BỘ
TÀI CHÍNH
TỔNG
CỤC THUẾ
********
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
Số:
1664-TCT/HTQT
|
Hà
Nội, ngày 11 tháng 10 năm 1994
|
CÔNG VĂN
CỦA TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH SỐ 1664-TCT/HTQT
NGÀY 11-10-1994 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương
Để thi hành các Hiệp
định tránh đánh thuế hai lần đã ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước
ngoài;
Căn cứ vào nội
dung quy định tại các Hiệp định và căn cứ vào thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 3 trong các Hiệp định;
Tổng cục thuế giải
thích và hướng dẫn thực hiện Hiệp định như sau:
A. NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH
I.
PHẠM VI ÁP DỤNG
Theo quy định tại
các Điều 1, 2 và khoản 1 (a), 1 (b) Điều 3 tại các Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần thì phạm vi áp dụng của các Hiệp định là:
1. Chỉ áp dụng đối
với các loại thuế mang tính chất trực thu đánh trên lợi tức hoặc thu nhập. Đó
là những loại thuế hiện nay ở Việt Nam đang có hiệu lực như: thuế lợi tức, thuế
thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,
thuế thu nhập từ tiền bản quyền và những loại thuế tương tự như các loại thuế
trên mà ở Việt Nam ban hành sau này (nếu có). Các loại thuế gián thu như thuế
doanh thu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất, nhập khẩu không thuộc
phạm vi áp dụng của Hiệp định (thực hiện theo nội luật của Việt Nam).
2. Hiệp định được
áp dụng đối với tất cả các đối tượng gồm: các cá nhân, các công ty, xí nghiệp
hoặc bất cứ tổ chức nào được coi là công ty, xí nghiệp (theo giác độ thuế)...
là đối tượng chịu thuế theo quy định tại luật thuế của Việt Nam cũng như của Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam.
3. Hiệp định chỉ
được áp dụng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của Việt Nam và của các nước ký kết
Hiệp định với Việt Nam.
II.
NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH
Các Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký với các nước thông thường có 30 Điều,
ngoài ra tuỳ theo từng Hiệp định cụ thể có thể còn có Nghị định thư hoặc công
hàm trao đổi kèm theo Hiệp định để giải thích nội dung của một số điều khoản
trong Hiệp định nếu điều khoản đó cần thiết phải có sự quy định chi tiết hơn.
Nghị định thư là một bộ phận của Hiệp định có giá trị pháp lý như các điều khoản
của Hiệp định. Còn công hàm trao đổi có giá trị pháp lý thấp hơn, nó có thể được
sửa đổi, bổ sung không phải theo các thủ tục như khi sửa đổi, bổ sung các điều
khoản của Hiệp định.
Nội dung các điều
khoản của Hiệp định được quy định như sau:
1. Nội dung của Điều
1 và Điều 2 quy định đối tượng áp dụng của Hiệp định và các loại thuế áp dụng của
Hiệp định.
2. Nội dung của Điều
3 là đưa ra những định nghĩa cho các từ ngữ được dùng trong Hiệp định, như vậy
đối với những từ ngữ có thể có nhiều cách hiểu ở các điều khoản khác đều được
hiểu theo nội dung đã được định nghĩa tại Điều này, còn những từ ngữ chưa được
định nghĩa tại Điều này được hiểu theo nội dung quy định tại luật của Việt Nam
và của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam tuỳ theo ngữ cảnh cụ thể.
3. Nội dung của Điều
4 quy định các tiêu chuẩn để xác định một cá nhân, một xí nghiệp, công ty... là
đối tượng cư trú của Việt Nam hay của Nước ký hiệp định với Việt Nam.
Để thực hiện đúng
Hiệp định thì vấn đề đầu tiên là phải xác định một đối tượng có phải là đối tượng
cư trú của một trong hai nước hay không, tức là xác định đối tượng đó có phải
là đối tượng chịu thuế của Việt Nam hay của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam
hay không. Sau đó phải xác định tiếp đối tượng đó thuộc đối tượng cư trú của nước
nào vì theo quy định ở các điều khoản tại Hiệp định thì nhiều khoản thu nhập chỉ
chịu thuế ở nước mà đối tượng đó là đối tượng cư trú hoặc có những khoản thu nhập
phải chịu thuế ở cả hai nước những đối với nước mà đối tượng đó không phải là đối
tượng cư trú và là đối tượng thực hưởng thì chỉ được đánh thuế theo một mức thuế
suất giới hạn quy định tại Hiệp định như những khoản thu nhập quy định tại Điều
10 "Lợi tức cổ phần", Điều 11 "Lãi từ tiền cho vay" và Điều
12 "Tiền bản quyền".
