Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư liên tịch 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15;
...
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết một số điều của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự và việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự.
..
Điều 4. Xem xét yêu cầu của nước ngoài liên quan đến hình phạt tử hình
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của nước ngoài đề nghị Việt Nam đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển yêu cầu đó cho cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự để đánh giá sự cần thiết của việc tiếp tục yêu cầu nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự và cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự xử lý như sau:
a) Nếu thấy cần thiết phải tiếp tục yêu cầu nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự, cơ quan lập yêu cầu có văn bản đánh giá sự cần thiết và cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài quy định tại khoản 3 Điều này kèm theo các tài liệu có liên quan, gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Nếu thấy không còn cần thiết tiếp tục yêu cầu nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự, cơ quan lập yêu cầu có văn bản thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không còn cần thiết để kết thúc tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
3. Cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đánh giá cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài theo một trong các trường hợp sau đây:
a) Người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc không bị thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này, cơ quan lập yêu cầu phối hợp với cơ quan y tế và các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác định độ tuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng thai sản, tình trạng nuôi con nhỏ, tình trạng khắc phục hậu quả vụ án và các thông tin khác của người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự để xác định bằng văn bản;
b) Người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp có thể bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc có thể bị thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4. Khi người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này thì thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan về cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài;
b) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hoặc không đồng ý đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài, gửi về Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
c) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ ý kiến thống nhất bằng văn bản của các Bộ, ngành, cơ quan được lấy ý kiến về việc đồng ý hoặc không đồng ý đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời thông báo cho cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự biết.
Trường hợp ý kiến của các Bộ, ngành, cơ quan được lấy ý kiến không thống nhất về việc xác định người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc không bị thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập hồ sơ, trình Chủ tịch nước xem xét, cho ý kiến về việc đưa ra thông báo không thi hành án tử hình theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 5 Điều này.
5. Khi người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này thì thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Văn phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan về cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài;
b) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hoặc không đồng ý đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài, gửi về Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
c) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, cơ quan được lấy ý kiến, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập hồ sơ, trình Chủ tịch nước xem xét, cho ý kiến về việc đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài;
d) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến của Chủ tịch nước, căn cứ vào kết quả xin ý kiến, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đưa ra thông báo không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc có văn bản trả lời cho nước ngoài. Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi các thông báo, văn bản này cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời thông báo cho cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự biết.
6. Hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét, cho ý kiến về việc đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài bao gồm các tài liệu sau:
a) Tờ trình của Viện kiểm sát nhân dân tối cao nêu rõ nội dung vụ việc; nội dung đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; căn cứ pháp lý; đề xuất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Tổng hợp ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan kèm theo văn bản tham gia ý kiến của các cơ quan;
c) Các tài liệu có liên quan của cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
d) Văn bản yêu cầu của nước ngoài.
Xem nội dung VBĐiều 14. Xem xét yêu cầu liên quan đến hình phạt tử hình
1. Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan đưa ra một trong các thông báo sau đây:
a) Thông báo không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nếu người đó thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Thông báo không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không thuộc trường hợp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này sau khi có ý kiến của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Trường hợp Việt Nam yêu cầu nước ngoài không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị nước ngoài đưa ra cam kết bằng văn bản về nội dung này.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.