Luật Đất đai 2024

Nghị định 10-CP năm 1960 Quy định chế độ tiết kiệm gỗ do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.

Số hiệu 10-CP
Cơ quan ban hành Hội đồng Chính phủ
Ngày ban hành 26/04/1960
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường
Loại văn bản Nghị định
Người ký Phạm Văn Đồng
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
*******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Số:10-CP

 Hà Nội ngày 26 tháng 04 năm 1960

 

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ TIẾT KIỆM GỖ

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Xét tình hình khai thác, cung cấp, sử dụng, bảo quản gỗ hiện nay, nhất là việc sử dụng gỗ còn nhiều điều bất hợp lý, gây lãng phí nghiêm trọng;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Nông lâm;
Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp thứ ngày 9 tháng 3 năm 1960 của Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. – Nay đặt chế độ tiết kiệm gỗ thành một kỷ luật của Nhà nước mà các cấp, các ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành, để:

- Chấm dứt tình trạng lãng phí gỗ;

- Bảo vệ rừng và cải tạo rừng;

- Bảo đảm nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của Nhà nước và nhân dân.

Chế độ tiết kiệm gỗ bao gồm các mặt: khai thác, cung cấp, sử dụng và bảo quản gỗ.

Mục I – KHAI THÁC GỖ

 

– Mỗi  khi mở công trường khai thác gỗ, các tổ chức được phép khai thác phải:

- Khai thác đúng trong phạm vi khu rừng đã được ấn định;

- Theo đúng thể lệ lâm nghiệp;

- Khai thác có kế hoạch toàn diện, tận dụng đến mức tối đa cành, nhánh.

Cơ quan Lâm nghiệp có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra các tổ chức khai thác gỗ để bảo đảm kỹ thuật khai thác, tạo điều kiện tái sinh tự nhiên của rừng; đồng thời thực hiện kế hoạch trồng rừng để bảo vệ rừng và cải tạo rừng.

Điều 3. – Bộ Nông lâm quy định kích thước tối thiểu được chặt đối với từng loại gỗ ở từng vùng; cùng với Bộ Nội thương nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ quy định giá thu mua và giá bán gỗ cho hợp lý nhằm khuyến khích khai thác toàn diện.

Điều 4. – Cơ quan Lâm nghiệp và các tổ chức được phép khai thác gỗ phải tìm mọi cách vận chuyển và bảo quản gỗ không được để chỗ ứ đọng, mất phẩm chất ở rừng, ở ven đường hoặc ở các bến; khi nào gỗ được mang đến những địa điểm đã quy định để giao nhận mới coi là đã hoàn thành nhiệm vụ  khai thác.

Mục II – SỬ DỤNG VÀ CUNG CẤP GỖ

Điều 5. – Sử dụng gỗ phải tiết kiệm, trường hợp có thể dùng tre hoặc các vật liệu khác thay gỗ có lợi hơn thì phải triệt để dùng các vật liệu đó thay gỗ.

Điều 6. – Sử dụng gỗ phải hợp lý theo đúng nguyên tắc gỗ nào dùng vào việc ấy. Bản quy định tạm thời về sử dụng gỗ ban hành kèm theo Nghị định này chia loại các công việc cần gỗ và định nhóm gỗ thích hợp cho từng loại công việc. Bộ Nông lâm phối hợp với Ủy ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu sắp xếp các loại gỗ hiện có vào từng nhóm và xác định sức chịu của từng loại để hướng dẫn việc sử dụng gỗ cho đúng, vừa đảm bảo được chất lượng của công trình kiến thiết vừa không bó hẹp vào một số gỗ quen dùng gây khó khăn cho việc cung cấp gỗ. Cơ quan kiến thiết các công trình xây dựng, các cơ sở sản xuất  dùng gỗ làm nguyên liệu phải theo đúng các điều quy định nói trên mà lựa chọn loại gỗ cần thiết.

Điều 7. – Cỡ gỗ xẻ từ nay thống nhất theo các kích thước trong bản quy định cỡ gỗ xẻ ban hành kèm theo Nghị định này. Các tổ chức cung cấp và sử dụng gỗ phải theo đúng kích thước quy định mà xẻ gỗ và thiết kế. Trường hợp thật đặc biệt cần cỡ gỗ xẻ khác thì phải được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đồng ý.

Điều 8. – Chỉ có các công trình đã ghi trong kế hoạch Nhà nước và có thiết kế được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước duyệt mới được cung cấp gỗ. Những công trình không ghi trong kế hoạch Nhà nước, hoặc thiết kế ở nước ngoài chưa đưa về kịp, hoặc những công trình chưa được duyệt thiết kế kỹ thuật toàn bộ, mà muốn được cung cấp gỗ ngay để chuẩn bị cho kịp thì phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép và chỉ được cung cấp dần tùy theo sự cần thiết.

Điều 9. – Các tổ chức phụ trách cung cấp gỗ theo kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm ký hợp đồng và cung cấp gỗ kịp thời cho các công trình nói ở điều 8, theo đúng các bản thiết kế đã được duyệt. Khi ký hợp đồng hai bên dựa trên cơ sở bản thiết kế và căn cứ vào các bản quy định tạm thời về sử dụng gỗ và cỡ gỗ xẻ mà tính toán cụ thể, ký kết cho sát với nhu cầu.

Điều 10. – Các ngành và các Ủy ban hành chính  địa phương nhất thiết không được làm sai kế hoạch cung cấp và phân phối gỗ, như lấy kế hoạch gỗ phân phối cho chỗ này dùng cho chỗ khác.

Điều 11. – Các công trường xây dựng, các xưởng cưa, xưởng đồ mộc, xưởng chế biến, vv… không được đem bán ra ngoài, tùy tiện dùng, hoặc hủy bỏ các loại gỗ đã dùng vào các công việc tạm thời như ván cốp pha, cột đà giáo, cột chống cầu hoặc các loại gỗ thừa khác. Tổng công ty vật liệu xây dựng thuộc Bộ Nội thương có trách nhiệm thống nhất thu mua và có kế hoạch chế biến,  phân phối, sử dụng hợp lý các loại gỗ đó.

Mục III. – BẢO QUẢN GỖ

Điều 12. – Các tổ chức khai thác, cung cấp, sử dụng gỗ đều phải bảo quản gỗ bằng mọi phương tiện và phương pháp thích hợp từ khi mới chặt hạ cho đến khi xây lắp để tránh hoặc hạn chế sự hư hỏng gỗ do thời tiết và sâu, nấm, mối, mọt gây nên. Việc bảo quản phải làm theo bản quy định tạm thời về bảo quản gỗ kèm theo Nghị định này.

Điều 13. – Bộ Nông lâm có trách nhiệm hướng dẫn và cùng các ngành có liên quan nghiên cứu quy định về ngâm, tẩm gỗ bằng hóa chất để trình Thủ tướng Chính phủ duyệt và ban hành.

Mục IV. – THƯỞNG PHẠT

Điều 14. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân gương mẫu trong việc chấp hành chế độ tiết kiệm có nhiều sáng kiến, nhiều thành tích sẽ được khen thưởng; tùy từng trường hợp có thể được tuyên dương, được giải thưởng, bằng khen, hoặc huân chương.

Các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không chấp hành đúng chế độ tiết kiệm gỗ thì tùy từng trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính (cảnh cáo, giáng chức, cách chức) hoặc bị truy tố trước tòa án và bị xử phạt theo sắc lệnh số 267-SL ngày 15-06-1956.

Điều 15. – Ủy ban thanh tra Trung ương của Chính phủ và các Ban Thanh tra các cấp có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành chế độ tiết kiệm gỗ.

