NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
--------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số:
17/2021/TT-NHNN
|
Hà
Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2021
|
THÔNG TƯ
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ 19/2016/TT-NHNN
NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2016 CỦA THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ
HOẠT ĐỘNG THẺ NGÂN HÀNG
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6
năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm
2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017;
Căn cứ Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của
Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP; Nghị định số 16/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 02 năm 2019 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về điều kiện
kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ
Thanh toán;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (sau đây gọi
tắt là Thông tư số 19/2016/TT-NHNN).
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
19/2016/TT-NHNN
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 12 Điều 3 như sau:
“12. Chủ thẻ
chính là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên thực hiện giao kết hợp đồng phát hành và
sử dụng thẻ với tổ chức phát hành thẻ.”.
2. Bổ sung khoản 5 vào Điều 9 như sau:
“5. TCPHT phải
tuân thủ Tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa khi phát hành thẻ có BIN do Ngân
hàng Nhà nước cấp theo lộ trình chuyển đổi quy định tại Điều 27b Thông tư này.
TCPHT trong thời gian kiểm soát đặc biệt thực hiện lộ trình chuyển đổi theo quyết
định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đối với từng trường hợp cụ thể.”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 10 (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Thông tư số 26/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN)
như sau:
“5. Trước
khi giao kết hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ với khách hàng, TCPHT yêu cầu chủ
thẻ cung cấp đầy đủ các thông tin, giấy tờ cần thiết nhằm nhận biết khách hàng
theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Trường hợp phát hành thẻ
cho người nước ngoài, TCPHT yêu cầu khách hàng cung cấp các giấy tờ cần thiết để
xác minh thời hạn cư trú tại Việt Nam gồm: hộ chiếu, thị thực, giấy chứng nhận
miễn thị thực nhập cảnh, giấy chứng nhận tạm trú hoặc thẻ tạm trú hoặc thẻ thường
trú, hợp đồng lao động hoặc quyết định trúng tuyển, hoặc các giấy tờ khác chứng
minh thời hạn cư trú tại Việt Nam. Các giấy tờ cần thiết của khách hàng khi
giao kết hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ là bản chính hoặc bản sao kèm bản
chính để đối chiếu hoặc bản sao điện tử hoặc bản sao được chứng thực hoặc bản
sao cấp từ sổ gốc theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp xuất trình bản
chính để đối chiếu, TCPHT phải xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính
chính xác của bản sao so với bản chính. Trường hợp giấy tờ là bản sao điện tử,
TCPHT phải có giải pháp, công nghệ để thu thập, kiểm tra và đối chiếu, đảm bảo
bản sao điện tử có nội dung đầy đủ, chính xác và khớp đúng so với bản chính
theo quy định của pháp luật.”.
4. Bổ sung khoản 10 vào Điều 10 như sau:
“10. TCPHT
có thể thực hiện phát hành thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước định danh đối
với chủ thẻ chính là cá nhân bằng phương thức điện tử. Thủ tục phát hành thẻ của
cá nhân bằng phương thức điện tử được thực hiện theo quy định tại Điều này và Điều 10a Thông tư này.”.
5. Bổ sung Điều 10a như sau:
“Điều
10a. Phát hành thẻ bằng phương thức điện tử
1. TCPHT phải
xây dựng, ban hành, công khai quy trình, thủ tục phát hành thẻ của cá nhân bằng
phương thức điện tử phù hợp với quy định tại Điều này, pháp luật về phòng, chống
rửa tiền, pháp luật về giao dịch điện tử, các quy định pháp luật liên quan về đảm
bảo an toàn, bảo mật thông tin khách hàng và an toàn hoạt động của TCPHT, bao gồm
tối thiểu các bước như sau:
a) Thu thập
thông tin, giấy tờ cần thiết trước khi giao kết hợp đồng phát hành và sử dụng
thẻ với khách hàng nhằm nhận biết khách hàng và xác định hạn mức giao dịch của
thẻ ghi nợ, thẻ trả trước định danh, thẻ tín dụng theo quy định tại khoản 5 Điều
10, khoản 3 Điều này và Điều 14 Thông tư này, quy định nội bộ của TCPHT và các
quy định pháp luật khác (nếu có);
b) Thực hiện
kiểm tra, đối chiếu và xác minh thông tin nhận biết khách hàng;
c) Cảnh báo
cho khách hàng về các hành vi không được thực hiện trong quá trình mở và sử dụng
thẻ được phát hành bằng phương thức điện tử;
d) Cung cấp
cho khách hàng hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ theo các nội dung quy định tại
Điều 13 Thông tư này và thực hiện giao kết hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ với
khách hàng đảm bảo quy định về pháp luật giao dịch điện tử;
đ) Thông báo
tên TCPHT, tên hoặc nhãn hiệu thương mại của thẻ, số thẻ, thời hạn hiệu lực (hoặc
thời điểm bắt đầu có hiệu lực) của thẻ, tên chủ thẻ, phạm vi và chức năng sử dụng
của thẻ, các điều cấm theo quy định pháp luật khi sử dụng thẻ cho khách hàng.
