Luật Đất đai 2024

Nghị định 61-CP năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà ở

Số hiệu 61-CP
Cơ quan ban hành Chính phủ
Ngày ban hành 05/07/1994
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Thương mại,Bất động sản
Loại văn bản Nghị định
Người ký Võ Văn Kiệt
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết
Văn bản này đang cập nhật Nội dung
123
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị định 61-CP năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà ở
Tải văn bản gốc Nghị định 61-CP năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà ở
Chưa có văn bản song ngữ
Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị định 61-CP năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà ở
Số hiệu: 61-CP
Loại văn bản: Nghị định
Lĩnh vực, ngành: Thương mại,Bất động sản
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 05/07/1994
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Nghị định 21-CP năm 1996 có hiệu lực từ ngày 16/04/1996 (VB hết hiệu lực: 06/06/2013)
Điều 1.- Điều 5 ... của Nghị định số 61/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung như sau:

1- Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 5- Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà có điều kiện cải thiện chỗ ở, trừ các loại nhà ở sau đây:

1- Nhà ở thuộc khu vực quy hoạch xây dựng các công trình khác hoặc cải tạo thành nhà ở mới;

2- Nhà chuyên dùng đang bố trí tạm làm nhà ở (khách sạn, nhà nghỉ, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, kho tàng và các loại nhà chuyên dùng khác);

3- Biệt thự các loại có kế hoạch dùng làm công thự hoặc dùng vào các mục đích khác;

4- Nhà ở nhiều tầng nhiều hộ ở cấu trúc kiểu căn hộ không khép kín do Nhà nước xây dựng.

Loại nhà này chỉ được phép bán sau khi cải tạo, sửa chữa thành nhà có căn hộ khép kín bảo đảm tiện nghi sử dụng."

Xem nội dung VB
Điều 5.- Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở, trừ các loại nhà ở sau đây:

1. Nhà ở thuộc khu vực quy hoạch xây dựng các công trình khác hoặc cải tạo thành nhà ở mới.

2. Nhà chuyên dùng đang bố trí tạm làm nhà ở (khách sạn, nhà nghỉ, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, kho tàng và các loại nhà chuyên dùng khác);

3. Biệt thự các loại có kế hoạch dùng làm công thự hoặc dùng vào các mục đích khác.
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Nghị định 21-CP năm 1996 có hiệu lực từ ngày 16/04/1996 (VB hết hiệu lực: 06/06/2013)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Nghị định 21-CP năm 1996 có hiệu lực từ ngày 16/04/1996 (VB hết hiệu lực: 06/06/2013)
Điều 1.- ... Điều 7 của Nghị định số 61/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
2- Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 7- Giá bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê gồm giá nhà ở và giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng.

1- Giá nhà ở được xác định căn cứ vào giá trị còn lại của nhà ở và hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng:

a) Giá trị còn lại của nhà ở được xác định căn cứ vào tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà so với giá nhà ở xây dựng mới do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh) quy định trên cơ sở giá chuẩn tối thiểu nhà ở xây dựng mới do Nhà nước quy định. Tỷ lệ này được xác định cho từng diện tích nhà bán cụ thể căn cứ vào thời hạn đã sử dụng và thực trạng của nhà đó.

Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và Ban Vật giá Chính phủ hướng dẫn phương pháp xác định giá trị còn lại của nhà ở.

b) Hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng:

b1) Hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng đối với các loại nhà ở, trừ loại nhà ở quy định tại điểm b2 dưới đây, quy định như sau:

Tầng 1 và nhà 1 tầng áp dụng hệ số 1,2

Tầng 2 áp dụng hệ số 1,1

Tầng 3 áp dụng hệ số 1,0

Tầng 4 áp dụng hệ số 0,9

Tầng 5 áp dụng hệ số 0,8

Từ tầng 6 trở lên áp dụng hệ số 0,7

b2) Hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng đối với nhà ở nhiều tầng nhiều hộ ở cấu trúc kiểu căn hộ quy định như sau:

Tầng 1 áp dụng hệ số 1,0

Tầng 2 áp dụng hệ số 0,8

Tầng 3 áp dụng hệ số 0,7

Tầng 4 áp dụng hệ số 0,6

Tầng 5 áp dụng hệ số 0,5

Từ tầng 6 trở lên áp dụng hệ số 0,4

c) Đối với nhà ở nhiều tầng nhiều hộ ở cấu trúc kiểu căn hộ đã bàn giao đưa vào sử dụng trước ngày 27 tháng 11 năm 1992 (ngày ban hành Quyết định số 118/TTg của Thủ tướng Chính phủ) thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được phép căn cứ vào giá trị sử dụng thực tế của từng ngôi nhà để áp dụng hệ số điều chỉnh giá nhà ở từ 1,0 đến 0,5.

2- Giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ vào khung giá đất do Nhà nước quy định và căn cứ vào vị trí của đất ở và tầng nhà:

a) Đối với nhà ở một tầng và nhà ở nhiều tầng một hộ ở được tính bằng 40% giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng.

b) Đối với nhà ở nhiều tầng nhiều hộ ở được tính bằng 10% giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng và phân bổ cho các tầng theo hệ số quy định trong bảng sau đây:

(Xem nội dung chi tiết tại văn bản)

Xem nội dung VB
Điều 7.- Giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê gồm giá nhà ở khi chuyển quyền sử dụng.

1. Giá nhà ở được xác định căn cứ vào giá trị còn lại của nhà ở và hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng:

a) Giá trị còn lại của nhà ở được xác định căn cứ vào tỷ lệ còn lại của nhà so với giá nhà ở xây dựng mới do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) quy định trên cơ sở giá chuẩn tối thiểu nhà ở xây dựng mới do Nhà nước quy định. Tỷ lệ này được xác định cho từng diện tích nhà bán cụ thể căn cứ vào thời hạn đã sử dụng và thực trạng của nhà đó.

Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn phương pháp xác định giá trị còn lại của nhà ở.

b) Hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng qui định như sau:

- Tầng 1 và nhà 1 tầng áp dụng hệ số 1,2.

- Tầng 2 áp dụng hệ số 1,1.

- Tầng 3 áp dụng hệ số 1,0.

- Tầng 4 áp dụng hệ số 0,9.

- Tầng 5 áp dụng hệ số 0,8.

- Tầng 6 trở lên áp dụng hệ số 0,7.

2. Giá đất khi chuyển quyền sử dụng do Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh qui định căn cứ vào khung giá đất do Nhà nước qui định và căn cứ vào vị trí của đất ở và tầng nhà;

a) Đối với nhà ở một tầng và nhà ở nhiều tầng 1 hộ ở được tính 40% giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng.

b) Đối với nhà ở nhiều tầng nhiều hộ được tính bằng 10% giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng và phân bổ cho các tầng theo hệ số qui định trong bảng sau đây:

(Xem nội dung chi tiết tại văn bản)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Nghị định 21-CP năm 1996 có hiệu lực từ ngày 16/04/1996 (VB hết hiệu lực: 06/06/2013)
Điều này bị bãi bỏ bởi Điểm b Khoản 3 Điều 186 Nghị định 181/2004/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/11/2004 (VB hết hiệu lực: 01/07/2014)
Điều 186. Hiệu lực thi hành
...
3. Bãi bỏ các quy định về quản lý và sử dụng đất đai của các Nghị định sau đây mà trái với quy định của Nghị định này:
...
b) Quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua nhà tại Điều 10 của Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở ;

Xem nội dung VB
Điều 10. Người mua nhà sau khi trả hết tiền và hoàn tất thủ tục nộp lệ phí trước bạ thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Nếu bán lại thì Nhà nước sẽ điều tiết phần thu nhập do bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.
Điều này bị bãi bỏ bởi Điểm b Khoản 3 Điều 186 Nghị định 181/2004/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/11/2004 (VB hết hiệu lực: 01/07/2014)
Các quy định về thu tiền sử dụng đất quy định tại Nghị định này bị thay thế bởi Điều 22 Nghị định 38/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/09/2000 (VB hết hiệu lực: 24/12/2004)
Điều 22. Hiệu lực thi hành
...
Nghị định này thay thế các quy định về thu tiền sử dụng đất quy định tại ... Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở

Xem nội dung VB
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 61-CP NGÀY 05 THÁNG 7 NĂM 1994 VỀ MUA BÁN VÀ KINH DOANH NHÀ Ở
Nghị định này được hướng dẫn bởi Công văn 827/TTg-KTN năm 2008 có hiệu lực từ ngày 29/05/2008
Xét đề nghị của Bộ Xây dựng tại công văn số 394/BXD-QLN ngày 10 tháng 3 năm 2008 và ý kiến của các Bộ: Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại cuộc họp ngày 21 tháng 5 năm 2008 về việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến như sau:

- Các địa phương tiếp tục thực hiện việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ đến hết năm 2010;

- Bộ Xây dựng nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách mới để áp dụng sau khi chấm dứt chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ./.

Xem nội dung VB
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 61-CP NGÀY 05 THÁNG 7 NĂM 1994 VỀ MUA BÁN VÀ KINH DOANH NHÀ Ở
Các quy định về thu tiền sử dụng đất quy định tại Nghị định này bị thay thế bởi Điều 22 Nghị định 38/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/09/2000 (VB hết hiệu lực: 24/12/2004)
Nghị định này được hướng dẫn bởi Công văn 827/TTg-KTN năm 2008 có hiệu lực từ ngày 29/05/2008
Khoản này được hướng dẫn bởi Thông tư 01/BXD-QLN-1996 có hiệu lực từ ngày 19/03/1996
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị định 61/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ, sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và đất ở, Bộ Xây dựng hướng dẫn việc chuyển giao nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước thuộc diện được bán từ các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước cho bên bán nhà như sau:

I- NGUYÊN TẮC CHUNG

1- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước (sau đây gọi là bên giao nhà) hiện đang quản lý nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước mà thuộc diện được bán thì phải chuyển giao nhà đó cho bên bán nhà nêu tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 61/CP theo quy định sau đây:

a) Nếu bên giao nhà trực thuộc các cơ quan Trung ương thì việc chuyển giao nhà ở được thực hiện sau khi có văn bản chuyển giao của Bộ, ngành Trung ương (sau đây gọi là Bộ) và văn bản tiếp nhận của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là tỉnh).

b) Nếu bên giao nhà trực thuộc cơ quan địa phương thì việc chuyển giao nhà ở được thực hiện sau khi có Quyết định chuyển giao của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2- Việc chuyển giao nhà ở phải được thực hiện thông qua biên bản bàn giao giữa 2 bên trên nguyên tắc bàn giao theo đúng hiện trạng về đất ở, nhà ở và người sử dụng nhà đó tại thời điểm bàn giao.

II- THỦ TỤC BÀN GIAO

1- Bên giao nhà lập danh mục nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do đơn vị mình quản lý (phụ lục số 1) và gửi cho cơ quan quản lý quy hoạch tỉnh.

Cơ quan quản lý quy hoạch tỉnh căn cứ quy hoạch các khu vực nhà ở thuộc diện được bán theo Nghị định 61/CP do Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt, trả lời bằng văn bản cho bên giao nhà biết nhà nào được bán, nhà nào không được bán (không phụ thuộc vào việc đơn vị có nhà tự quản có các giấy tờ về nhà ở, đất ở hay không).

Trường hợp nhà ở xây dựng trên đất tạm giao, hoặc không có quyết định giao đất, hoặc trên đất được giao để làm trụ sở cơ quan hoặc sản xuất kinh doanh... thì phải xem xét từng trường hợp cụ thể để xác định nhà ở đó có thuộc diện được bán hay không.