Bộ Nông lâm, Bộ Kiến trúc và Bộ Nội thương có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra các tổ chức khai thác, cung cấp và sử dụng gỗ.

Điều 16. – Các quy định trước trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Nghị định này thi hành kể từ ngày 26-04-1960.

 

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

 

QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ SỬ DỤNG GỖ

Để thực hiện bản quy định sử dụng gỗ dưới đây, cần chú ý những điểm sau:

1. Tiêu chuẩn quy định sử dụng gỗ vào các công trình xây dựng ghi trong bản quy định này đã được mở rộng đến nhóm VII là nhóm bao gồm trên 1/3 tổng số gỗ khai thác hiện nay.

2. Bản quy định này không quy định bó hẹp với những tên gỗ nhất định mà chỉ quy định từng nhóm, loại gỗ cho mỗi loại công trình để tránh khó khăn cho ngành sử dụng gỗ trong trường hợp ở địa phương không có những tên gỗ đã quy định, còn việc chọn gỗ thích hợp để đảm bảo an toàn của công trình là do ngành  thiết kế tính toán lựa chọn và chịu trách nhiệm về chuyên môn.

3. Sử dụng gỗ theo bản quy định này với điều kiện thực hiện tốt chế độ bảo quản gỗ, ngâm, tẩm gỗ, chủ động làm tăng thêm tính chất lâu bền của gỗ.

4. Để khỏi có sự lầm lẫn trong khi sử dụng gỗ, từ nay gỗ chia thành 8 nhóm. Trong từng nhóm có các loại, cấp, hạng, … như quy định của Bộ Nông lâm.

I. GỖ LÀM NHÀ

A. Nhà lâu năm, quan trọng:

1. Trong nhà máy xí nghiệp, hội trường, trường học, rạp hát, nói chung là nơi thường xuyên có nhiều người làm việc, được dùng những loại gỗ có tên trong nhóm II trừ lim xanh, táu mật, nghiến, để làm những bộ phận khó thay đổi lại chịu những lực nặng (lực nén, lực oằn, lực kéo) như vì kèo, xà gồ, dầm, cầu phong… hoặc  những bộ phận trực tiếp chịu ảnh hưởng của hóa chất trong các kho chứa hóa chất hoặc trong xưởng chế hóa chất. Những địa phương không có những loại khác trong nhóm II mới được dùng lim xanh, táu mật, nghiến.

2. Trong những nhà thông thường như nhà ăn, nhà ở, nhà  làm việc, nhà kho nhỏ, … chỉ được dùng những gỗ có tên trong nhóm V để làm các bộ phận khó thay đổi và chịu những lực nặng. Nếu dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống để làm những bộ phận đó thì phải tẩm thuốc chống sâu, nấm.

Về khuôn cửa bất cứ nhà kho, hội trường, hay nhà thường cũng chỉ được dùng gỗ nhóm V trở xuống.

3. Bộ phận không chịu lực nặng, dễ thay đổi như cánh cửa, ván cửa, … chỉ được dùng gỗ có tên từ nhóm VI trở xuống, Lati, Litô được dùng gỗ từ nhóm V trở lên.

B. Nhà tạm thời:

1. Nhà tạm thời dưới hai năm (kể cả nhà lắp ghép di động ở các công trường):  không dùng gỗ, trừ những trường hợp không có tre, nứa thay thế.

Nếu dùng gỗ chỉ được dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống.

2. Nhà  tạm thời từ hai đến năm năm: chỉ được dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống. Nếu dùng gỗ nhóm VII làm các bộ phận ở trên mái chịu sức nặng thì phải tẩm hóa chất.

C. Ván cốp pha:

 Chỉ được dùng gỗ từ nhóm VII trở xuống và phải dùng ít nhất là 3 lần. Ván lát, đà giáo để công nhân làm việc được dùng gỗ nhóm VI, nhóm VII.

D. Cột chống và đà giáo:

Không dùng gỗ, trừ trường hợp không có tre thay thế. Nếu dùng cột gỗ chỉ được dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống và được dùng gỗ thẳng. Đối với những công trình lớn cần những cột chống và đà giáo cao đến 30m thì được dùng gỗ nhóm V.

E. Cọc móng:

 Đối với móng nhà dân dụng không dùng gỗ. Đối với những công trình lớn chỉ được dùng gỗ từ nhóm V trở xuống.

II. GỖ ĐÓNG TÀU, THUYỀN, PHÀ.

1.Tàu, thuyền, phà, sà-lan đi biển được dùng riêng những loại gỗ: lim xanh, sang le, chò chỉ, tếch, huỳnh, cà ổi. Ngoài ra có thể dùng gỗ từ nhóm II đến nhóm V. Đối với các loại gỗ sang le, chò chỉ, cà ổi, tếch, huỳnh,  chỉ dùng để đóng vỏ, còn khung thuyền thì dùng gỗ nhóm V và nhóm VI.

2. Thuyền, phà ở nước ngọt chỉ được dùng gỗ từ nhóm V trở xuống. Đối với thuyền từ 10 tấn trở lên, khung thuyền có thể dùng gỗ nhóm II, đối với thuyền nhỏ hơn khung thuyền chỉ được dùng gỗ từ nhóm V trở xuống.

3. Cột buồm: ưu tiên dùng cồng tía, táu mật, ngoài ra có thể dùng gỗ trong nhóm V.

III. GỖ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, CẦU CỐNG, GIAO THÔNG VẬN TẢI

1. Những bộ phận thường xuyên phơi mưa, nắng và chịu sức nặng như cột tàu, dầm cầu, xà cầu,  ván cầu, khung, ván cửa đập, cửa cống, … được dùng gỗ trong nhóm II và V.

2. Thành cầu, tay vịn… chỉ được dùng gỗ nhóm V và nhóm VI.

3. Tà vẹt chỉ được dùng gỗ từ nhóm V trở xuống. Tà vẹt cầu và ghi được dùng gỗ trong nhóm II. Đối với gỗ từ nhóm IV trở lên nếu đường kính dưới 0m30 và dài 2m50 cũng được dùng làm tà vẹt. Bệ xe ô-tô, sàn toa xe hỏa được dùng gỗ nhóm V và nhóm VI.

4. Cột chống cầu chỉ được dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống.

5. Cột điện: chỉ được dùng gỗ từ  nhóm V đến nhóm VII.

6. Sà ngang cột điện: nếu mang từ 10 giây trở lên được dùng gỗ trong nhóm II (giây nối, điện thoại) nếu số giây ít hơn chỉ được dùng gỗ trong nhóm V trở xuống. Sà ngang cột truyền điện cao thế được dùng gỗ nhóm II.

IV. GỖ CÔNG NGHIỆP VÀ TIỂU THỦ CÔNG NGHỆP

1. Trụ mỏ: chỉ được dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống và phải tẩm bằng hóa chất.

2. Gỗ lạng: được dùng riêng những gỗ  có tên sau: lát hoa, lát chun, lát gia đồng, huê mộc, lý mộc.

3. Đồ mỹ nghệ: được dùng gỗ trong nhóm IV và I trừ các loại gỗ dành cho công nghiệp gỗ lạng.

4. Đồ đạc thông thường: chỉ được dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống.

5. Thùng đựng nước mắm: được ưu tiên dùng mỡ và giổi.

6. Công nghiệp dệt vải: được ưu tiên dùng giẻ đỏ để làm thoi và suốt.

7. Gỗ dán: được ưu tiên dùng những khúc thẳng, tròn của những loại gỗ sau: lát hoa, gội, ràng ràng mật, xoan đào, trám hồng, trám trắng, re xanh, mỡ, vàng tâm.

