Gia hạn thời gian cho thuê đất theo quỹ đất ngắn hạn tỉnh Cà Mau áp dụng từ 25/5/2026
Cho thuê nhà đất trên toàn quốc
Nội dung chính
Gia hạn thời gian cho thuê đất theo quỹ đất ngắn hạn tỉnh Cà Mau áp dụng từ 25/5/2026
Ngày 13/5/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành Quyết định 75/2026/QĐ-UBND tỉnh Cà Mau ban hành quy định trình tự, thủ tục cho thuê quỹ đất ngắn hạn trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Ban hành kèm theo Quyết định 75/2026/QĐ-UBND tỉnh Cà Mau quy định chi tiết trình tự, thủ tục cho thuê quỹ đất ngắn hạn và tài sản gắn liền với đất (nếu có) do tổ chức phát triển quỹ đất quản lý trên địa bàn tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 7 Điều 43 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Trong đó, căn cứ theo quy định tại Điều 7 Quy định ban hành kèm theo Quyết định 75/2026/QĐ-UBND tỉnh Cà Mau về việc gia hạn thời gian cho thuê đất theo quỹ đất ngắn hạn tỉnh Cà Mau áp dụng từ 25/5/2026 như sau:
- Trường hợp hết thời hạn cho thuê đất mà Nhà nước chưa thực hiện quy hoạch đô thị và nông thôn và tổ chức, cá nhân thuê đất có nhu cầu tiếp tục thuê thì tổ chức, cá nhân thuê đất có văn bản gửi tổ chức phát triển quỹ đất xem xét việc gia hạn thời gian cho thuê đất.
- Thời gian mỗi lần gia hạn không quá 12 tháng. Tổng thời gian thuê đất và các lần gia hạn không quá 05 năm (60 tháng).
- Đơn giá cho thuê đất khi gia hạn sẽ được điều chỉnh trong trường hợp đơn giá cho thuê đất tính theo Bảng giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm gia hạn cao hơn đơn giá trong hợp đồng đã ký. Đơn giá cho thuê đất điều chỉnh tính theo Bảng giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm gia hạn.
- Tổ chức phát triển quỹ đất và tổ chức, cá nhân thuê đất ký phụ lục hợp đồng điều chỉnh thời gian thuê và đơn giá thuê đất theo quy định.
Quyết định 75/2026/QĐ-UBND tỉnh Cà Mau có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 5 năm 2026.
Gia hạn thời gian cho thuê đất theo quỹ đất ngắn hạn tỉnh Cà Mau áp dụng từ 25/5/2026 (Hình từ Internet)
Thời hạn cho thuê đất ghi trên sổ đỏ và hợp đồng thuê khác nhau thì xử lý như thế nào?
Căn cứ theo Điều 25 Nghị định 103/2024/NĐ-CP quy định về thời hạn cho thuê đất cụ thể như sau:
Điều 25. Thời hạn cho thuê đất
1. Thời hạn cho thuê đất (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này) là thời hạn được ghi trên quyết định về việc cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Giấy chứng nhận hoặc hợp đồng thuê đất. Trường hợp thời hạn cho thuê đất ghi trên các giấy tờ nêu trên khác nhau thì cơ quan có chức năng quản lý đất đai xác định thời hạn làm căn cứ để tính tiền thuê đất.
2. Trường hợp công nhận quyền sử dụng đất thuê thì thời hạn cho thuê đất là thời hạn ghi trên Phiếu chuyển thông tin do cơ quan có chức năng quản lý đất đai chuyển đến cơ quan thuế theo quy định tại Nghị định về cấp giấy chứng nhận hoặc theo Hợp đồng thuê đất đã ký.
Như vậy, thời hạn cho thuê đất ghi trên sổ đỏ và hợp đồng thuê khác nhau thì cơ quan có chức năng quản lý đất đai xác định thời hạn làm căn cứ để tính tiền thuê đất.
Trừ trường hợp công nhận quyền sử dụng đất thuê thì thời hạn cho thuê đất là thời hạn ghi trên Phiếu chuyển thông tin do cơ quan có chức năng quản lý đất đai chuyển đến cơ quan thuế theo quy định tại Nghị định về cấp giấy chứng nhận hoặc theo Hợp đồng thuê đất đã ký.
Tiền thuê đất hằng năm trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất được áp dụng ổn định theo quy định nào?
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị định 103/2024/NĐ-CP về ổn định tiền thuê đất trả tiền thuê hằng năm như sau:
Điều 32. Ổn định tiền thuê đất trả tiền thuê hằng năm
1. Tiền thuê đất hằng năm (bao gồm cả tiền thuê đất hằng năm trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất) được áp dụng ổn định theo quy định tại khoản 2 Điều 153 Luật Đất đai.
2. Việc xác định tiền thuê đất cho chu kỳ tiếp theo được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 30 Nghị định này. Trường hợp tiền thuê đất của chu kỳ tiếp theo không tăng so với chu kỳ trước thì không phải điều chỉnh tiền thuê đất; trường hợp tăng so với chu kỳ trước thì tỷ lệ điều chỉnh tiền thuê đất hằng năm theo quy định tại khoản 2 Điều 153 Luật Đất đai được xác định bằng (=) tổng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hằng năm cả nước của giai đoạn 05 năm liền kề trước thời điểm điều chỉnh.
Trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng từ 10% trở lên trong 05 năm liên tiếp thì Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để báo cáo Chính phủ quy định điều chỉnh tỷ lệ điều chỉnh tiền thuê đất hằng năm của chu kỳ tiếp theo cho phù hợp.
[...]
Theo đó, tiền thuê đất hằng năm trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất được áp dụng ổn định theo quy định tại khoản 2 Điều 153 Luật Đất đai 2024 như sau:
- Tiền thuê đất hằng năm được áp dụng ổn định cho chu kỳ 05 năm tính từ thời điểm Nhà nước quyết định cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gắn với việc chuyển sang hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm.
- Tiền thuê đất cho chu kỳ tiếp theo được tính căn cứ vào bảng giá đất của năm xác định tiền thuê đất tiếp theo. Trường hợp tiền thuê đất tăng so với chu kỳ trước thì tiền thuê đất phải nộp được điều chỉnh nhưng không quá tỷ lệ do Chính phủ quy định cho từng giai đoạn.
- Tỷ lệ điều chỉnh do Chính phủ quy định cho từng giai đoạn không quá tổng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hằng năm cả nước của giai đoạn 05 năm trước đó.