2- Căn cứ văn bản trả lời của cơ quan quản lý quy hoạch tỉnh, bên giao nhà lập danh mục nhà ở thuộc diện được bán (phụ lục số 2) và gửi cho cơ quan cấp trên theo trình tự như sau:

a) Nếu bên giao nhà thuộc cơ quan Trung ương thì gửi danh mục nhà ở thuộc diện được bán cho Bộ chủ quan để Bộ chủ quan có văn bản chuyển giao nhà đó cho tỉnh.

b) Nếu bên giao nhà thuộc cơ quan địa phương thì gửi danh mục nhà ở thuộc diện được bán cho Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3- Sau khi nhận được công văn kèm theo Danh mục nhà ở thuộc diện được bán do Bộ gửi, Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm trả lời Bộ bằng văn bản về việc tiếp nhận nhà ở đó.

4- Căn cứ nhà ở thuộc diện được bán do Bộ chuyển giao và do các cơ quan trực thuộc địa phương trình lên. Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định giao cho Sở nhà đất hoặc Sở Xây dựng (nơi không có Sở nhà đất) hoặc Uỷ ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện tổ chức tiếp nhận nhà ở trên từng địa bàn.

5- Sở nhà đất hoặc Sở xây dựng (nơi không có Sở nhà đất) hoặc Uỷ ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện căn cứ Danh mục nhà ở được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao trách nhiệm tổ chức tiếp nhận có văn bản giao cho Công ty kinh doanh nhà thực hiện việc tiếp nhận cụ thể. Nơi chưa có Công ty kinh doanh nhà thì Uỷ ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện trực tiếp thực hiện việc tiếp nhận nhà.

6- Sau khi nhân được Danh mục nhà ở cần phải tiếp nhận, Công ty kinh doanh nhà hoặc Uỷ ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện (sau đây gọi là bên nhận nhà) thoả thuận với bên giao nhà tiến độ bàn giao nhà và tổ chức tiếp nhận theo tiến độ đó trên nguyên tắc bàn giao theo đúng hiện trạng nhà ở, đất ở và người sử dụng nhà đó tại thời điểm bàn giao.

Cụ thể là:

a) Về đất ở: Bên giao nhà bàn giao toàn bộ khu đất ở do đơn vị đó đang quản lý, kèm theo các loại hồ sơ hiện có, như: quyết định giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trích lục thửa đất, biên lai thu thuế, v.v...

Trường hợp không có hồ sơ về đất thì hai bên cắm mốc giới thửa đất và bàn giao theo các mốc giới đó, đồng thời phải ghi rõ lý do không có hồ sơ đất, như: thất lạc hồ sơ, tiếp quản nhà từ chế độ cũ mà không có hồ sơ đất, không có quyết định giao đất, v.v...

Trường hợp nhà ở nằm trong một khu tập thể có nhiều nhà có nhiều đơn vị quản lý, giữa các nhà không có ranh giới đất riêng thì trong biên bản bàn giao ghi là nhà ở trong khu tập thể sử dụng chung khu đất.

b) Về nhà ở: Bàn giao theo từng ngôi nhà (nếu bên giao đang quản lý cả ngôi nhà) hoặc bàn giao theo từng căn hộ (nếu bên giao chỉ quản lý 1 vài căn hộ trong 1 nhà có nhiều căn hộ).

Nhà hoặc căn hộ bàn giao phải kèm theo các hồ sơ hiện có, như: Bản vẽ thiết kế, giấy phép xây dựng, quyết định giao quản lý nhà (đối với nhà tiếp quản từ chế độ cũ), biên bản nhận bàn giao nhà từ đơn vị khác chuyển sang, hồ sơ mua bán nhà (nếu là nhà mua của chủ sở hữu khác), v.v...

Trường hợp không có hồ sơ về nhà ở thì hai bên tiến hành bàn giao trên cơ sở vẽ mặt bằng nhà có trên thửa đất hoặc mặt bằng căn hộ có trong nhà (nếu đơn vị chỉ quản lý một vài văn hộ trong một nhà).

Không tiến hành đo vẽ chi tiết nhà ở khi bàn giao.

Không bàn giao nhà ở do người ở xây dựng thêm (vì đó không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước), nhưng phải thể hiện phần xây dựng thêm trên mặt bằng để có biện pháp xử lý sau này.