a. Trong trường hợp
đối tượng cư trú đó là một cá nhân và là đối tượng cư trú của cả hai nước thì
phải căn cứ vào tiêu chuẩn sau đây để xác định đối tượng đó có phải chỉ là đối
tượng cư trú của Việt Nam theo Hiệp định này hay không:
+ Nếu cá nhân đó
có nhà ở thường trú ở Việt Nam thì sẽ là đối tượng cư trú của Việt Nam;
+ Nếu cá nhân đó
có nhà ở thường trú ở cả hai nước nhưng có ở Việt Nam quan hệ cá nhân chặt chẽ
hơn (cha, mẹ, vợ, con) và có quyền lợi kinh tế nhiều hơn ở Việt Nam thì đối tượng
đó là đối tượng cư trú của Việt Nam;
+ Nếu không xác định
được các tiêu chuẩn nói trên và cá nhân đó thường xuyên sống ở Việt Nam thì sẽ
là đối tượng cư trú của Việt Nam;
+ Nếu cá nhân đó sống
thường xuyên ở cả hai nước hoặc cũng không sống thường xuyên ở nước nào thì cá
nhân đó là đối tượng cư trú của nước mà cá nhân đó mang quốc tịch và nếu trường
hợp cá nhân đó chỉ mang quốc tịch của nước thứ ba thì giữa Bộ Tài chính Việt
Nam và Bộ Tài chính nước kia sẽ xác định cụ thể cá nhân đó là đối tượng cư trú
của nước nào thông qua thoả thuận song phương.
b. Trường hợp đối
tượng là một công ty, xí nghiệp, hiệp hội... (khác với một cá nhân) là đối tượng
cư trú ở cả hai nước thì phải căn cứ vào các tiêu chuẩn sau đây để xác định đối
tượng đó có phải là đối tượng cư trú của Việt Nam hay không:
+ Nếu đối tượng đó
được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh ở Việt Nam thì là đối tượng cư trú của
Việt Nam;
+ Trường hợp đối
tượng đó được thành lập hoặc đăng ký ở cả hai nước thì đối tượng đó sẽ là đối
tượng cư trú của Việt Nam nếu có ở Việt Nam trụ sở điều hành thực tế.
4. Nội dung của Điều
5 quy định các tiêu chuẩn để xác định một cơ sở thường trú, đây là một nội dung
có tính chất quan trọng trong việc thực hiện Hiệp định bởi vì theo quy định tại
Điều 7 thì một công ty nước ngoài chỉ phải chịu thuế lợi tức ở Việt Nam nếu
công ty đó hoạt động ở Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú ở Việt Nam tức
là có ở Việt Nam một cơ sở thường trú.
Theo quy định của
Hiệp định thì từ "cơ sở thường trú" dùng để chỉ một cơ sở kinh doanh
cố định mà thông qua cơ sở này một xí nghiệp hoặc công ty nước ngoài tiến hành
một phần hoặc toàn bộ hoạt động của mình tại Việt Nam.
Trừ những trường hợp
đặc biệt thì nhìn chung một công ty nước ngoài được coi là cơ sở thường trú tại
Việt Nam nếu:
a. Có ở Việt Nam:
trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng, nhà máy, xưởng sản xuất, mỏ, giếng dầu
hoặc khí... hoặc bất kỳ một địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên nào khác;
b. Có ở Việt Nam một
địa điểm xây dựng, công trình xây dựng lắp đặt hay các hoạt động giám sát đối với
các địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt nói trên với điều kiện các
địa điểm, công trình và các hoạt động giám sát đó kéo dài trên 183 ngày;
c. Có ở Việt Nam một
đại lý môi giới, đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác, nếu các đại
lý này dành toàn bộ hay hầu hết hoạt động đại lý của mình cho công ty nước
ngoài đó;
d. Có ở Việt Nam một
đối tượng (bao gồm cá nhân, công ty và bất cứ tổ chức nào) hoạt động tại Việt
Nam thay mặt cho xí nghiệp nước ngoài đó trong các trường hợp sau:
* Có và thường
xuyên thực hiện thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài;
* Không có thẩm
quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nhưng thường xuyên đại diện cho công
ty thực hiện việc giao hàng hoá tại Việt Nam;
e. Công ty nước
ngoài thực hiện việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam
thông qua người làm công cho công ty nước ngoài hay một đối tượng khác ở Việt
Nam được công ty nước ngoài uỷ nhiệm với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói
trên kéo dài trong một thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian gộp lại quá 183
ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng liên tục.
5. Nội dung của Điều
6 "Thu nhập từ bất động sản" quy định tất cả các khoản thu nhập phát
sinh từ việc trực tiếp sử dụng, cho thuê các loại bất động sản đều phải nộp thuế
tại nước có bất động sản đó. Như vậy, nếu bất động sản ở Việt Nam thì mọi thu
nhập phát sinh từ bất động sản đó đều phải nộp thuế tại Việt Nam không phân biệt
người thực hưởng thu nhập đó có phải là người cư trú hay công ty đó có cơ sở
thường trú ở Việt Nam hay không.
6. Nội dung chính
của Điều 7 quy định một công ty nước ngoài chỉ phải nộp thuế ở Việt Nam nếu như
công ty đó có một cơ sở thường trú ở Việt Nam và số thuế lợi tức phải nộp ở Việt
Nam chỉ được tính trên số lợi tức mà cơ sở thường trú đó mang lại cho công ty
nước ngoài.
Nhưng trong thực tế
việc xác định lợi tức cho một cơ sở thường trú thường gặp khó khăn do đó nội
dung của Điều 7 trong Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã ký giữa Việt Nam với
các nước thường có các quy định khác với nguyên tắc nói trên như sau:
a. Có thể phân bổ
lợi tức của công ty nước ngoài đó cho cơ sở thường trú tại Việt Nam dựa trên một
tiêu thức nào đó dễ xác định như doanh thu, số lao động...