V. GỖ NÔNG CỤ VÀ NGƯ CỤ

1. Theo cày được ưu tiên dùng giẻ đỏ, muồng tía và bún.

2. Náng cầy, khung bừa và nông cụ khác được ưu tiên dùng gỗ nghiến.

3. Cọc đáy (đánh cá) chỉ được dùng gỗ nhóm V, nhóm VI.

4. Cọc phơi lưới: không dùng gỗ, mà dùng tre thay thế.

KÍCH THƯỚC

I. Gỗ để xây dựng và đóng đồ đạc (tạo tác) từ nay phải dùng kích thước như sau:

1. Đường kính đo ở đầu nhỏ khúc gỗ 15 phân trở lên không kể vỏ.

2. Chiều dài khúc gỗ từ 1mét trở lên, không kể sẹo.

3. Các xưởng xẻ máy được ưu tiên phân phối gỗ to và dài để xẻ.

II. Những công trình hoặc bộ phận dùng gỗ dài từ 4m50 trở lên:

1. Đóng tàu, thuyền, phà, cột buồm, cột đáy: ưu tiên được dùng những gỗ dài. Đối với thuyền ngư dân chỉ được dùng 70% gỗ trên 4m50, còn 30% phải dùng gỗ từ 2m50 đến 4m50.

2. Dầm nhà, xà nhà, dầm cầu, cột cầu, cầu phong, vì kèo, cột nhà, cột điện được dùng gỗ dài từ 4m50 trở lên nhưng cố gắng dùng gỗ ngắn nối ở những chỗ không quan trọng.

III. Những công trình hoặc bộ phận được dùng gỗ dài từ 2m50 đến 4m40:

Khuôn cửa, cánh cửa, ván cốp pha, tà vẹt, thùng bao bì hạng lớn, …

IV. Gỗ dài dưới 2m50 dành cho các công việc sau:

Công nghiệp ván sàn, bàn ghế, tủ giường, áo quan, thùng bao bì nhỏ, thùng đựng nước, công cụ, học cụ, sà ngang, cột điện, vv…

V. Đồ chơi trẻ em, guốc, đồ dùng lặt vặt:

Chỉ được dùng gỗ dài từ 1m50 trở xuống.

VI. La-ti, Li-tô:

Chủ yếu dùng bắp, bìa để xẻ và phải tẩm bằng hóa chất.

VII. Những công trình đặc biệt sau đây được dùng những gỗ có kích thước riêng: trụ mỏ, cột điện, gỗ dán, tà vẹt.

Những quy đinh trên đây sẽ được bổ sung cụ thể thêm sau mỗi thời kỳ kiểm tra, đúc kết kinh nghiệm trong quá trình sử dụng gỗ.

Ban hành kèm theo Nghị định số 10-CP ngày 26-04-1960 của Hội đồng Chính phủ quy định chế độ tiết kiệm gỗ

 

 

TL. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ CHỦ NHIỆM VĂN PHÒNG KINH TẾ TÀI CHÍNH
THỦ TƯỚNG PHỦ




Nguyễn Năng Hách

 

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

CÁC CỠ GỖ XẺ DÙNG  TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG NHÀ CỬA

I. NHỮNG GỖ VÁN

Chiều ngang

Chiều dài

Từ 10cm trở lên

1.cm

1.5

2.0

2.5

 Từ 20cm trở lên

3.0

3.5

4.0

 

Chiều ngang

Chiều dày

Chiều ngang

Chiều dày

3cm

3,

3,

3,

3,

3,

4,

4,

4,

4,

4,

4,

5,

5,

5,

5,

5,

1cm

3,

4,

8,

10,

12,

4,

6,

8,

10,

12,

14,

5,

6,

8,

10,

12,

6cm

6,

6,

8,

8,

8,

8,

8,

8,

10,

10,

10,

10,

10,

10,

12,

12,

12cm

14,

16,

8,

10,

12,

14,

16,

18,

10,

12,

14,

16,

18,

20,

12,

14,

 

Chiều ngang

Chiều dày

Chiều ngang

Chiều dày

5,

5,

6,

6,

6,

14,

16,

6,

8,

10,

12,

15,

16,

18,

20

20,

15,

16,

18,

20,

Chú thích: kích thước dùng thống nhất theo mét (thước tây).

Ban hành kèm theo Nghị định số 10-CP ngày 26-04-1960 của Hội đồng Chính phủ  quy định chế độ tiết  kiệm gỗ

 

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀ BẢO QUẢN GỖ TRÁNH MỌT, MỤC, NỨT, NẺ

I. BẢO QUẢN GỖ CÂY TRƯỚC KHI XẺ

1. Nguyên tắc chung là gỗ chặt hạ xong phải đưa ngay ra khỏi rừng và vận chuyển nhanh chóng đến nơi tiêu thụ, càng nhanh càng tốt, đó là cách bảo quản tốt nhất.

2. Trường hợp vì điều kiện vận chuyển thiếu thốn, phải để gỗ tại bãi, bến, ở ngoài trời trong một thời gian thì phải làm những việc bảo quản sau đây:

a) Nếu thời gian để gỗ từ 2 tháng đến 6 tháng thì:

- Đối với  những gỗ cây từ nhóm VI trở lên, cần kê cách mặt đất ít nhất là 20 phân bằng đá, gạch, sắt, …Hai đầu gỗ phải chát bùn, để giảm bớt nứt nẻ.

- Đối với gỗ từ nhóm  VII trở xuống, phải được quét hoặc phun bằng hóa chất thích hợp.

b) Nếu thời gian để gỗ từ 6 tháng trở lên, tất cả các gỗ đều phải được quét hoặc phun bằng hóa chất trừ những gỗ thuộc nhóm II, mà phần giác đã lướt đi, chỉ còn lõi, nếu còn giác cũng phải quét thuốc.

3. Tại các kho dự trữ gỗ cây:

a) Thời gian dự trữ từ 3 tháng trở lên thì:

- Nếu có điều kiện phải ngâm gỗ dưới nước không phân biệt các loại gỗ.

- Trường hợp phải để gỗ trên cạn, thì đối với gỗ từ nhóm VI trở lên phải kê trên đà bằng gạch, béton, đá, gỗ đã tẩm thuốc, … ít nhất phải che đậy hai đầu gỗ để khỏi bị nứt nẻ; đối với gỗ từ nhóm VII trở xuống phải phun,  quét bằng hóa chất thích hợp. Đầu gỗ cũng phải che đậy.

Trong thời gian dự trữ, nếu thấy cây gỗ nào bị sâu, nấm ăn thì phải đưa ra sử dụng ngay để khỏi lan ra cây khác.

b) Trong việc sắp xếp gỗ trong kho, lán, phải bố trí để cây nào vào kho trước, sẽ được đem sử dụng trước, tránh tình trạng chỉ những cây xếp ở trên được sử dụng trước, những cây ở dưới nằm lại kho hàng năm.

c) Kho và bãi để gỗ đều phải sạch sẽ thoáng gió, không ứ nước, không để cỏ mọc um tùm.

II. BẢO QUẢN GỖ XẺ TRƯỚC KHI XÂY DỰNG

1. Nguyên tắc  là gỗ phải khô mới đem xẻ, hết sức tránh xẻ gỗ tươi để khỏi nứt nẻ, cong, vênh.

2. Trường hợp phải xẻ gỗ còn tươi, thì sau thời gian để tại kho, xưởng xẻ ít nhất là một tháng mới nên giao cho các ngành tiêu thụ. Trong thời gian đó phải bảo quản như sau:

a) Gỗ ván, gỗ thanh, gỗ hợp… phải xếp cách nhau bằng những thanh gỗ nhỏ kê ở giữa và hai đầu.

