Nhà giàn DK1 được gọi là gì? Nhà giàn đầu tiên trên thềm lục địa phía Nam?
Nội dung chính
Nhà giàn DK1 được gọi là gì? Nhà giàn đầu tiên trên thềm lục địa phía Nam?
(1) Nhà giàn DK1 được gọi là gì?
Nhà giàn DK1 là hệ thống các công trình kiên cố được xây dựng trên thềm lục địa phía Nam của Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế biển. Chính thức được đặt tên là “Cụm dịch vụ kinh tế - Khoa học kỹ thuật”, nhà giàn DK1 không chỉ đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia mà còn hỗ trợ ngư dân bám biển, phát triển kinh tế biển và nghiên cứu khoa học về đại dương.
Với đặc điểm nằm giữa vùng biển xa bờ, chịu tác động khắc nghiệt của thiên nhiên, nhà giàn DK1 được xây dựng kiên cố để đảm bảo khả năng trụ vững trước sóng gió mạnh. Ngoài chức năng quân sự và bảo vệ chủ quyền, nơi đây còn là điểm tựa vững chắc cho ngư dân Việt Nam khi khai thác hải sản trong vùng biển rộng lớn của tổ quốc.
(2) Nhà giàn đầu tiên được xây trên thềm lục địa phía Nam xây dựng vào năm nào?
Nhà giàn đầu tiên trên thềm lục địa phía Nam được xây dựng vào năm 1989. Đây là một dấu mốc quan trọng trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Công trình đầu tiên được dựng lên trên bãi đá ngầm Phúc Tần, thuộc vùng biển phía Nam, đánh dấu sự hiện diện vững chắc của Việt Nam trên vùng biển rộng lớn này.
Việc xây dựng nhà giàn là một thử thách lớn khi phải đối mặt với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sóng gió mạnh và khoảng cách xa bờ. Tuy nhiên, nhờ sự quyết tâm của các lực lượng công binh và hải quân, hệ thống nhà giàn DK1 đã được mở rộng và phát triển mạnh mẽ trong những năm sau đó. Hiện nay, DK1 không chỉ là tuyến phòng thủ vững chắc mà còn là biểu tượng của tinh thần kiên trì, bất khuất trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của dân tộc.

Nhà giàn DK1 được gọi là gì? Nhà giàn đầu tiên trên thềm lục địa phía Nam? (Hình từ Internet)
Nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo có được thực hiện các chính sách ưu tiên không?
Căn cứ Điều 5 Luật Biển Việt Nam 2012 quy định như sau:
Chính sách quản lý và bảo vệ biển
1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển.
2. Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
3. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển bền vững các vùng biển phù hợp với điều kiện của từng vùng biển và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; tăng cường thông tin, phổ biến về tiềm năng, chính sách, pháp luật về biển.
4. Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển, bảo hộ hoạt động của tổ chức, công dân Việt Nam ngoài các vùng biển Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia ven biển có liên quan.
5. Đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, nâng cấp cơ sở hậu cần phục vụ cho các hoạt động trên biển, đảo và quần đảo, phát triển nguồn nhân lực biển.
6. Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo.
Như vậy, theo chính sách quản lý và bảo vệ biển nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo trên vùng biển Việt Nam được thực hiện các chính sách ưu tiên.
