẩm quyền cho phép kinh doanh ngành nghề đó .... đồng thời Doanh nghiệp phải chứng kinh trước Trọng tài kinh tế về vốn đầu tư (vốn điều lệ) của doanh nghiệp tại thời điểm xin thay đổi ngành nghề phù hợp với quy mô tổ chức kinh doanh ngành nghề đó của doanh nghiệp và không thấp hơn vốn pháp định đôí với ngành nghề đó.

2- Thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) khi có sự thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty phải có các căncứ xác nhận số vốn thay đổi và không được thấp hơn vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh.

3- Thay đổi trụ sở giao dich: Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty muốn đăng ký thay đổi trụ sở giao dịch cần có các giấy tờ chứng thực hợp lệ về quyền sử dụng trụ sở nơi dự định chuyển đến của doanh nghiệp.

4- Thay đổi tên doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp muốn thay đổi tên doanh nghiệp (mà không thay đổi ngành nghề kinh doanh) thì doanh nghiệp phải làm lại thủ tục đăng ký kinh doanh như khi thành lập doanh nghiệp.

5- Thay đổi chi nhánh, văn phòng đại diện:
...
6- Riêng đối với các công ty:
...
V- LƯU TRỮ BẢO QUẢN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ KINH DOANH LẬP BÁO CÁO ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
1- Hồ sơ đăng ký kinh doanh được lưu trữ tại Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh; được bảo quản tốt để sử dụng lâu dài; được sắp xếp khoa học để thuận tiện tra cứu tài liệu khi cần thiết, có phân công trách nhiệm của người quản lý hồ sơ (khi có sự thay đổi người quản lý phải có giao nhận rõ ràng, có biên bản và người chứng kiến việc giao nhận).

2- Mỗi tháng một kỳ, Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh phải lập báo cáo đăng ký kinh doanh theo mẫu quy định gửi lên Trọng tài kinh tế Nhà nước. Thời hạn gửi báo cáo tháng trước không được chậm quá ngày 5 của tháng sau.

3- Việc Trọng tài kinh tế thực hiện việc quản lý đăng ký kinh doanh bằng máy tính để phục vụ cho yêu cầu của Nhà nước và của Trọng tài kinh tế các tỉnh có nhu cầu đó trong phạm vi của tỉnh.

VI- GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ VIỆC KHÔNG ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP , GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH
...
VII- KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1- Trọng tài kinh tế Nhà nước kiểm tra việc thực hiện đăng ký kinh doanh của Trọng tài kinh tế cấp tỉnh.

2- Nội dung kiểm tra việc thực hiện đăng ký kinh doanh
...
3- Mỗi lần kiểm tra đều phải có biên bản kiểm tra, ghi rõ các nhận xét và kiến nghị của người kiểm tra.

Biên bản kiểm tra được gửi về Trọng tài kinh tế Nhà nước theo dõi hoặc giải quyết.

VIII- XỬ LÝ VI PHẠM:

1- Việc xem xét để cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là nhiệm vụ và quyền hạn của Trọng tài kinh tế . Vì vậy Trọng tài kinh tế phải thực hiện tốt nhiệm vụ này để cho các hoạt động kinh doanh được thực hiện theo pháp luật.
...
2-Mọi người trong cơ quan Trọng tài kinh tế, các doanh nghiệp có quyền tố cáo những hành vi lợi dụng quyền hạn trong việc đăng ký kinh doanh để mưu lợi cá nhân hoặc cục bộ. chủ tịch Trọng tài kinh tế xem xét, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các đơn, thư phát giác, tố cáo việc này, đồng thời báo cáo lên Trọng tài kinh tế Nhà nước.
...

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty, Trọng tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 70-TC/TCT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 29/11/1991 (VB hết hiệu lực: 26/10/1992)
Việc thu lệ phí cấp đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 62-TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 26/10/1992 (VB hết hiệu lực: 14/12/2004)
Việc đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 có hiệu lực từ ngày 13/08/1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
Việc đăng ký kinh doanh lĩnh vực thuốc được hướng dẫn bởi Thông tư 04-BYT/TT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 11/04/1992 (VB hết hiệu lực: 25/08/1999)
Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt, liên quan đến sức khoẻ và tính mạng người sử dụng, để đảm bảo an toàn cho người dùng, căn cứ vào Luật công ty và qui định ban hành kèm theo Nghị định số 222/HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điểm trong Luật Công ty, Bộ Y tế qui định một số điều khoản cụ thể về tổ chức, trình độ chuyên môn, kỹ thuật và hoạt động của Công ty kinh doanh thuốc cho người.

I. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỐI VỚI CÔNG TY KINH DOANH THUỐC CHO NGƯỜI
1.1. Các điều kiện đối với Công ty sản xuất thuốc:
Điều 1: Sản xuất thuốc nói tại thông tư này bao gồm:
...
Điều 2: Các sáng lập viên phải lập đầy đủ hồ sơ tổ chức bộ máy làm việc và chuyên môn kỹ thuật (cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí dây chuyền sản xuất, hệ thống đảm bảo chất lượng v.v...) để trình Bộ Y tế xét theo qui chế hiện hành.

Điều 3: Tiêu chuẩn của giám đốc (tổng giám đốc) công ty, ngoài các qui định của Luật công ty, giám đốc (tổng giám đốc) công ty phải:
...
Điều 4: Người làm việc trong công ty ở những chức trách có liên quan trực tiếp đến sản xuất, tồn trữ, đảm bảo chất lượng và mua bán thuốc phải có các tiêu chuẩn:
...
Điều 5: Công ty chỉ được sản xuất những nguyên liệu làm thuốc và thuốc thành phẩm đã được Sở Y tế hoặc Bộ Y tế cho phép sản xuất và lưu hành.

1.2. Các điều kiện đối với công ty buôn bán thuốc.

Điều 6: Các sáng lập viên phải lập đủ hồ sơ tổ chức bộ máy làm việc và chuyên môn kỹ thuật (kho tàng, trang thiết bị bảo quản, hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc ...) để trình Bộ Y tế xem xét theo các qui chế hiện hành.

Điều 7: Ngoài các qui định của Luật công ty, Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty phải có các tiêu chuẩn sau:
...
Điều 8: Người làm việc trong công ty ở những chức trách có liên quan trực tiếp đến tồn trữ, đảm bảo chất lượng và mua bán thuốc phải có các tiêu chuẩn:
...
Điều 9: Công ty chỉ được buôn bán các thuốc đảm bảo chất lượng, sản xuất và lưu hành hợp pháp. Riêng công ty có 100% vốn của tư nhân chỉ được bán lẻ các loại thuốc sản xuất và lưu hành hợp pháp.

II. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ, XÉT CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN HÀNH NGHỀ DƯỢC (CÔNG TY)

Điều 10: Bộ trưởng Bộ Y tế căn cứ vào yêu cầu và điều kiện chuyên môn, kỹ thuật để cấp giấy chứng nhận hành nghề dược (công ty). Vụ Quản lý Dược giúp Bộ trưởng trong việc xem xét.

Việc thành lập Công ty và đăng ký kinh doanh phải tiến hành theo đúng các qui định của Luật công ty.

Điều 11: Hồ sơ gửi Bộ Y tế gồm:
...
Điều 12: Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ y tế sẽ trực tiếp kiểm tra mọi vấn đề liên quan đến chuyên môn kỹ thuật dược (cán bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, bố trí dây chuyền sản xuất, hệ thống đảm bảo thuốc) xem xét và trả lời cho đương sự. Nếu không cấp giấy chứng nhận phải giải thích rõ lý do.
...
Điều 13: Lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề dược (công ty) theo qui định hiện hành.

III. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÔNG TY

Điều 14: Công ty ngoài nghĩa vụ ghi ở điều 13 của Luật công ty phải:
...
Điều 15: Công ty được bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong lĩnh vực chuyên môn dược.

IV. XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 16: Công ty kinh doanh thuốc chịu sự thanh tra về dược và bị xử phạt theo qui định của pháp luật.
...

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 8. Công ty kinh doanh các ngành, nghề dưới đây phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện do các Bộ quản lý ngành và Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định:

1. Các ngành, nghề do các Bộ quy định các điều kiện cụ thể:
...
- Sản xuất, chế biến các loại dược phẩm, các loại thuốc chữa bệnh (cả đông và tây y), các loại mỹ phẩm có ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân,
Việc đăng ký kinh doanh lĩnh vực thuốc được hướng dẫn bởi Thông tư 04-BYT/TT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 11/04/1992 (VB hết hiệu lực: 25/08/1999)
Việc đăng ký kinh doanh lĩnh vực thuốc được hướng dẫn bởi Thông tư 04-BYT/TT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 11/04/1992 (VB hết hiệu lực: 25/08/1999)
Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt, liên quan đến sức khoẻ và tính mạng người sử dụng, để đảm bảo an toàn cho người dùng, căn cứ vào Luật công ty và qui định ban hành kèm theo Nghị định số 222/HĐBT ngày 23-7-1991 của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điểm trong Luật Công ty, Bộ Y tế qui định một số điều khoản cụ thể về tổ chức, trình độ chuyên môn, kỹ thuật và hoạt động của Công ty kinh doanh thuốc cho người.

I. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỐI VỚI CÔNG TY KINH DOANH THUỐC CHO NGƯỜI
1.1. Các điều kiện đối với Công ty sản xuất thuốc:
Điều 1: Sản xuất thuốc nói tại thông tư này bao gồm:
...
Điều 2: Các sáng lập viên phải lập đầy đủ hồ sơ tổ chức bộ máy làm việc và chuyên môn kỹ thuật (cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí dây chuyền sản xuất, hệ thống đảm bảo chất lượng v.v...) để trình Bộ Y tế xét theo qui chế hiện hành.

Điều 3: Tiêu chuẩn của giám đốc (tổng giám đốc) công ty, ngoài các qui định của Luật công ty, giám đốc (tổng giám đốc) công ty phải:
...
Điều 4: Người làm việc trong công ty ở những chức trách có liên quan trực tiếp đến sản xuất, tồn trữ, đảm bảo chất lượng và mua bán thuốc phải có các tiêu chuẩn:
...
Điều 5: Công ty chỉ được sản xuất những nguyên liệu làm thuốc và thuốc thành phẩm đã được Sở Y tế hoặc Bộ Y tế cho phép sản xuất và lưu hành.

1.2. Các điều kiện đối với công ty buôn bán thuốc.

Điều 6: Các sáng lập viên phải lập đủ hồ sơ tổ chức bộ máy làm việc và chuyên môn kỹ thuật (kho tàng, trang thiết bị bảo quản, hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc ...) để trình Bộ Y tế xem xét theo các qui chế hiện hành.

Điều 7: Ngoài các qui định của Luật công ty, Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty phải có các tiêu chuẩn sau:
...
Điều 8: Người làm việc trong công ty ở những chức trách có liên quan trực tiếp đến tồn trữ, đảm bảo chất lượng và mua bán thuốc phải có các tiêu chuẩn:
...
Điều 9: Công ty chỉ được buôn bán các thuốc đảm bảo chất lượng, sản xuất và lưu hành hợp pháp. Riêng công ty có 100% vốn của tư nhân chỉ được bán lẻ các loại thuốc sản xuất và lưu hành hợp pháp.

II. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ, XÉT CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN HÀNH NGHỀ DƯỢC (CÔNG TY)

Điều 10: Bộ trưởng Bộ Y tế căn cứ vào yêu cầu và điều kiện chuyên môn, kỹ thuật để cấp giấy chứng nhận hành nghề dược (công ty). Vụ Quản lý Dược giúp Bộ trưởng trong việc xem xét.

Việc thành lập Công ty và đăng ký kinh doanh phải tiến hành theo đúng các qui định của Luật công ty.

Điều 11: Hồ sơ gửi Bộ Y tế gồm:
...
Điều 12: Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ y tế sẽ trực tiếp kiểm tra mọi vấn đề liên quan đến chuyên môn kỹ thuật dược (cán bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, bố trí dây chuyền sản xuất, hệ thống đảm bảo thuốc) xem xét và trả lời cho đương sự. Nếu không cấp giấy chứng nhận phải giải thích rõ lý do.
...
Điều 13: Lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề dược (công ty) theo qui định hiện hành.

III. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÔNG TY

Điều 14: Công ty ngoài nghĩa vụ ghi ở điều 13 của Luật công ty phải:
...
Điều 15: Công ty được bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong lĩnh vực chuyên môn dược.

IV. XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 16: Công ty kinh doanh thuốc chịu sự thanh tra về dược và bị xử phạt theo qui định của pháp luật.
...

Xem nội dung VB
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT CÔNG TY
...
Điều 8. Công ty kinh doanh các ngành, nghề dưới đây phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện do các Bộ quản lý ngành và Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định:

1. Các ngành, nghề do các Bộ quy định các điều kiện cụ thể:
...
- Sản xuất, chế biến các loại dược phẩm, các loại thuốc chữa bệnh (cả đông và tây y), các loại mỹ phẩm có ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân,
Việc đăng ký kinh doanh lĩnh vực thuốc được hướng dẫn bởi Thông tư 04-BYT/TT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 11/04/1992 (VB hết hiệu lực: 25/08/1999)