Ví dụ: một công ty
nước ngoài A có một cơ sở thường trú tại Việt Nam có doanh thu phát sinh tại cơ
sở thường trú đó là 100, tổng doanh thu của công ty A là 1.000 và tổng lợi tức
của công ty là 300 thì lợi tức của công ty A phân bổ cho cơ sở thường trú tại
Việt Nam được xác định như sau:
Doanh thu phát
sinh của
Lợi tức phân bổ
cho cơ sở thường trú tại Việt Nam
/cơ sở thường trú của = x Tổng lợi tức
công ty A tại Việt Nam Tổng
doanh thu của công ty A của Công ty A
100
/Lợi tức phân bổ cho = x 300 = 30
cơ sở thường trú 1.000
b. Trong trường hợp cơ sở thường
trú không cung cấp đủ các cơ sở chính xác cho việc quản lý thu thuế thì có thể
áp dụng theo phương pháp khác như là áp dụng một tỷ lệ thuế lợi tức tính trên
doanh thu như chế độ hiện hành đã quy định tại Thông tư 30 TC/TCT ngày
18-7-1992 về chế độ thuế áp dụng đối với các nhà thầu nước ngoài kinh doanh tại
Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài và Thông tư số 07 TC/TCT ngày
30-3-1992 về thuế đối với các nhà thầu phụ nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí.
7. Nội dung của Điều 8 "Vận
tải biển và vận tải hàng không" quy định lợi tức của một công ty hàng không
hoặc công ty tàu biển thu được từ hoạt động vận tải quốc tế (hàng hoá và hành
khách) chỉ phải nộp thuế ở nước mà công ty đó là đối tượng cư trú hoặc ở nước
mà công ty đó có trụ sở điều hành thực tế.
Ví dụ: Hãng hàng không quốc gia
Việt Nam mặc dù có chuyến bay chở hành khách, hàng hoá từ Việt Nam đi Singapore
và chở hành khách, hàng hoá từ Singapore về Việt Nam nhưng chỉ phải nộp thuế lợi
tức ở Việt Nam vì hãng hàng không quốc gia Việt Nam là công ty cư trú của Việt
Nam và tương tự như vậy hãng hàng không Singapore chỉ phải nộp thuế lợi tức ở
Singapore.
8. Nội dung của Điều 9 "Những
xí nghiệp liên kết" quy định Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định tránh đánh
thuế hai lần với Việt Nam có quyền áp dụng những quy định của mình về việc chống
chuyển giá giữa các xí nghiệp liên kết, giữa các xí nghiệp có quan hệ kinh tế với
nhau mà khác với quan hệ kinh tế giữa các xí nghiệp độc lập.
Ví dụ: Một công ty nước ngoài có
một công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam thì lúc này mối quan hệ kinh tế giữa
công ty nước ngoài đó với xí nghiệp 100% vốn nước ngoài đều không được coi là
quan hệ giữa hai xí nghiệp độc lập và như vậy theo quy định của Hiệp định, Việt
Nam có quyền tính toán lại các quan hệ kinh tế giữa hai công ty theo nguyên tắc
giá thị trường để xác định đúng số lợi tức phát sinh của xí nghiệp 100% vốn nước
ngoài từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
9. Nội dung của các Điều 10
"Lợi tức cổ phần", Điều 11 "Lãi từ tiền cho vay" và Điều 12
"Tiền bản quyền" quy định Việt Nam và nước ký kết Hiệp định với Việt
Nam có quyền đánh thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập từ lợi tức cổ phần,
lãi từ tiền cho vay và tiền bản quyền theo nguyên tắc đánh thuế tại nguồn.
Ví dụ 1: Công ty A là một công
ty cổ phần của Việt Nam trả lợi tức cổ phần cho cổ đông là đối tượng cư trú của
Thái Lan (một công ty hoặc một cá nhân của Thái Lan) thì Việt Nam có quyền đánh
thuế trên một số tiền lợi tức cổ phần này mặc dù cổ đông đó không phải là đối
tượng cư trú tại Việt Nam nhưng tiền lãi cổ phần đó có nguồn gốc phát sinh tại
Việt Nam.
Ví dụ 2: Công ty A là một đối tượng
cư trú của Việt Nam có vay của công ty B là đối tượng cư trú của Thái Lan một
khoản tiền 1.000 đồng với lãi suất 10%/năm, lãi tiền cho vay phát sinh hàng năm
là 100 đồng. Khi công ty A trả cho công ty B thì Việt Nam có quyền đánh thuế
trên số tiền lãi đó tại Việt Nam vì số tiền lãi đó có nguồn gốc phát sinh tại
Việt Nam.
Ví dụ 3: Công ty A là đối tượng
cư trú của Thái Lan có chuyển giao công nghệ cho công ty B là đối tượng cư trú
của Việt Nam và công ty B phải trả tiền cho công ty A về việc sở hữu hoặc sử dụng
công nghệ nói trên thì Việt Nam có quyền đánh thuế tại Việt Nam trên số tiền mà
công ty B sẽ trả cho công ty A.