Những thanh gỗ kê càng nhỏ càng tốt, khoảng cách giữa các thanh gỗ kê tùy theo chiều dài của gỗ xẻ bảo quản để cho thoáng gió.

b) Gỗ phải kê cách mặt đất ít nhất là 40 phân, đà kê bằng gạch, đá, bê-tông, sắt, gỗ tẩm hóa chất, …

Ở hai đầu gỗ cần bôi những chất có tác dụng phòng mục và tránh nứt nẻ như: bùn trộn muối, vôi, hóa chất, …

3. Các nhà máy xẻ cần có đủ kho để chứa gỗ xẻ, không được để gỗ xẻ ngoài trời.

III. BẢO QUẢN CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

1. Công trình ở ngoài trời như tà vẹt, cột điện, vỏ tàu, phà, gỗ cầu…

a) Những bộ phận bằng những gỗ trong nhóm II, nếu không có giác bám, thì tạm thời không phải tẩm thuốc.

b) Những bộ phận phải chịu những sức nặng lớn hoặc ở chỗ khó thay đổi như cột tàu, dầm cầu, chòi quan sát, … đều phải được bảo quản bằng hóa chất và phương pháp thích hợp.

c) Tà vẹt, cột điện, trụ mỏ, phải tẩm bằng hóa chất trước khi đem sử dụng.

2. Công trình xây dựng dưới mái che:

a) Những bộ phận làm bằng gỗ trong nhóm II, nếu không có giác bám, thì không phải tẩm thuốc, trừ một vài loại mau mục như đinh gan ga.

b) Những bộ phận quan trọng như: cột nhà, dầm, xà gồ, cầu phong, vì kèo…nếu dùng gỗ từ nhóm VI trở xuống thì nhất thiết phải được bảo quản bằng hóa chất trước khi xây lắp.

Các bộ phận khác trên mái tuy ít quan trọng, nhưng nếu làm bằng gỗ từ nhóm VII trở xuống cũng phải được bảo quản bằng hóa chất trước khi xây lắp.

c) Những công trình ở nước mặn phải chống hà như: tẩm thuốc, bọc tôn…

3. Nguyên tắc chung trong vấn đề bảo quản các công trình xây dựng là gỗ phải được pha chế xong xuôi mới đem tẩm thuốc. Trường hợp phải pha chế lại sau khi tẩm, thì phải quét hoặc phun thuốc vào những nơi gỗ bị cưa, cắt, đục,…

4. Những công trình đã xây dựng rồi cũng cần phun quét hóa chất để tránh mục, mọt.

Ban hành kèm theo Nghị định số 10-CP ngày 26-04-1960 Hội đồng Chính phủ quy định chế độ tiết kiệm gỗ

35
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị định 10-CP năm 1960 Quy định chế độ tiết kiệm gỗ do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
Tải văn bản gốc Nghị định 10-CP năm 1960 Quy định chế độ tiết kiệm gỗ do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
Chưa có văn bản song ngữ
Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị định 10-CP năm 1960 Quy định chế độ tiết kiệm gỗ do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
Số hiệu: 10-CP
Loại văn bản: Nghị định
Lĩnh vực, ngành: Tài nguyên - Môi trường
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày ban hành: 26/04/1960
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm a và b Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:

a) Khai thác: - Hiện nay kích thích tối thiểu các loại gỗ được phép khai thác vẫn theo quy định cũ (Nghị định số 596-TTg ngày 03-10-1955 và Nghị định số 5-NL/NĐ của Bộ Nông lâm):

- Gỗ thiếc mộc: đường kính từ 45 phân trở lên.

- Gỗ hồng sắc: đường kính từ 40 phân trở lên.

- Gỗ tạp: đường kinh từ 30 phân trở lên.

b) Giá thu mua và giá bán gỗ: - Thi hành chỉ thị số 126-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công chỉ đạo giá lâm sản.

Xem nội dung VB
Điều 3. – Bộ Nông lâm quy định kích thước tối thiểu được chặt đối với từng loại gỗ ở từng vùng; cùng với Bộ Nội thương nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ quy định giá thu mua và giá bán gỗ cho hợp lý nhằm khuyến khích khai thác toàn diện.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm a và b Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm c Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
c) Vận xuất, vận chuyển, phân phối gỗ: - Để hợp lý hóa tổ chức khai thác, vận chuyển và phân phối gỗ, giảm bớt trung gian, tránh tình trạng chậm trễ, từ nay Tổng cục Lâm nghiệp ngoài nhiệm vụ khai thác, vận xuất gỗ, sẻ đảm nhiệm luôn việc vận chuyển và trực tiếp cung cấp gỗ cho các cơ quan Nhà nước (Qua việc ký hợp đồng), Bộ Nội thương chỉ đảm nhiệm phần cung cấp gỗ cho nhân dân. Từ nay đến cuối tháng 09-1960, phải thanh toán số gỗ đã khai thác từ mấy năm trước còn để lại rừng, dọc đường hoặc các bến. Gỗ quốc doanh lâm khẩn khai thác chậm nhất là trong một tháng phải đưa ra khỏi rừng và trong ba tháng phải đưa đến nơi giao nhận. Gỗ sơn tràng khai thác, Lâm nghiệp cũng phải nghiên cứu quy định cụ thể thời gian và vận động họ đưa gỗ đã chặt, hạ ra khỏi rừng mau chóng.

Để bảo quản gỗ chóng mưa lũ, các ngành các Ủy ban hành chính địa phương chủ yếu là Lâm nghiệp và Tổng công ty Vật liệu xây dựng (Bộ Nội thương) phải hết sứa chú trọng bảo quản gỗ, chống mưa lũ, không được để mất, trước mắt là từ tháng 6 đến tháng 9 năm nay, sang các năm tới, phải có kế hoạch và chuẩn bị lực lượng chóng lũ ngay từ trước mùa mưa để khỏi bị động.

Xem nội dung VB
Điều 4. – Cơ quan Lâm nghiệp và các tổ chức được phép khai thác gỗ phải tìm mọi cách vận chuyển và bảo quản gỗ không được để chỗ ứ đọng, mất phẩm chất ở rừng, ở ven đường hoặc ở các bến; khi nào gỗ được mang đến những địa điểm đã quy định để giao nhận mới coi là đã hoàn thành nhiệm vụ khai thác.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm c Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm d Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
d) Sử dụng gỗ: - Các ngành sử dụng gỗ phải căn cứ vào Nghị định số 10-CP ngày 26-04-1960 và các bản quy định tạm thời kèm theo Nghị định mà xây dựng chế độ sử dụng tiết kiệm gỗ cho ngành mình tùy theo mục đích sử dụng và điều kiện nguyên liệu ở mỗi nơi. Phải dựa trên cơ sở phát động tư tưởng công nhân và cán bộ mà đặt chế độ cho thích hợp trên tinh thần triệt để triệt để tiết kiệm gỗ.

Bộ Kiến trúc có trách nhiệm xây dựng chế độ sử dụng gỗ về các công trình dân dụng để áp dụng chung cho tất cả cả các ngành, các địa phương.

Tổng cục Lâm nghiệp và Ủy ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu sắp xếp các loại gỗ hiện có vào từng nhóm và xác định sức chịu của từng loại gỗ để hướng dẫn việc sử dụng gỗ cho đúng. Các tài liệu phải hoàn thành gấp và cung cấp cho các ngành trước ngày 30-08-1960.

Bộ Nội thương thu nhập và phổ biến kinh nghiệm cho các cơ sở thủ công nghiệp, các cơ sở đóng đồ dùng và cách sử dụng gỗ, chế tạo các đồ dùng như bàn, ghế, giường, tủ, v.v… có nhiều tác dụng, tiết kiệm được gỗ.