2. TCPHT được
quyết định biện pháp, hình thức, công nghệ để nhận biết và xác minh khách hàng
phục vụ việc phát hành thẻ bằng phương thức điện tử; chịu trách nhiệm về rủi ro
phát sinh (nếu có) và phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu sau:
a) Có giải
pháp, công nghệ để thu thập, kiểm tra, đối chiếu, đảm bảo sự khớp đúng giữa
thông tin nhận biết khách hàng, dữ liệu sinh trắc học của khách hàng (là các yếu
tố, đặc điểm sinh học gắn liền với khách hàng thực hiện định danh, khó làm giả,
có tỷ lệ trùng nhau thấp như vân tay, khuôn mặt, mống mắt, giọng nói và các yếu
tố sinh trắc học khác) với các thông tin, yếu tố sinh trắc học tương ứng trên
giấy tờ cần thiết nhằm nhận biết khách hàng theo quy định pháp luật về phòng,
chống rửa tiền, theo yêu cầu của TCPHT hoặc với dữ liệu định danh cá nhân được
xác thực bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bởi tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài khác hoặc bởi tổ chức được cung ứng dịch vụ định
danh và xác thực điện tử;
b) Có biện
pháp kỹ thuật để xác nhận việc khách hàng đã được định danh đồng ý với nội dung
tại hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ;
c) Xây dựng quy
trình quản lý, kiểm soát, đánh giá rủi ro, trong đó có biện pháp ngăn chặn các
hành vi mạo danh, can thiệp, chỉnh sửa, làm sai lệch việc xác minh thông tin nhận
biết khách hàng trước, trong và sau khi phát hành thẻ cho khách hàng; biện pháp
để kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng đảm bảo khách hàng thực hiện
giao dịch thẻ được phát hành bằng phương thức điện tử là chủ thẻ chính. Quy
trình quản lý, kiểm soát rủi ro phải thường xuyên được rà soát, hoàn thiện dựa
trên những thông tin, dữ liệu cập nhật trong quá trình cung ứng dịch vụ;
d) Lưu trữ,
bảo quản đầy đủ, chi tiết theo thời gian đối với các thông tin, dữ liệu nhận biết
khách hàng trong quá trình khách hàng phát hành và sử dụng thẻ, như: thông tin
nhận biết khách hàng; các yếu tố sinh trắc học của khách hàng; âm thanh, hình ảnh,
bản ghi hình, ghi âm; số điện thoại thực hiện giao dịch; nhật ký giao dịch. Các
thông tin, dữ liệu phải được lưu trữ an toàn, bảo mật, được sao lưu dự phòng, đảm
bảo tính đầy đủ, toàn vẹn của dữ liệu để phục vụ cho công tác kiểm tra, đối chiếu,
giải quyết tra soát, khiếu nại, tranh chấp và cung cấp thông tin khi có yêu cầu
từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Thời gian lưu trữ thực hiện theo quy
định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
3. TCPHT căn
cứ điều kiện công nghệ áp dụng khi nhận biết và xác minh khách hàng để đánh giá
rủi ro, quyết định áp dụng hạn mức giao dịch của khách hàng mở bằng phương thức
điện tử tại khoản 2 Điều này nhưng phải đảm bảo tổng hạn mức giao dịch (bao gồm
rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán) của thẻ ghi nợ hoặc thẻ trả trước định
danh hoặc thẻ tín dụng của một khách hàng không vượt quá 100 (một trăm) triệu đồng
Việt Nam trong một tháng và không thực hiện rút ngoại tệ tiền mặt tại nước
ngoài, thanh toán quốc tế.