Ngoài nội dung nói trên thì nội
dung của các Điều 10, Điều 11 và Điều 12 còn quy định thuế suất giới hạn áp dụng
ở mỗi nước trong trường hợp đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng, có nghĩa là
đối với các khoản thu nhập từ lợi tức cổ phần, lãi từ tiền cho vay, tiền bản
quyền thì các nước có quyền đánh thuế đối với những khoản thu nhập đó phát sinh
ở nước mình nhưng việc đánh thuế trong trường hợp đó không quá thuế suất đã ghi
ở Hiệp định. Trong các Hiệp định Việt Nam đã ký kết với các nước, thuế suất giới
hạn nói trên thường là 10%. Thuế suất này thường được quy định ở khoản 2 của Điều
10, 11 và 12 trong các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
10. Nội dung Điều 13 "Thu
nhập từ việc chuyển nhượng tài sản" quy định khoản thu nhập phát sinh từ
việc chuyển nhượng tài sản có thể bị đánh thuế ở cả hai nước. Tuy nhiên, có một
số thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng tài sản chỉ bị đánh thuế ở nước nơi người
chuyển nhượng tài sản là người cư trú như các trường hợp sau đây:
* Thu nhập phát sinh từ việc
chuyển nhượng tài sản là tàu thuỷ hoặc máy bay và các động sản được sử dụng
trong hoạt động vận tải quốc tế hay từ việc chuyển nhượng các động sản gắn liền
với hoạt động của các tàu thuỷ hoặc máy bay đó;
* Lợi tức thu được từ việc chuyển
nhượng các cổ phiếu, cổ phần (không bao gồm việc chuyển nhượng các cổ phần, cổ
phiếu của một công ty có tài sản bao gồm chủ yếu là bất động sản).
11. Nội dung Điều 14 "Hoạt
động dịch vụ cá nhân độc lập" quy định lợi tức thu được từ hoạt động kinh
doanh của một cá nhân trong các lĩnh vực hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật,
giáo dục, thầy thuốc, bác sĩ phẫu thuật, luật sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế
toán viên sẽ phải nộp thuế ở cả hai nước nếu người đó có ở nước kia:
- Một hoặc nhiều cơ sở kinh
doanh cố định (Văn phòng, trụ sở chính thức hay không chính thức) để thực hiện
các hoạt động của mình; hoặc
- Có mặt ở nước kia trong một thời
gian hoặc nhiều thời gian gộp lại đến 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng
liên tục.
12. Nội dung Điều 15 "Hoạt
động cá nhân phụ thuộc" quy định các khoản tiền lương, tiền công và các
khoản thù lao mang tính chất tiền lương, tiền công sẽ phải nộp thuế ở cả hai nước
nếu người đó thuộc 1 trong 3 trường hợp sau đây:
* Trường hợp có mặt ở nước kia
trong một thời gian hoặc nhiều thời gian gộp lại không quá 183 ngày trong mỗi
giai đoạn 12 tháng liên tục;
* Trường hợp người đó có mặt ở nước
kia dưới 183 ngày nhưng chủ lao động hoặc đại diện của chủ lao động trả lương
và tiền công cho người đó là một đối tượng cư trú của nước kia.
* Trường hợp người đó có mặt ở
nước kia dưới 183 ngày nhưng tiền lương và tiền công do cơ sở thường trú hoặc cơ
sở kinh doanh cố định mà chủ lao động có tại nước kia trả.
13. Nội dung của Điều 16
"Thù lao cho giám đốc" quy định các khoản thù lao và các khoản thanh
toán tương tự do một công ty, xí nghiệp hay bất cứ một tổ chức tương tự nào là
đối tượng cư trú của nước này trả cho cá nhân là người cư trú của nước kia do
anh ta đã tham gia giám đốc hoặc thành viên ban giám đốc của công ty trả thù
lao thì có thể đánh thuế ở cả hai nước.
Ví dụ: Một xí nghiệp 100% vốn nước
ngoài hoặc một xí nghiệp liên doanh ở Việt Nam trong ban giám đốc có thành viên
là người nước ngoài, người nước ngoài đó không là đối tượng cư trú của Việt Nam
(ở Việt Nam không quá 183 ngày hoặc không ở ngày nào trong một năm) nhưng theo
quy định của điều này thì Việt Nam có quyền đánh thuế đối với khoản thù lao do
xí nghiệp 100% vốn nước ngoài hay xí nghiệp liên doanh nói trên trả cho người
đó.
14. Nội dung Điều 17 "Thu
nhập của nghệ sĩ và vận động viên" quy định như sau:
* Một nghệ sĩ hay vận động viên
của nước này sang nước kia biểu diễn thì thu nhập phát sinh từ hoạt động biểu
diễn của nghệ sĩ và vận động viên đó tại nước kia có thể bị đánh thuế ở cả hai
nước, kể cả trường hợp thu nhập phát sinh tại nước kia được trả trực tiếp cho
nghệ sĩ, vận động viên hay trả gián tiếp thông qua đối tượng khác, ví dụ như
công ty tổ chức biểu diễn hay các tổ chức đăng cai.