Tổng cục Lâm nghiệp, Ủy ban Khoa học Nhà nước, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cần triệu tập những cuộc hội nghị trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành, bổ sung chế độ sử dụng gỗ đã ban hành.

Xem nội dung VB
Điều 6. – Sử dụng gỗ phải hợp lý theo đúng nguyên tắc gỗ nào dùng vào việc ấy. Bản quy định tạm thời về sử dụng gỗ ban hành kèm theo Nghị định này chia loại các công việc cần gỗ và định nhóm gỗ thích hợp cho từng loại công việc. Bộ Nông lâm phối hợp với Ủy ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu sắp xếp các loại gỗ hiện có vào từng nhóm và xác định sức chịu của từng loại để hướng dẫn việc sử dụng gỗ cho đúng, vừa đảm bảo được chất lượng của công trình kiến thiết vừa không bó hẹp vào một số gỗ quen dùng gây khó khăn cho việc cung cấp gỗ. Cơ quan kiến thiết các công trình xây dựng, các cơ sở sản xuất dùng gỗ làm nguyên liệu phải theo đúng các điều quy định nói trên mà lựa chọn loại gỗ cần thiết.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm d Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm đ Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
đ) Xẻ gỗ - Trong quý III năm 1960, các cơ sở xẻ phải thực hiện xẻ gỗ theo đúng kích thước đúng như bản quy định tạm thời về cỡ gộ xẻ kèm theo Nghị định số 10-CP ngày 26-04-1960. Bộ Kiến trúc có trách nhiệm điều chỉnh, hợp lý hóa các cơ sở xẻ gỗ trong quý III năm 1960, đồng thời chuẩn bị kế hoạch thống nhất quản lý lực lượng xẻ.

Xem nội dung VB
Điều 7. – Cỡ gỗ xẻ từ nay thống nhất theo các kích thước trong bản quy định cỡ gỗ xẻ ban hành kèm theo Nghị định này. Các tổ chức cung cấp và sử dụng gỗ phải theo đúng kích thước quy định mà xẻ gỗ và thiết kế. Trường hợp thật đặc biệt cần cỡ gỗ xẻ khác thì phải được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đồng ý.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm đ Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm e Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
e) Thiết kế và cung cấp gỗ - Các ngành có công trình xây dựng phải làm bản thiết kế chia ra từng mục, từng phần cụ thể như: gỗ xẻ làm mái nhà, làm cửa, gỗ lát đà giáo, ván cốp pha, v.v…

Việc cung cấp gỗ theo chế độ sẽ thi hành dần từng bước, bắt đầu từ quý IV năm 1960, ngành nào có thiết kế rõ ràng cụ thể, sẽ được cung cấp gỗ ngay, ngành nào chưa có thiết kế chỉ được cung cấp từng phần. Công trình xây dựng nào bây giờ mới bắt đầu thiết kế thì phải thiết kế theo quy định mới về sử dụng gỗ.

Những công trình có thể dùng tre, nứa thay thế thì phải dùng tre, nứa, tại những nơi không có tre, nứa, phải có chứng nhận của Ủy ban huyện sở tại mới được cung cấp gỗ.

Khi cung cấp gỗ, cần có sự kiểm tra trực tiếp để giải quyết hợp lý trên cơ sở thực tế theo đúng trình tự cung cấp: ưu tiên cho các công trình đương làm dở, ưu tiên cho công nghiệp, cho những công trình có kế hoạch.

Bắt đầu từ tháng 01-1961, nếu không có thiết kế thì không được cung cấp gỗ, trừ trường hợp đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Ngành cung cấp gỗ (Lâm nghiệp và Vật liệu xây dựng) chuẩn bị gỗ dữ trữ, bắt đầu từ 01-1961, phải bảo đảm thực hiện cung cấp gỗ theo đúng chế độ.

Xem nội dung VB
Điều 8. – Chỉ có các công trình đã ghi trong kế hoạch Nhà nước và có thiết kế được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước duyệt mới được cung cấp gỗ. Những công trình không ghi trong kế hoạch Nhà nước, hoặc thiết kế ở nước ngoài chưa đưa về kịp, hoặc những công trình chưa được duyệt thiết kế kỹ thuật toàn bộ, mà muốn được cung cấp gỗ ngay để chuẩn bị cho kịp thì phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép và chỉ được cung cấp dần tùy theo sự cần thiết.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm e Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Bảo quản gỗ được hướng dẫn bởi Điểm g Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
g) Bảo quản gỗ: - Thi hành ngay việc bảo quản gỗ bằng mọi phương tiện và phương pháp thích hợp theo như bản quy định tạm thời về bảo quản gỗ kèm theo Nghị định số 10-CP.

Đặc biệt chú trọng biện pháp có hiệu quả nhất và lợi nhất là không để gỗ ứ đọng trong rừng hoặc các bến bằng cách bảo đảm vận chuyển hết sức nhanh chóng từ nơi khai thác đến nơi tiêu thụ. Việc tẩm gỗ bằng hóa chất, thi hành thông tư số 160-TTg ngày 22-07-1960 của Thủ tướng Chính phủ.

Từ nay đến hết quý I năm 1961, Ủy ban Khoa học Nhà nước và Tổng cục Lâm nghiệp phải đề ra chương trình nghiên cứu dùng các loại thuốc trong nước tẩm gỗ để khỏi phải mua hóa chất nước ngoài.

Xem nội dung VB
Điều 12. – Các tổ chức khai thác, cung cấp, sử dụng gỗ đều phải bảo quản gỗ bằng mọi phương tiện và phương pháp thích hợp từ khi mới chặt hạ cho đến khi xây lắp để tránh hoặc hạn chế sự hư hỏng gỗ do thời tiết và sâu, nấm, mối, mọt gây nên. Việc bảo quản phải làm theo bản quy định tạm thời về bảo quản gỗ kèm theo Nghị định này.
Bảo quản gỗ được hướng dẫn bởi Điểm g Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm h Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
h) Kiểm tra - Để đẩy mạnh việc thực hiện chế độ tiết kiệm gỗ. Bắt đầu từ quý IV năm 1960, Ủy ban Thanh tra Chính phủ và các Ban Thanh tra các cấp cùng với Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng công ty Vật liệu xây dựng, Bộ Kiến trúc sẽ tiến hành một đợt tổng kiểm tra toàn bộ đầu tiên để phát hiện những vấn đề cần phải uốn nắn, bổ khuyết kịp thời.

Xem nội dung VB
Điều 15. – Ủy ban thanh tra Trung ương của Chính phủ và các Ban Thanh tra các cấp có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành chế độ tiết kiệm gỗ.

Bộ Nông lâm, Bộ Kiến trúc và Bộ Nội thương có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra các tổ chức khai thác, cung cấp và sử dụng gỗ.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm h Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm i Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:
...
2. Xây dựng các chế độ:
...
i) Thưởng phạt – Sau đợt kiểm tra toàn bộ đầu tiên sẽ xét duyệt khen thưởng và xử phạt theo như điều 14 đã ghi trong Nghị định.

Xem nội dung VB
Điều 14. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân gương mẫu trong việc chấp hành chế độ tiết kiệm có nhiều sáng kiến, nhiều thành tích sẽ được khen thưởng; tùy từng trường hợp có thể được tuyên dương, được giải thưởng, bằng khen, hoặc huân chương.