4. TCPHT được
quyết định áp dụng hạn mức giao dịch của thẻ mở bằng phương thức điện tử cao
hơn hạn mức quy định tại khoản 3 Điều này và được thực hiện rút ngoại tệ tiền mặt
tại nước ngoài, thanh toán quốc tế khi thực hiện một trong các biện pháp sau:
a) TCPHT áp
dụng công nghệ để kiểm tra, đối chiếu đặc điểm sinh trắc học của khách hàng với
dữ liệu sinh trắc học công dân thông qua cơ sở dữ liệu căn cước công dân;
b) TCPHT áp
dụng giải pháp cuộc gọi ghi hình (video call) để thực hiện thu thập, kiểm tra,
xác minh thông tin nhận biết khách hàng trong quá trình phát hành thẻ đảm bảo
hiệu quả như quy trình nhận biết, xác minh thông tin khách hàng qua phương thức
gặp mặt trực tiếp. Giải pháp video call phải đáp ứng tối thiểu các yêu cầu sau:
đảm bảo an toàn, bảo mật; độ phân giải cao; tín hiệu liên tục; cho phép tương
tác âm thanh, hình ảnh với khách hàng theo thời gian thực để đảm bảo nhận diện
người thật; lưu trữ toàn bộ dữ liệu âm thanh, hình ảnh hoặc bản ghi hình, ghi
âm trong quá trình phát hành thẻ cho khách hàng;
c) Sau khi
TCPHT đã thực hiện việc nhận biết, xác minh thông tin khách hàng thông qua gặp
mặt trực tiếp chủ thẻ chính là cá nhân.
5. Việc phát
hành thẻ bằng phương thức điện tử tại Điều này không áp dụng với các đối tượng
tại điểm b khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 16 Thông tư này. TCPHT chỉ phát hành
thẻ bằng phương thức điện tử cho khách hàng cá nhân là người nước ngoài theo
quy định tại khoản 4 Điều 16 Thông tư này đối với thẻ ghi nợ.
6. Việc cấp
tín dụng qua thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi ngoài việc tuân thủ quy định
tại Điều này còn phải thực hiện theo quy định tại Điều 15 Thông tư này.”.
6. Sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 1 Điều 13
như sau:
“g. Thỏa thuận
về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ, bao gồm: Các hạn mức và sự thay đổi hạn mức sử
dụng thẻ, bao gồm cả hạn mức thấu chi (đối với thẻ ghi nợ) và hạn mức tín dụng;
lãi suất, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay
(đối với thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được thấu chi); thời hạn cấp tín dụng, mục
đích vay, thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, phương thức trả nợ, phí phạt
khoản nợ quá hạn (nếu có). Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ có thể
được nêu trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ hoặc tại văn bản thỏa thuận
riêng;”.
7. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 15
như sau:
“b. TCPHT phải
có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp
luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó quy định cụ thể
về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu
lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, lãi suất áp dụng, phương thức tính
lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay, phí phạt khoản nợ quá hạn,
mục đích vay, quy trình thẩm định và quyết định cấp tín dụng qua thẻ theo
nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng,
các biện pháp áp dụng thu hồi nợ để đảm bảo trách nhiệm các bộ phận tại TCPHT
trong quá trình thu hồi nợ;”.