* Một nghệ sĩ hay vận động viên
của nước thứ nhất sang nước kia biểu diễn nhưng kinh phí biểu diễn kể cả tiền
thù lao cho nghệ sĩ hay vận động viên do chính quyền các cấp của nước thứ nhất
đài thọ thì thu nhập của nghệ sĩ và vận động viên đó chỉ phải nộp thuế ở nước
thứ nhất.
15. Nội dung của Điều 18
"Tiền lương hưu" quy định bất kỳ khoản lương hưu nào (trừ lương hưu
đã quy định ở Điều 19) sẽ chỉ phải nộp thuế ở nước nơi người nhận lương hưu đối
tượng cư trú.
16. Nội dung Điều 19 "Phục
vụ Chính phủ" quy định các khoản tiền công và tiền lương hưu trả cho một
cá nhân do làm các công việc phục vụ cho Nhà nước này tại nước kia sẽ chỉ bị
đánh thuế ở một nước theo các nguyên tắc:
1. Đối với tiền lương hưu.
Sẽ chỉ phải nộp thuế ở nước kia
nếu cá nhân đó vừa là đối tượng cư trú của nước kia vừa mang quốc tịch ở nước
kia.
2. Đối với tiền công.
Sẽ chỉ phải nộp thuế ở nước kia
nếu cá nhân đó vừa là đối tượng cư trú nước kia và mang quốc tịch của nước kia
hoặc cá nhân đó tuy không mang quốc tịch ở nước kia nhưng có thực hiện tại nước
kia những công việc khác (ngoài công việc chính là phục vụ cho Nhà nước của nước
ấy, ví dụ như làm thuê cho công ty khác hoặc có hoạt động kinh doanh riêng tại
nước kia) mà chính vì lý do đó người ấy trở thành đối tượng cư trú của nước
kia.
3. Đối với các khoản tiền công,
tiền lương hưu trả cho một cá nhân do làm các công việc có liên quan đến kinh
doanh của Nhà nước này tại nước kia thì không áp dụng nguyên tắc chỉ đánh thuế ở
một nước như nói trên mà vẫn thực hiện việc đánh thuế ở cả hai nước theo nguyên
tắc đã quy định tại Điều 15, 16 và Điều 18 của Hiệp định.
17. Nội dung Điều 20 "Thu
nhập của sinh viên và thực tập sinh" quy định một sinh viên hay thực tập
sinh là đối tượng cư trú của nước thứ nhất sang nước kia chỉ với mục đích là học
tập sẽ được miễn thuế ở nước kia đối với:
- Các khoản tiền mà người sinh
viên hoặc thực tập sinh đó nhận được từ nguồn ngoài nước kia để phục vụ cho việc
sinh hoạt và học tập tại nước kia;
- Một số tiền nhất định hàng năm
quy định trong Hiệp định (tuỳ theo từng nước), người sinh viên hoặc thực tập
sinh đó thu được từ việc làm công tại nước kia với điều kiện việc làm công đó
phải liên quan trực tiếp đến việc học tập của sinh viên hay thực tập sinh.
Ví dụ: Một sinh viên Úc sang Việt
Nam thực tập tại Văn phòng tư vấn pháp luật ở Việt Nam, anh ta được gia đình ở
bên Úc gửi tiền sang Việt Nam là 3.000USD và anh ta làm thêm ở Việt Nam với thu
nhập là 2.000 USD. Trong đó 1.000 USD được Văn phòng tư vấn pháp luật trả cho
công việc tư vấn của anh ta tại Văn phòng, và 1.000 USD được trả do làm ở một
nhà máy nào đó thì anh ta được miễn thuế ở Việt Nam 3.000 USD từ Úc gửi sang Việt
Nam và 1.000 USD do Văn phòng tư vấn pháp luật trả, còn 1.000 USD thu được từ
việc làm ở nhà máy phải nộp thuế tại Việt Nam.
18. Nội dung Điều 22 "Thu
nhập khác" quy định tất cả các khoản thu nhập khác chưa được đề cập đến
trong Hiệp định thì chỉ phải nộp thuế ở nước mà người đó là người cư trú.
19. Nội dung Điều 23 "Tránh
đánh thuế hai lần" quy định các biện pháp tránh đánh thuế hai lần thực hiện
ở Việt Nam và ở Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Trong các Hiệp định Việt
Nam đã ký với các nước có nhiều phương pháp tránh đánh thuế hai lần như phương
pháp trừ thuế toàn bộ, phương pháp trừ thuế thông thường, phương pháp trừ thuế
gián tiếp, phương pháp miễn thuế toàn phần, phương pháp miễn thuế luỹ tiến và
phương pháp trừ khoán thuế. Việc áp dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào từng
nước. Ở Việt Nam, trong tất cả các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã ký với
các nước thì Việt Nam áp dụng hai phương pháp tránh đánh thuế hai lần sau đây:
1. Phương pháp trừ thuế toàn bộ:
Nội dung của phương pháp này là
trường hợp một đối tượng cư trú ở Việt Nam nhận được thu nhập ở Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam và theo quy định của Hiệp định, khoản thu nhập đó phải nộp
thuế ở cả hai nước thì Việt Nam sẽ cho trừ vào số thuế phải nộp ở Việt Nam số
thuế đã nộp ở nước ngoài. Tuy nhiên, số thuế đã nộp ở nước ngoài được trừ đó
không lớn hơn số thuế phải nộp ở Việt Nam.