Các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không chấp hành đúng chế độ tiết kiệm gỗ thì tùy từng trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính (cảnh cáo, giáng chức, cách chức) hoặc bị truy tố trước tòa án và bị xử phạt theo sắc lệnh số 267-SL ngày 15-06-1956.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm i Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Quy trình khai thác gỗ được hướng dẫn bởi Quyết định 603-BLN năm 1963 có hiệu lực từ ngày 08/09/1963
Căn cứ Nghị định số 10-CP ngày 26 tháng 4 năm 1960 của Hội đồng Chính phủ quy định chế độ tiết kiệm gỗ và Thông tư số 161-TTg ngày 25 tháng 7 năm 1960 của Thủ tướng Chính phủ thi hành nghị định đó.
...
Điều 1: Nay ban hành kèm theo quyết định này bản “quy trình tạm thời về khai thác gỗ” áp dụng cho tất cả các khu rừng của Nhà nước mở cho khai thác.

Điều 2: Các ông Cục trưởng cục Khai thác, trưởng ty lâm nghiệp, Giám đốc lâm trường trực thuộc Tổng Cục lâm nghiệp chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
...
QUY TRÌNH TẠM THỜI VỀ KHAI THÁC GỖ

Điều 1:
...
Chương 1:ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 2: Ở những khu rừng của Nhà nước mở cho khai thác, việc khai thác gỗ phải tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nơi mà tổ chức theo một trong hai hình thức sau đây:
...
Điều 3: Căn cứ vào điều kiện thiên nhiên, tình hình rừng và kỹ thuật lâm nghiệp nước ta hiện nay, tạm thời quy định áp dụng hai phương thức khai thác là chặt trắng và chặt chọn.

Điều 4: Chặt trắng áp dụng chủ yếu cho những rừng nghèo gỗ cần chặt hết cây để trồng lại rừng. Có thể áp dụng chặt trắng cho một số rừng cây đặc sản lấy tái sinh nhân tạo là chủ yếu.
...
Điều 5:
...
Điều 6: Sản lượng khai thác hàng năm của các khu rừng không được vượt quá sản lượng khai thác đã tính toán và đã được duyệt. Trường hợp cá biệt tính toán chưa sát hoặc để đáp ứng nhu cầu đột xuất về gỗ cần phải khai thác vượt quá sản lượng đã được duyệt thì phải báo cáo và được Tổng Cục lâm nghiệp cho phép.

Điều 7: Theo nguyên tắc thì chỉ được đốn chặt rừng khi đã đến tuổi khai thác. Trong điều kiện nay chưa định được tuổi khai thác cho từng loại cây và chưa quy hoạch được toàn bộ rừng thì tạm thời quy định như sau:
...
Chương 2: ĐIỀU KHOẢN ÁP DỤNG CHO CÁC LÂM TRƯỜNG, CÔNG TRƯỜNG

Mục 1: Quy hoạch khai thác

Điều 8: Các khu rừng giao cho lâm trường khai thác phải có quy hoạch và phải được khai thác theo đúng bản quy hoạch đã xây dựng cho khu rừng đó.

Điều 9: Ở những khu rừng đã có quy hoạch chính thức thì việc khai thác phải theo đúng quy hoạch chính thức.
...
Điều 10: Quyền hạn duyệt các quy hoạch tạm thời quy định như sau:
...
Điều 11: Cấp có thẩm quyền duyệt quy hoạch tạm thời có thể cho phép tiến hành khai thác trước khi hoàn thành quy hoạch trong một thời gian không quá ba tháng.
...
Mục 2: Giao nhận khoảnh khai thác.

Điều 12: Trước ngày 31 tháng 5 mỗi năm, các lâm trường, công trường phải làm xong kế hoạch khai thác của năm sau và đề nghị giao khoảnh khai thác. Việc giao khoảnh khai thác cho năm sau phải làm xong chậm nhất là ngày 30 tháng 6 năm trước.
...
Điều 13:
...
Điều 14: Khi cắt khoảnh khai thác để giao, cán bộ giao khoảnh phải thực hiện các việc sau đây:
...
Điều 15: Để định giá trị cho các khoảnh đã giao, cán bộ giao khoảnh phải tiến hành điều tra trữ lượng, do đường kính ngang ngực của từng cây bắt đầu từ cây có đường kính 12 cm trở lên, phân thành từng cấp đường kính, tính thể tích gổ trên khoảnh khai thác. Khi đo đếm cây không được dùng dao, rìu vạc vỏ cây để đánh dấu.
...
Điều 16: Khi giao nhận khoảnh khai thác, cán bộ giao khoảnh và đại diện bộ phận khai thác phải đến tại chỗ xác nhận:
...
Điều 17: Khi giao khoảnh khai thác, cán bộ giao khoảnh cấp giấy phép khai thác, và chuyển hồ sơ có liên quan đến khoảnh khai thác cho bộ phận khai thác. Bắt đầu từ khi nhận khoảnh, bộ phận khai thác có thể tiến hành các công tác chuẩn bị quy định dưới đây:
...
Mục 3: Chuẩn bị khai thác

Điều 18: Khi đã tiếp nhận khoảnh khai thác, các công tác chuẩn bị sau đây phải được tiến hành.
...
Điều 19: -Việc chuẩn bị khai thác là trách nhiệm của:
...
Mục 4 : Bài cây trong khoảnh khai thác.

Điều 20: Trừ trường hợp chặt trắng, tất cả các khoảnh khai thác trước khi giao nhận phải bài cây. Những cây chừa lại làm giống phải đánh dấu riêng bằng sơn hoặc bằng một phương pháp nào không làm hại đến thân cây.
...
Điều 21: -Bộ phận quản lý rừng chịu trách nhiệm bài cây. Cán bộ kỹ thuật quản lý rừng phải trực tiếp đến tại chỗ tiến hành bài cây. Bộ phận khai thác tại các cơ sở sản xuất nơi đó có trách nhiệm cung cấp nhân lực, phương tiện cần thiết cho việc bài cây.
...
Mục 5: Tiến hành khai thác

Điều 22: Kỳ hạn khai thác là một năm kể từ ngày 1 tháng giêng đến ngày 31 tháng 12 của năm được khai thác.
...
Điều 23: Kỳ hạn phải vận xuất hết gỗ đã chặt ra khỏi khoảnh khai thác là ngày 15 tháng giêng năm sau. Riêng từ Thanh Hoá trở vào, ở những nơi tái sinh rừng bằng trồng cây nếu vụ thu là vụ trồng chủ yếu thì kỳ hạn vận xuất có thể gia hạn thêm…
...
Mục 6: Tu bổ rừng trong khai thác.

Điều 24: Trong các lâm trường, công trường phải thực hiện nguyên tắc khai thác đến đâu tu bổ đến đấy.
...
Điều 25:
...
Điều 26: Trừ những rừng có mục đích kinh doanh về tre, nứa, phải diệt trừ nứa trong những rừng kinh doanh gỗ.
...
Điều 27:- Sau khi đã tận dụng làm gỗ, củi, đốt than, cành nhánh nhỏ bỏ lại rừng phải thu dọn để đảm bảo tái sinh thiên nhiên.
...
Điều 28: Phải tra dậm ở những rừng sau khi khai thác có nhiều khoảng trống lớn hơn trên 100 mét vuông hoặc rừng thiếu cây gieo giống tự nhiên.
...
Mục7: Kiểm tra và thu hồi khoảnh khai thác.

Điều 29:
...
Điều 30: Trong vòng một tháng sau khi chặt hạ vận xuất xong trên một khoảnh, bộ phận khai thác phải tiến hành kiểm tra lại toàn bộ diện tích và bổ khuyết những thiếu sót nếu có, sau đó báo cáo cho bộ phận quản lý rừng biết và hai bên cùng nhay định ngày kiểm tra.
...
Chương 3 ĐIỀU KHOẢN ÁP DỤNG CHO CÁC TỔ SƠN TRÀNG

Mục I: Quy hoạch sơ bộ và giao khoảnh khai thác.

