Quyền sử dụng đất trị giá được bằng tiền gọi chung là quyền gì?
Mua bán Đất trên toàn quốc
Nội dung chính
Quyền sử dụng đất trị giá được bằng tiền gọi chung là quyền gì?
Căn cứ Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
Điều 115. Quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Như vậy, quyền sử dụng đất trị giá được bằng tiền được gọi chung là quyền tài sản.
Theo đó, quyền sử dụng đất không chỉ là quyền gắn với đất đai theo pháp luật đất đai, mà còn được pháp luật dân sự thừa nhận giá trị kinh tế và tư cách pháp lý độc lập để tham gia vào các quan hệ dân sự như chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, góp vốn… theo quy định của pháp luật.

Quyền sử dụng đất trị giá được bằng tiền gọi chung là quyền gì? (Hình từ Internet)
Quyền sử dụng đất hình thành từ giao dịch bằng tài sản chung của vợ chồng là tài sản gì?
Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Theo đó, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn được mặc nhiên xem là tài sản chung của vợ chồng, trừ các trường hợp ngoại lệ là:
- Được thừa kế riêng;
- Được tặng cho riêng;
- Hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của vợ hoặc chồng.
Như vậy, trường hợp quyền sử dụng đất được hình thành từ giao dịch bằng tài sản chung của vợ chồng thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng, thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Chồng có được tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung không?
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định như sau:
Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
Theo đó, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Đồng thời, căn cứ Điều 31 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.
Có thể thấy, tài sản chung vợ chồng nói chung, nhà, đất của vợ chồng là tài sản chung nói riêng đều thuộc quyền sở hữu của cả hai vợ chồng dù cho một trong hai bên chỉ làm công việc nội trợ tại nhà mà không tham gia lao động ngoài xã hội.
Căn cứ khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Bên cạnh đó, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
(1) Bất động sản;
(2) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
(3) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Do đó, người chồng là người trực tiếp đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng nếu mảnh đất đó là tài sản chung của vợ chồng, thì khi bán, chuyển nhượng hoặc tặng cho người khác phải có sự đồng ý bằng văn bản của người vợ
Như vậy, chồng không được tự ý bán đất là tài sản chung của vợ chồng nếu không có sự đồng ý của vợ. Hợp đồng chuyển nhượng đất trong trường hợp này có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu vì vi phạm quy định về quyền định đoạt tài sản chung.