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 16 (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Thông tư số 26/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
19/2016/TT-NHNN) như sau:
“2. Đối với
chủ thẻ chính là tổ chức: Tổ chức đủ điều kiện mở tài khoản thanh toán được sử
dụng thẻ ghi nợ. Tổ chức là pháp nhân được thành lập và hoạt động hợp pháp theo
quy định của pháp luật Việt Nam được sử dụng thẻ tín dụng, thẻ trả trước định
danh. Chủ thẻ là tổ chức được ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân sử dụng thẻ của
tổ chức đó hoặc cho phép cá nhân sử dụng thẻ phụ theo quy định tại Thông tư
này.”.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều
17 như sau:
“1. Chủ thẻ
phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết theo yêu cầu của TCPHT
khi giao kết hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm về tính
trung thực của các thông tin mà mình cung cấp.
2. Khi sử dụng
thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng mục đích
và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các khoản tiền vay và lãi phát sinh từ
việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã giao kết với TCPHT.”.
10. Bổ sung điểm e vào khoản 3 Điều 17
như sau:
“e. Thẻ ghi
nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước định danh phát hành bằng phương thức điện tử
không thực hiện rút ngoại tệ tiền mặt tại nước ngoài, thanh toán quốc tế trừ
trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 10a Thông tư này.”.
11. Bổ sung khoản 4 vào Điều 17 như sau:
“4. TCPHT,
TCTTT thực hiện các biện pháp cần thiết để cập nhật, kiểm tra, rà soát, đối chiếu
và nhận biết khách hàng trong quá trình sử dụng thẻ.”.
12. Bổ sung khoản 1a vào Điều 22 như sau:
“1a. TCTTT
phải tuân thủ Tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa áp dụng đối với ATM và thiết
bị chấp nhận thẻ tại điểm bán của TCTTT theo lộ trình chuyển đổi quy định tại
Điều 27a Thông tư này. TCTTT trong thời gian kiểm soát đặc biệt thực hiện lộ
trình chuyển đổi theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đối với từng
trường hợp cụ thể.”.
13. Bổ sung khoản 1a vào Điều 27 như sau:
“1a. TCPHT,
TCTTT, ĐVCNT có thể từ chối thanh toán thẻ khi có nghi ngờ về tính trung thực,
mục đích giao dịch của chủ thẻ theo quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền.”.
14. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 28 như sau:
“3. TCPHT gửi
biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước để
theo dõi và giám sát.”.
15. Bổ sung điểm d vào khoản 1 Điều 31
như sau:
“d) Đầu mối
phối hợp các đơn vị liên quan xây dựng trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành quyết định về lộ trình chuyển đổi thẻ chip nội địa đối với từng tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được kiểm soát đặc biệt.”.
Điều 2. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
Chánh Văn
phòng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam; tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức chuyển mạch
thẻ, tổ chức bù trừ điện tử giao dịch thẻ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
Thông tư này.
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Thông tư
này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
2. Trong thời
hạn 06 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, TCPHT triển khai biện
pháp cần thiết để thông báo cho khách hàng biết về các quy định mới liên quan đến
hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ theo quy định tại khoản 6 Điều
1 Thông tư này bằng các hình thức theo quy định tại hợp đồng phát hành và sử
dụng thẻ, văn bản thỏa thuận với khách hàng và trên Trang thông tin điện tử
chính thức của TCPHT. Đối với hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ đã giao kết trước
thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành và phù hợp với quy định pháp luật tại
thời điểm giao kết, TCPHT thực hiện giao kết lại hợp đồng phát hành và sử dụng
thẻ hoặc văn bản thỏa thuận với khách hàng phù hợp với quy định tại Thông tư
này khi khách hàng có yêu cầu.
3. Thông tư
này bãi bỏ khoản 2, khoản 3 Điều 1 Thông tư số 41/2018/TT-NHNN
ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về sửa đổi,
bổ sung Thông tư số 19/2016/TT-NHNN và khoản 4 Điều 1 của Thông tư số 28/2019/TT-NHNN ngày 25 tháng
12 năm 2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số
điều của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN.
Nơi nhận:
- Như Điều 2;
- Ban Lãnh đạo NHNN;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Tư pháp (để kiểm tra);
- Công báo;
- Cổng thông tin điện tử NHNN;
- Lưu: VP, Vụ PC, Vụ TT (5 bản).
|
KT. THỐNG ĐỐC
PHÓ THỐNG ĐỐC
Phạm Tiến Dũng
|