Trường hợp nhà của Nhà nước đã được người thuê cải tạo lại, hoặc phá đi xây dựng nhà mới, thì bên giao nhà phải xác định bằng văn bản tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà thuộc sở hữu Nhà nước tại thời điểm cải tạo hoặc phá dỡ để bên nhận nhà có cơ sở xác định giá khi bán cho người thuê.

c) Về người sử dụng nhà: Bàn giao danh sách các hộ đang thực tế sử dụng, kể cả có hợp đồng, không có hợp đồng, hoặc hợp đồng mang tên người thuê cũ (nhà hoả hồng), kèm theo toàn bộ hợp đồng thuê nhà, tổng số tiền thuê nhà còn nợ đọng.

Việc bàn giao đất ở, nhà ở kèm theo các hộ đang sử dụng nhà được thực hiện thông qua biên bản bàn giao nhà ở, đất ở (phụ lục số 3).

7- Cùng với việc bàn giao nhà ở, các cơ quan tài chính (cùng cấp) quản lý trực tiếp bên giao nhà hướng dẫn về tài chính với từng trường hợp bàn giao, trong đó phải ghi rõ giá trị nhà ở (hiện đang theo dõi trên sổ sách kế toán của nhà và nguồn kinh phí xây dựng nhà đó) để có cơ sở ghi tăng, giảm vốn tài sản cố định của bên nhận và bên giao nhà.

Không tổ chức xác định giá trị còn lại của nhà ở khi bàn giao nhà.

8- Trong trường hợp bên giao nhà đang quản lý đồng bộ cả một khu tập thể, gồm cả nhà ở, đất ở và hệ thống công trình kỹ thuật hạ tầng, thì hai bên tiến hành bàn giao đồng bộ cả khu tập thể đó.

9- Sau khi tiếp nhận nhà ở, bên nhận nhà có trách nhiệm tổ chức bán theo đúng Nghị định 61/CP (đo vẽ nhà ở, đất ở, xác định giá trị còn lại của nhà, tính giá bán nhà, ký kết hợp đồng mua bán, triển khai thực hiện hợp đồng và hướng dẫn người mua làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở). Đối với những căn hộ mà bên thuê không mua thì bên nhận nhà có trách nhiệm tiếp tục quản lý theo đúng Quyết định 118/TTg và 33/TTg của Thủ tướng Chính phủ.

10- Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước thuộc diện không được bán, nhưng thủ trưởng Bộ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thoả thuận chuyển giao thì tiến hành bàn giao theo Thông tư hướng dẫn này.
...
PHỤ LỤC SỐ 1 DANH MỤC NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH (THÀNH PHỐ) (1)................................ DO (2)....................... TRỰC TIẾP QUẢN LÝ CHO THUÊ
...
PHỤ LỤC SỐ 2 DANH MỤC NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC THUỘC DIỆN ĐƯỢC BÁN TẠI TỈNH (THÀNH PHỐ) (1)................................ DO (2).................................................. BÀN GIAO SANG (3).....................................
...
PHỤ LỤC SỐ 3 BIÊN BẢN BÀN GIAO NHÀ Ở, ĐẤT Ở

Xem nội dung VB
Điều 8.
...
2. Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước hiện đang quản lý mà thuộc diện được bán thì phải lập phương án chuyển giao cho bên bán theo đúng thủ tục do pháp luật qui định.
Khoản này được hướng dẫn bởi Thông tư 01/BXD-QLN-1996 có hiệu lực từ ngày 19/03/1996
Chương này được hướng dẫn bởi Mục I Phần B Thông tư 70-TC/TCT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 05/07/1994
Thi hành Nghị định số 60/CP về "Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị" và Nghị định số 61/CP về "Mua bán và kinh doanh nhà ở" ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ, căn cứ vào các chính sách thu hiện hành, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thu, nộp thuế và các khoản thu khác liên quan đến việc thực hiện các Nghị định trên như sau:
...
B. ĐỐI VỚI VIỆC MUA BÁN VÀ KINH DOANH NHÀ Ở

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 thì việc mua bán và kinh doanh nhà ở bao gồm các hình thức:

1. Bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê;

2. Kinh doanh nhà ở;

3. Mua, bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh.

Chế độ thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với từng hình thức như sau:

I. BÁN NHÀ THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CHO NGƯỜI ĐANG THUÊ

1. Đối với bên bán nhà: Việc thu, nộp và quản lý sử dụng khoản tiền thu về bán nhà ở theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994, kể cả khoản chi phí cho việc bán nhà sẽ thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

2. Bên mua nhà phải nộp các loại thuế và lệ phí sau:

a. Lệ phí cấp giấy chứng nhận và tuỳ theo các công việc về địa chính cụ thể được thực hiện mà bên bán nhà hoặc bên mua nhà phải nộp lệ phí địa chính theo quy định.

b. Lệ phí trước bạ khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

c. Thuế nhà đất theo quy định của Pháp luật về thuế nhà, đất kể từ ngày được sử dụng nhà mua, theo hợp đồng.

Xem nội dung VB
Chương 2: BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CHO NGƯỜI ĐANG THUÊ
Vấn đề quyền sở hữu đối với “Nhà tình nghĩa” được hướng dẫn bởi Mục 5 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Bộ Xây dựng nhận được công văn của các địa phương đề nghị giải đáp một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ.

Sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo TW, Bộ Xây dựng hướng dẫn như sau:
...
5. Vấn đề quyền sở hữu đối với “Nhà tình nghĩa”

“Nhà tình nghĩa” do các địa phương trao cho các gia đình chính sách được coi là nhà biếu tặng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà không thu tiền sử dụng đất (với mức phù hợp với tiêu chuẩn đất ở của địa phương).

Xem nội dung VB
Chương 2: BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CHO NGƯỜI ĐANG THUÊ
Chương này được hướng dẫn bởi Mục I Phần B Thông tư 70-TC/TCT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 05/07/1994
Vấn đề quyền sở hữu đối với “Nhà tình nghĩa” được hướng dẫn bởi Mục 5 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Phần B Thông tư 70-TC/TCT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 05/07/1994
Thi hành Nghị định số 60/CP về "Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị" và Nghị định số 61/CP về "Mua bán và kinh doanh nhà ở" ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ, căn cứ vào các chính sách thu hiện hành, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thu, nộp thuế và các khoản thu khác liên quan đến việc thực hiện các Nghị định trên như sau:
...
B. ĐỐI VỚI VIỆC MUA BÁN VÀ KINH DOANH NHÀ Ở

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 thì việc mua bán và kinh doanh nhà ở bao gồm các hình thức:

1. Bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê;

2. Kinh doanh nhà ở;

3. Mua, bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh.

Chế độ thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với từng hình thức như sau:
...
II. ĐỐI VỚI VIỆC KINH DOANH NHÀ Ở:

Theo Điều 12 Nghị định số 61/CP, kinh doanh nhà ở bao gồm các hình thức:

- Mua, bán nhà

- Cho thuê nhà

- Hoạt động dịch vụ mua, bán nhà và cho thuê nhà.

Chế độ thu nộp Ngân sách Nhà nước cụ thể như sau:

1. Mua bán nhà bao gồm cả xây nhà để bán hay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch xây dựng nhà ở để chuyển quyền sử dụng đất.

Tổ chức , cá nhân kinh doanh mua bán nhà, bao gồm cả xây nhà để bán hay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch xây dựng nhà ở để chuyển quyền sử dụng đất, nộp thuế và lệ phí như hướng dẫn dưới đây:

a. Bên bán nhà phải nộp:

- Thuế môn bài

- Thuế doanh thu, thuế lợi tức trên doanh thu và lợi tức bán nhà cùng với chuyển quyền sử dụng đất có nhà đó theo quy định của Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức.

Tổ chức, cá nhân có sử dụng tài sản, tiền vốn của Nhà nước thì phải nộp khấu hao cơ bản, khoản thu sử dụng vốn NSNN theo quy định hiện hành.