Điều 31: Các khu rừng giao cho các tổ sơn tràng khai thác phải có quy hoạch sơ bộ và phân thành khoảnh khai thác có ranh giới rõ ràng. Trường hợp không có điều kiện để tổ chức thành khoảnh khai thác, thì phân cho mỗi tổ sơn tràng một khu vực nhất định để khai thác.

Điều 32: Trong trường hợp rừng chưa được quy hoạch sơ bộ thì dựa vào đặc điểm thiên nhiên của địa hình (đường dông, khe suối, đường cái) để định ranh giới khu vực khai thác phân cho từng tổ sơn tràng. Cần chú ý chọn thế nào để gỗ khai thác trong một khu vực có thể đem ra tập trung tại một số bãi gỗ nhất định, không lẫn với gỗ khai thác ở khu vực bên cạnh.

Điều 33: Khi khu rừng đã có quy hoạch sơ bộ và phân khoảnh cho khai thác thì việc giao khoảnh khai thác cho tổ sơn tràng cũng theo như thủ tục áp dụng cho các lâm trường, công trường.

Điều 34: Cán bộ của bộ phận quản lý rừng có trách nhiệm đến tại chỗ để giao khu vực khai thác cho từng tổ sơn tràng, đồng thời cấp giấy phép khai thác cho mỗi tổ trong đó có ghi rõ ranh giới khu vực và địa điểm đã chỉ định làm bãi gỗ.

Mục 2: Tiến hành khai thác.

Điều 35: Tuỳ từng trường hợp, bộ phận quản lý rừng sẽ quy định có bài cây hay không. Nếu có bài cây thì chỉ được chặt những cây đã đánh dấu cho chặt. Nếu không có bài cây thì chỉ được chặt những cây đủ kích thước tối thiểu đã được quy định ở điểm 2 điều 7.
...
Điều 36: Không được khai thác ra ngoài phạm vi đã được phép.
...
Mục 3: Tu bổ rừng trong khai thác.

Điều 37: Việc tu bổ rừng trong khai thác ở khu vực sơn tràng phân tán quy định như sau:
...
Chương 4 : ĐIỀU KHOẢN ÁP DỤNG CHO CẢ HAI HÌNH THỨC KHAI THÁC

Điều 38: Ngoài những điều khoản áp dụng riêng cho từng hình thức khai thác, cả hai hình thức khai thác đều phải theo đúng những quy định chung về chặt hạ, cắt khúc, tập trung gỗ, vận chuyển và bảo quản dưới đây:

Mục 1:- Chặt hạ

Điều 39: -Để tiết kiệm gỗ, gốc cây phải chặt thấp. Những cây còn sức đâm chồi, phải sửa gốc.
...
Điều 40: Không được chặt cây non. Phải bảo vệ và tránh làm gẫy cây con. Trong khi chặt hạ phải ngã cây theo chiếu ít cây con.

Những cây con bị gẫy trong lúc chặt hạ phải mang ra sử dụng và gốc những cây đó phải đẽo vát cho thoát nước.
...
Mục 2: -Cắt khúc

Điều 41: -Trong việc cắt khúc phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ sử dụng gỗ:
...
Điều 42: Phải triệt để tận dụng cành ngọn. Tuỳ điều kiện tiêu thụ, vận xuất, vận chuyển từng nơi, lâm trường đề nghị việc phân loại các khu vực về phương diện tận dụng gỗ trình Tổng Cục lâm nghiệp duyệt ( thông qua Uỷ ban hành chính tỉnh). Mức độ sử dụng cành ngọn trong các khu vực quy định như sau:
...
Điều 43: -Để tiết kiệm gỗ, cần cải tiến lối đẽo bịn.
...
Điều 44: -Tổ trưởng sản xuất, tổ trưởng sơn tràng phải đích thân đến hướng dẫn việc cắt khúc và đích thân chịu trách nhiệm về việc chấp hành chế độ sử dụng gỗ trong khi cắt khúc.
...
Mục 3: Vận xuất

Điều 45: -Lao gỗ phải theo những quy định sau đây:
...
Điều 46: -Chỉ được kéo lết ở những nơi dốc nhiều, đường lầy, khai thác hết sức phân tán và chỉ được áp dụng cho các cự ly ngắn không quá một giới hạn sẽ quy định riêng cho từng địa phương.
...
Mục 4:- Tập trung gỗ - Bãi gỗ
...
Điều 47: -Gỗ, củi đã khai thác phải tập trung ở bãi gỗ nhất định và phải:
...
Điều 48: -Gỗ mang tới bãi tập trung phải đo và đánh dấu trước khi vận chuyển đi nơi khác. Trên cây gỗ phải ghi rõ bằng dấu chìm hoặc một phương pháp khác cho rõ ràng và bền lâu những ký hiệu sau đây:
...
Mục 5: Vận chuyển gỗ

Điều 49: -Phải đặt kế hoạch vận chuyển gỗ cho khớp với kế hoạch khai thác. Trước mùa, thuận lợi cho việc vận chuyển phải chuẩn bị mọi phương tiện và lực lượng để tranh thủ thời vụ. Gỗ không được để ở các bãi tập trung quá một thời hạn là một tháng.

Điều 50: -Tìm mọi biện pháp để vận chuyển bằng đường thuỷ vì cước phí rẻ. Chỉ những trường hợp sau đây mới được vận chuyển bằng đường bộ.
...
Điều 51: Để sử dụng các phương tiện vận chuyển một cách hợp lý; nay quy định những trường hợp được dùng ô-tô hoặc các phương tiện cơ giới để vận chuyển gỗ như sau:
...
Mục 6: Bảo quản gỗ

Điều 52: Các tổ chức khai thác vận chuyển và phân phối gỗ phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ bảo quản gỗ chống mối mọt, mục và nứt nẻ.
...
Điều 53: -Các kho bến phải có kế hoạch và chuẩn bị đầy đủ phương tiện để bảo quản gỗ chống bão lũ.
...
Chương 5 : GIÁO DỤC VÀ THƯỞNG PHẠT

Điều 54: -Để thực hiện được đúng những mục đích nói ở điều 1, quy trình này cần được phổ biến sâu rộng tới toàn thể cán bộ, công nhân, sơn tràng và phổ biến rộng rãi trong nhân dân, ở những nơi có rừng. Trong chương trình học của các trường lâm nghiệp cao, trung, sơ cấp, các lớp huấn luyện ngắn ngày cho cán bộ công nhân khai thác phải đưa bản quy trình này vào chương trình giảng dạy và huấn luyện.

Điều 55: -Giám đốc lâm trường, Quản đốc công trường và cán bộ phụ trách bộ phận khai thác chịu trách nhiệm về toàn bộ công việc khai thác của đơn vị phụ trách và về những vụ vi phạm quy trình của công nhân trong đơn vị mình.

Điều 56: -Những vụ vi phạm quy trình này sẽ tuỳ từng trường hợp mà xử lý theo điều 13 “điều lệ tạm thời khai thác gỗ củi” ban hành kèm theo Nghị định số 596–TTg ngày 3-10-1955 của Thủ tướng Chính phủ hoặc điều 14 Nghị định 10–CP ngày 26-4-1960 của Hội đồng Chính phủ quy định chế độ tiết kiệm gỗ.

Đối với những cán bộ, nhân viên vi phạm những điều quy định trong quy trình này thì ngoài việc xử lý theo những điều nói trên còn bị thi hành kỷ luật về mặt hành chính.

Điều 57: -Những cá nhân, tổ chức khai thác tích cực thi hành quy trình này sẽ được khen thưởng thích đáng tuỳ theo thành tích công tác.

