Ranh giới giữa các bất động sản đã tồn tại bao lâu thì được công nhận?

Chuyên viên pháp lý: Nguyễn Xuân An Giang
Tham vấn bởi Luật sư: Phạm Thanh Hữu
Ranh giới giữa các bất động sản đã tồn tại bao lâu thì được công nhận? Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề trong trường hợp nào?

Mua bán nhà đất trên toàn quốc

Xem thêm Mua bán nhà đất trên toàn quốc

Nội dung chính

    Ranh giới giữa các bất động sản đã tồn tại bao lâu thì được công nhận?

    Căn cứ khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

    Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản
    1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.
    Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.
    2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
    Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    Như vậy, ranh giới giữa các bất động sản liền kề sẽ được công nhận nếu đã tồn tại từ đủ 30 năm trở lên mà không phát sinh tranh chấp.

    Cụ thể, trong trường hợp ranh giới giữa các bất động sản không được xác định bằng thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì ranh giới đó vẫn được pháp luật thừa nhận nếu đáp ứng đồng thời hai điều kiện:

    - Ranh giới đã tồn tại ổn định từ 30 năm trở lên;

    - Trong suốt thời gian đó không có tranh chấp giữa các chủ thể liên quan.

    Ranh giới giữa các bất động sản đã tồn tại bao lâu thì được công nhận?

    Ranh giới giữa các bất động sản đã tồn tại bao lâu thì được công nhận? (Hình từ Internet)

    Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề trong trường hợp nào?

    Căn cứ Điều 256 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

    Điều 256. Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề
    Quyền đối với bất động sản liền kề chấm dứt trong trường hợp sau đây:
    1. Bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền thuộc quyền sở hữu của một người.
    2. Việc sử dụng, khai thác bất động sản không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền.
    3. Theo thỏa thuận của các bên.
    4. Trường hợp khác theo quy định của luật.

    Theo đó, quyền đối với bất động sản liền kề chấm dứt trong trường hợp sau đây:

    - Bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền thuộc quyền sở hữu của một người.

    - Việc sử dụng, khai thác bất động sản không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền.

    - Theo thỏa thuận của các bên.

    - Trường hợp khác theo quy định của luật.

    Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề thì có cần đăng ký biến động không?

    Căn cứ điểm l khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 quy định như sau:

    Điều 133. Đăng ký biến động
    1. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà có thay đổi sau đây:
    [...]
    d) Thay đổi ranh giới, mốc giới, kích thước các cạnh, diện tích, số hiệu và địa chỉ của thửa đất;
    đ) Đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; đăng ký thay đổi về tài sản gắn liền với đất so với nội dung đã đăng ký;
    e) Chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này; trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 121 của Luật này mà người sử dụng đất có nhu cầu đăng ký biến động;
    g) Thay đổi thời hạn sử dụng đất;
    h) Thay đổi hình thức giao đất, cho thuê đất, nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của Luật này;
    i) Thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi mô hình tổ chức hoặc sự thỏa thuận của các thành viên hộ gia đình hoặc của vợ và chồng hoặc của nhóm người sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu tài sản chung gắn liền với đất;
    k) Thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai; bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật;
    l) Xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền đối với thửa đất liền kề;
    [...]

    Như vậy, trường hợp xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề hay thửa đất liền kề thì phải tiến hành đăng ký biến động.

    saved-content
    unsaved-content
    1