Ví dụ 1: Một công ty A của Việt
Nam có một cơ sở thường trú ở Thái Lan. Trong năm 1993 có lợi tức chịu thuế là
1.000. Trong đó có 300 là lợi tức chịu thuế phát sinh ở Thái Lan, thuế suất thuế
lợi tức của công ty A ở Việt Nam là 45%, ở Thái Lan là 30% thì việc tránh đánh
thuế hai lần được thực hiện như sau:
- Tính số thuế công ty A đã nộp ở
Thái Lan là:
300 x 30% = 90
- Tính số thuế phải nộp ở Việt
Nam đối với phần thu nhập ở nước ngoài là:
300 x 45% = 135
- Tính số thuế phải nộp ở Việt
Nam trên tổng thu nhập
và khấu trừ thuế đã nộp ở nước
ngoài là:
(1.000 x 45%) - 90 = 360.
Ví dụ 2: Cũng vẫn ví dụ trên
nhưng thuế suất thuế lợi tức đối với Công ty A tại Việt Nam là 25%, thì việc
tránh đánh thuế hai lần được thực hiện như sau:
- Tính số thuế phải nộp ở Việt
Nam đối với phần
thu nhập ở nước ngoài là: 300 x
25% = 75
Như vậy là thuế đã nộp ở nước
ngoài (90) cao hơn số thuế phải nộp ở Việt Nam. Như vậy thì công ty A chỉ được
trừ vào thuế phải nộp ở Việt Nam bằng số thuế phải nộp ở Việt Nam tính trên thu
nhập từ nước ngoài là 75.
- Tính số thuế phải nộp ở Việt
Nam trên tổng thu nhập và khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài là: (1.000 x 25%) -
75 = 175
2. Phương pháp trừ khoán thuế:
Nội dung của phương pháp này là
trường hợp một đối tượng cư trú ở Việt Nam nhận được thu nhập ở Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam và theo quy định của Hiệp định khoản thu nhập đó phải nộp thuế
ở cả hai nước nhưng theo quy định của pháp luật nước kia khoản thuế đó được miễn
giảm thuế ở nước kia thì Việt Nam vẫn cho trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam
số thuế đáng lẽ phải nộp nhưng thực tế không phải nộp ở nước kia do nước kia miễn
giảm thuế. Tuy nhiên, số thuế đáng lẽ phải nộp ở nước ngoài được trừ đó không lớn
hơn số thuế phải nộp ở Việt Nam.
Ví dụ 1: Cũng vẫn ví dụ 1 như đã
đưa ra ở điểm 1 nói trên nhưng theo quy định của luật đầu tư của Thái Lan thì
cơ sở thường trú của công ty A ở Thái Lan được miễn thuế lợi tức thì việc tránh
đánh thuế hai lần được thực hiện như sau:
- Tính số thuế của công ty A
đáng lẽ phải nộp ở Thái Lan là:
300 x 30% = 90
- Tính số thuế phải nộp ở Việt
Nam
đối với thu nhập ở nước ngoài
là: 300 x 45% = 135
- Tính số thuế phải nộp ở Việt
Nam
trên tổng thu nhập và khấu trừ
thuế
đáng lẽ phải nộp ở nước ngoài
là: (1.000 x 45%) - 90 = 360
Ví dụ 2: Cũng vẫn như ví dụ 2 đã
đưa ra ở điểm 1 nói trên, Công ty A được miễn thuế ở Thái Lan thì việc khấu trừ
khoản thuế ở Việt Nam đối với công ty cũng chỉ được trừ số thuế là 75 chứ không
được trừ số thuế đáng lẽ phải nộp ở Thái Lan là 90.
20. Nội dung Điều 24 "Không
phân biệt đối xử", Điều 25 "Thủ tục thoả thuận song phương", Điều
26 "Trao đổi thông tin" quy định các nội dung sau đây:
1. Điều 24 "Không được phân
biệt đối xử" quy định tất cả các đối tượng mang quốc tịch của một nước ký
kết, mọi cơ sở thường trú hay một công ty con của một xí nghiệp của một nước ký
kết có ở Việt Nam sẽ không phải chịu mọi loại thuế thu nhập nào hay cách xác định
thu nhập chịu thuế, thuế suất và miễn giảm thuế khác và nặng hơn so với người
mang quốc tịch Việt Nam, xí nghiệp Việt Nam trong cùng một hoàn cảnh như nhau.
2. Điều 25 "Thủ tục thoả
thuận song phương" quy định khi một đối tượng cư trú của Việt Nam hay của
Nước ký kết với Việt Nam thấy rằng việc nộp thuế của mình không đúng với những
quy định của Hiệp định thì có thể khiếu nại thẳng đến Bộ Tài chính hay Tổng cục
thuế ở nước mà người đó là đối tượng cư trú, không phải khiếu nại lên cơ quan
thuế từng cấp theo như quy định tại Luật thuế của hai nước.
Ví dụ 1: Một cá nhân Pháp sang
Việt Nam làm việc với thời gian dưới 183 ngày trong một năm. Trường hợp này anh
ta là người cư trú của Pháp nên khi anh ta thấy rằng việc thu thuế thu nhập của
anh ta ở Việt Nam là không đúng Hiệp định thì anh ta khiếu nại với Bộ Tài chính
Pháp.