Ban hành kèm theo quyết định số 603-B ngày 24 tháng 8 năm 1963

Xem nội dung VB
Mục I – KHAI THÁC GỖ

– Mỗi khi mở công trường khai thác gỗ, các tổ chức được phép khai thác phải:

- Khai thác đúng trong phạm vi khu rừng đã được ấn định;

- Theo đúng thể lệ lâm nghiệp;

- Khai thác có kế hoạch toàn diện, tận dụng đến mức tối đa cành, nhánh.

Cơ quan Lâm nghiệp có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra các tổ chức khai thác gỗ để bảo đảm kỹ thuật khai thác, tạo điều kiện tái sinh tự nhiên của rừng; đồng thời thực hiện kế hoạch trồng rừng để bảo vệ rừng và cải tạo rừng.

Điều 3. – Bộ Nông lâm quy định kích thước tối thiểu được chặt đối với từng loại gỗ ở từng vùng; cùng với Bộ Nội thương nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ quy định giá thu mua và giá bán gỗ cho hợp lý nhằm khuyến khích khai thác toàn diện.

Điều 4. – Cơ quan Lâm nghiệp và các tổ chức được phép khai thác gỗ phải tìm mọi cách vận chuyển và bảo quản gỗ không được để chỗ ứ đọng, mất phẩm chất ở rừng, ở ven đường hoặc ở các bến; khi nào gỗ được mang đến những địa điểm đã quy định để giao nhận mới coi là đã hoàn thành nhiệm vụ khai thác.
Quy trình khai thác gỗ được hướng dẫn bởi Quyết định 603-BLN năm 1963 có hiệu lực từ ngày 08/09/1963
Việc thực hiện nghị định này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 3 và 4 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
Thông tư 161-TTg năm 1960 thi hành Nghị định 10-CP 1960 về chế độ tiết kiệm gỗ
...
Dưới đây là những công tác cấp thiết cần phải tiến hành ngay:

1. Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, giáo dục tư tưởng cho cán bộ và nhân dân về chế độ tiết kiệm gỗ.

Trước hết phải quán triệt tầm quan trọng, yêu cầu cấp thiết của việc tiết kiệm gỗ. nếu không chấm dứt tình trạng lãng phí gỗ, không tích cự bảo vệ rừng và cải tạo rừng, không giải quyết những điều bất hợp lý khai thác, cung cấp, sử dụng, bảo quản gỗ hiện nay thì không thể nào bảo đảm được nhu cầu gỗ ngày càng tăng, do đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân, đồng thời cũng không đáp ứng được nhu cầu cải thiện đời sống nhân dân.

Các cấp, các ngành có liên quan cần tổ chức phổ biến học tập, có liên hệ kiểm từ trên xuống dưới.

Đối tượng chủ yếu của việc thực hiện tiết kiệm gỗ hiện nay là các cơ quan Nhà nước, nhưng cũng cần làm cho nhân dân thấy rõ tình hình, hiểu rõ yêu cầu để nhân dân có ý thức tích cực bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng và tiết kiệm gỗ.

Phải tùy từng đối tượng mà định trọng tâm cho thích hợp, thí dụ: các cơ quan khai thác, các tổ sơn tràng, phải nhằm vào việc bảo vệ rừng, khai thác hợp lý, vận xuất, vận chuyển nhanh chóng; các ngành xây dựng, các cơ sở xẻ, các công trường, xí nghiệp nhằm vào việc tiết kiệm sử dụng gỗ, bảo quản gỗ, v.v… Cần làm cho mọi người thông suốt chủ trương của Đảng và Chính phủ, tự giác chấp hành nghiêm chỉnh chế độ tiết kiệm gỗ, chủ yếu là nâng cao nhận thức tư tưởng, giáo dục thường xuyên, liên tục lâu dài, đồng thời phải có chế độ cụ thể, có tổ chức kiểm tra chặt chẽ, có thưởng phạt kịp thời. Tuy căn bản phải dựa vào sự giác ngộ của quần chúng nhưng phải thấy rõ đây là pháp luật của Nhà nước.
...
3. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ tiết kiệm gỗ:

Thực hiện chế độ tiết kiệm gỗ, sẽ có sự biến đổi lớn trong tình hình khai thác, cung cấp, sử dụng và bảo quản gỗ hiện nay. Nếu thi hành các điều khoản trong Nghị định một cách vội vàng, máy móc sẽ gây những khó khăn mới, làm trở ngại cho các công việc đương tiến hành theo một hệ thống cũ, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện kế hoạch 1960. Do đó cần phải nghiên cứu, đối chiếu các điều quy định với tình hình thực tế, xem điều khoản nào có thể thi hành được thì nhất thiết thi hành ngay, điều khoản nào chưa thi hành được thì phải chuẩn bị điều kiện để thi hành. Nói chung là không thể thi hành tất cả các điều khoản trong một lúc mà phải tiến hành từng bước có kế hoạch, chủ yếu là bắt tay vào việc chuẩn bị đầy đủ điều kiện để sang năm 1961 có thể thực hiện được toàn bộ chế độ tiết kiệm gỗ.

Nhận được thông tư này, các ngành triệu tập ngành mình, các Ủy ban địa phương triệu tập các ngành trực thuộc, tổ chức hội nghị phổ biến, giải thích nghiên cứu, thảo luận xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện chế độ tiết kiệm gỗ mỗi ngành, mỗi địa phương.

Trong quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện gặp việc gì không ăn khớp giữa các ngành cần điều hòa, phối hợp cho ăn khớp, nếu có gì cần bổ sung về chủ trương, chính sách cụ thể cho sát với tình hình thực tế thì kịp thời đề nghị bổ sung.

4. Chương trình và phân công, phân nhiệm người công tác chính:

Quý III năm 1960:

Hoàn thành công tác phổ biến, giáo dục chế độ tiết kiệm gỗ, xây dựng xong kế hoạch thực hiện ở mỗi ngành, mỗi địa phương (Tất cả các bộ, các ngành, các địa phương).

- Xây dựng kế hoạch khai thác toàn diện, vận chuyển, bảo quản gỗ cây, tận dụng cành, ngọn, bảo vệ rừng, cải tạo rừng (Tổng cục Lâm nghiệp).

- Quy định giá thu mua và giá bán trình Hội đồng vật giá duyệt (Bộ Nội thương và Tổng cục Lâm nghiệp)

- Tăng cường công tác giao nhận gỗ, bảo quản gỗ, chống lũ, chuẩn bị kế hoạch thống nhất tổ chức giữa Lâm nghiệp và Tổng công ty vật liệu xây dựng (Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng công ty vật liệu xây dựng).

- Hướng dẫn việc làm thiết kế theo quy định mới, tẩm gỗ, sử dụng tiết kiệm gỗ tại các công trường, thu nhặt và bảo quản gỗ phế phẩm giao cho ngành quản lý (Bộ Kiến trúc).

Quý IV năm 1960:

- Xây dựng kế hoạch thống nhất quản lý các cơ sở xẻ (Bộ Kiến trúc).

- Chuẩn bị lực lượng dữ trữ, xây dựng kế hoạch cung cấp theo chế độ mới (Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng công ty vật liệu xây dựng).

- Xây dựng toàn bộ kế hoạch tẩm gỗ bằng hóa chất 1961 (Tổng cục Lâm nghiệp và các ngành xây dựng).

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện chế độ tiết kiệm gỗ (Ủy ban Thanh tra Chính phủ).

Xem nội dung VB
NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ TIẾT KIỆM GỖ
Việc thực hiện nghị định này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 3 và 4 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960