Ví dụ 2: Cũng vẫn với ví dụ trên
nhưng anh ta có thời hạn ở Việt Nam trên 183 ngày trong một năm và trường hợp
này anh ta là người cư trú của Việt Nam nếu anh ta thấy việc thu thuế thu nhập
của anh ta ở Pháp không đúng với Hiệp định thì anh ta khiếu nại đến Bộ Tài
chính hoặc Tổng cục thuế Việt Nam.
Để giải quyết các khiếu nại đó
thì hai Bộ Tài chính hoặc hai tổng cục thuế của hai nước sẽ bàn bạc trao đổi với
nhau để đạt được một thoả thuận chung nhằm mục đích giải quyết khiếu nại đó và
đi đến quyết định cuối cùng.
3. Điều 26 "Trao đổi thông
tin" quy định nhằm thực hiện đúng Hiệp định ở cả hai nước và đặc biệt
tránh trốn thuế ở một nước hoặc cả hai nước thì hai Bộ Tài chính hoặc hai Tổng
cục thuế phải thực hiện trao đổi thông tin cho nhau một cách thường xuyên hoặc
theo yêu cầu đối với từng trường hợp cụ thể hoặc cả hai hình thức với các nội
dung thông tin sau đây:
- Các luật thuế hoặc các luật có
liên quan đến các loại thuế quy định trong Hiệp định (kể cả văn bản);
- Các thông tin liên quan phục vụ
cho việc xác định thu nhập chịu thuế của một đối tượng cư trú của nước này có ở
nước kia (nhằm tránh trốn thuế, để cưỡng chế thuế hoặc làm tài liệu trong quá
trình tố tụng của Toà án...).
21. Nội dung các Điều từ Điều 27 đến Điều 30 là các điều khoản quy định ngày Hiệp định
có hiệu lực thi hành, ngày kết thúc Hiệp định, nội dung quy định chung là:
- Hiệp định có hiệu lực thi hành
từ ngày đầu của năm tiếp theo năm dương lịch hoặc năm tài chính mà cả hai bên
ký kết đã làm xong các thủ tục phê duyệt hoặc phê chuẩn Hiệp định.
- Hiệp định sẽ có hiệu lực vô thời
hạn nhưng sau 5 năm kể từ năm Hiệp định bắt đầu có hiệu lực thi hành từng nước
có thể kết thúc Hiệp định bằng cách thông báo cho nước ký kết kia thông qua đường
ngoại giao văn bản thông báo kết thúc Hiệp định.
B. HƯỚNG DẪN
THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH
I. VIỆC THỰC HIỆN
CÁC LOẠI THUẾ HIỆN HÀNH TẠI VIỆT NAM THUỘC PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA HIỆP ĐỊNH
1. Đối với thuế lợi tức:
a. Đối với các xí nghiệp công ty
Việt Nam và các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, xí nghiệp 100% vốn nước
ngoài, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh với nước ngoài, các
nhà thầu chính tham gia các hợp đồng dầu khí và các xí nghiệp nước ngoài trong
các khu chế xuất ở Việt Nam thì thuế lợi tức thực hiện như các quy định hiện
hành và nếu có các khoản thu nhập từ nước ngoài đã nộp thuế ở nước ngoài thì được
khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam theo các phương pháp tránh đánh thuế
hai lần như đã hướng dẫn tại công văn này.
b. Đối với các nhà thầu nước
ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài và các tổ chức, cá nhân nước ngoài không thuộc
các đối tượng ở điểm a nói trên kinh doanh ở Việt Nam thuộc đối tượng nộp thuế
theo quy định tại Thông tư số 30TC/TCT ngày 18-7-1992, Thông tư số 07 TC-TCT
ngày 30-3-1992 và Thông tư số 73 TC/TCT ngày 30-8-1993 thì xử lý như sau:
* Nếu xác định tổ chức và cá
nhân nước ngoài đó kinh doanh ở Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú (đối với
công ty) hoặc một cơ sở kinh doanh cố định (đối với một cá nhân) thì vẫn thực
hiện theo như các quy định hiện hành tại các Thông tư nói trên.
* Nếu xác định tổ chức và cá
nhân nước ngoài đó kinh doanh ở Việt Nam không thông qua một cơ sở thường trú
hoặc một cơ sở kinh doanh cố định thì:
+ Đối với đối tượng kinh doanh ở
Việt Nam thông qua đại lý (theo hướng dẫn tại Thông tư 73 TC/TCT ngày
30-8-1993) thì chỉ thực hiện khấu trừ tại nguồn thuế doanh thu không khấu trừ tại
nguồn thuế lợi tức.
+ Đối với đối tượng kinh doanh ở
Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư nước ngoài (theo hướng dẫn tại thông
tư 30 TC/TCT ngày 18-7-1992 và Thông tư 07 TC/TCT ngày 30-3-1992) thì chỉ thực
hiện khấu trừ tại nguồn thuế doanh thu với mức thuế bằng 50% số thuế thu gộp đã
quy định tại hai Thông tư nói trên.
2. Đối với thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao
a. Đối với những công dân Việt
Nam đi công tác, lao động ... ở nước ngoài nếu người đó trở thành đối tượng cư
trú ở nước ngoài (nước có ký kết Hiệp định với Việt Nam) thì không đánh thuế
thu nhập đối với những khoản thu nhập thường xuyên phát sinh ở nước ngoài trong
năm tài chính mà người đó là đối tượng cư trú nước ngoài.
b. Đối với những đối tượng cư
trú của Việt Nam (công dân Việt Nam, cá nhân khác định cư tại Việt Nam, người
nước ngoài làm việc tại Việt Nam...) nếu có thu nhập từ nước ngoài và đã nộp
thuế ở nước ngoài thì khi tính thuế thu nhập tại Việt Nam được trừ số thuế đã nộp
tại nước ngoài như hướng dẫn về các biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại công
văn này.
3. Đối với thuế chuyển lợi nhuận
ra nước ngoài và thuế thu nhập từ tiền bản quyền:
Hai loại thuế này được quy định
tại Điều 10 và Điều 12 của Hiệp định,
vì vậy, khi thu thuế phải xác định được người thực nhận lợi nhuận hoặc người nhận
tiền bản quyền là người cư trú của nước nào, sau đó đối chiếu với thuế suất giới
hạn quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam với nước đó. Thuế suất thuế chuyển lợi
nhuận hoặc thuế thu nhập tiền bản quyền ở Việt Nam đối với trường hợp đó thấp
hơn hoặc bằng thuế suất giới hạn trong Hiệp định thì thực hiện như bình thường,
nếu cao hơn thì chỉ thu bằng thuế suất giới hạn trong Hiệp định.
Các hướng dẫn tại điểm 1 và 2 mục
I này chỉ áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài là đối tượng cư trú của
nước đã ký kết Hiệp định với Việt Nam và Hiệp định đó đã có hiệu lực thi hành tại
Việt Nam.
II. TỔ CHỨC THỰC
HIỆN HIỆP ĐỊNH TRONG NGÀNH THUẾ
Để các quy định tại Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần, Việt Nam đã ký với các nước được thực hiện đúng và đầy
đủ, Tổng cục thuế quy định và hướng dẫn về việc tổ chức thực hiện trong ngành
thuế như sau:
1. Đối với Tổng cục thuế:
Ngoài nhiệm vụ tham gia đàm phán
và phục vụ ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các nước thì phòng Hợp
tác quốc tế thuộc Tổng cục Thuế là đầu mối giúp Tổng cục thuế các công việc sau
đây:
* Nghiên cứu soạn thảo các văn bản
hướng dẫn và giải thích việc thực hiện đối với từng Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần đã có hiệu lực thi hành để trình Bộ hoặc Tổng cục ban hành theo thẩm
quyền.
* Hướng dẫn và kiểm tra các cục
thuế trong việc thực hiện các Hiệp định.
* Nghiên cứu và tham gia đàm
phán với cơ quan thuế nước ngoài về các tranh chấp, khiếu nại xảy ra trong quá
trình thực hiện Hiệp định đòi hỏi phải giải quyết bằng thoả thuận song phương
giữa cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế nước ngoài.
* Trao đổi thông tin với cơ quan
thuế nước ngoài theo quy định của Hiệp định.
* Giải thích Hiệp định cho các Cục
thuế và các đối tượng nộp thuế đối với từng trường hợp cụ thể.
2. Đối với Cục thuế các tỉnh,
thành phố:
Mỗi Cục thuế các tỉnh, thành phố
cần bố trí một tổ cán bộ từ 2 đến 3 người thuộc phòng đầu tư nước ngoài (đối với
những Cục thuế đã được phép của Bộ Tài chính thành lập phòng Đầu tư nước ngoài)
hoặc thuộc phòng thu thuế đối với các xí nghiệp quốc doanh (đối với những Cục
thuế chưa được thành lập phòng Đầu tư nước ngoài) để làm nhiệm vụ:
* Nghiên cứu các Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần Việt Nam đã ký với các nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện
Hiệp định này để thường xuyên giúp Cục thuế cũng như các Chi cục thuế nắm được
nội dung quy định của từng Hiệp định và thực hiện đúng Hiệp định.
* Là đầu mối của Cục thuế trong
việc giải thích Hiệp định đối với tất cả các đối tượng nộp thuế ở mỗi tỉnh, thành
phố.
* Xác nhận các chứng từ đã nộp
thuế ở Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài (nếu có yêu cầu) để họ được
phép khấu trừ thuế ở nước ngoài.
* Thực hiện các nhiệm vụ thu thập
thông tin để phục vụ việc trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài theo
yêu cầu của Tổng cục thuế đối với từng trường hợp cụ thể.
Trên đây là những điều hướng dẫn
chung về các Hiệp định cũng như về việc thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần. Yêu cầu các Cục thuế nghiên cứu và tổ chức thi hành ngay. Trong quá
trình thi hành có vướng mắc đề nghị phản ánh về Tổng cục thuế để có hướng dẫn kịp
thời. Đối với những nội dung đặc thù của từng Hiệp định chưa hướng dẫn tại công
văn này, Tổng cục thuế sẽ có văn bản hướng dẫn riêng.