- Tiền sử dụng đất khi được giao đất để kinh doanh

b. Bên mua nhà phải nộp:

- Lệ phí cấp giấy chứng nhận;

- Lệ phí trước bạ trước khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

- Thuế nhà, đất theo quy định của Pháp luật về thuế nhà, đất từ ngày được quyền sử dụng nhà mua theo hợp đồng.

2. Cho thuê nhà

a. Tổ chức, cá nhân cho thuê nhà phải nộp thuế và lệ phí như sau:

- Thuế môn bài;

- Thuế doanh thu, thuế lợi tức. Nếu có sử dụng tài sản, tiền vốn của Nhà nước thì phải nộp khấu hao, nộp tiền sử dụng vốn theo quy định;

- Thuế nhà, đất theo quy định của Pháp luật về thuế nhà đất;

- Tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để kinh doanh.

b. Bên thuê nhà phải trả tiền thuê và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã ghi trong hợp đồng thuê.

c. Nếu có yêu cầu phục vụ những công việc về địa chính thì bên yêu cầu phải nộp lệ phí địa chính theo quy định.

3. Hoạt động dịch vụ về mua, bán và cho thuê nhà

Hoạt động dịch vụ về mua, bán, cho thuê nhà gồm dịch vụ môi giới và các hoạt động dịch vụ khác liên quan đến việc mua, bán, cho thuê nhà.

Bên tiến hành các hoạt động dịch vụ trên đây phải nộp thuế môn bài, thuế doanh thu và thuế lợi tức theo quy định hiện hành của luật hiện hành của Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức đối với từng hoạt động dịch vụ.

Xem nội dung VB
Điều 12. Kinh doanh nhà ở nói tại Nghị định này là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi sau đây:

1. Cho thuê nhà ở;

2. Mua bán nhà ở;

3. Nhận quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo qui hoạch xây dựng nhà ở để chuyển quyền sử dụng đất;

4. Dịch vụ mua bán, cho thuê nhà ở.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Phần B Thông tư 70-TC/TCT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 05/07/1994
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Phần B Thông tư 70-TC/TCT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 05/07/1994
Thi hành Nghị định số 60/CP về "Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị" và Nghị định số 61/CP về "Mua bán và kinh doanh nhà ở" ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ, căn cứ vào các chính sách thu hiện hành, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thu, nộp thuế và các khoản thu khác liên quan đến việc thực hiện các Nghị định trên như sau:
...
B. ĐỐI VỚI VIỆC MUA BÁN VÀ KINH DOANH NHÀ Ở

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 thì việc mua bán và kinh doanh nhà ở bao gồm các hình thức:

1. Bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê;

2. Kinh doanh nhà ở;

3. Mua, bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh.

Chế độ thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với từng hình thức như sau:
...
III. ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP MUA BÁN NHÀ KHÔNG NHẰM MỤC ĐÍCH KINH DOANH

Thuế và các khoản thu khác đối với bên bán nhà và bên mua nhà không nhằm mục đích kinh doanh như sau:

1. Bên bán nhà phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo Pháp luật về thuế chuyển quyền sử dụng đất.

2. Bên mua nhà phải nộp:

a. Lệ phí cấp giấy chứng nhận;

b. Lệ phí trước bạ trước khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở;

c. Thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về thuế nhà, đất từ ngày được quyền sử dụng nhà mua theo hợp đồng.

Xem nội dung VB
Chương 4: MUA BÁN NHÀ Ở KHÔNG NHẰM MỤC ĐÍCH KINH DOANH
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Phần B Thông tư 70-TC/TCT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 05/07/1994
Về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, tư nhân có khuôn viên quá rộng được hướng dẫn bởi Mục 1 và 2 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Bộ Xây dựng nhận được công văn của các địa phương đề nghị giải đáp một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ.

Sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo TW, Bộ Xây dựng hướng dẫn như sau:

1. Về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước có khuôn viên quá rộng.

Hiện nay, ở nhiều đô thị có các loại “biệt thự” “nhà vườn” với đất khuôn viên rất rộng, lên đến hàng ngàn m2 và đang cho các đối tượng thuê ở. Đối với quỹ nhà đất này, trước hết Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải quy hoạch lại và lập phương án cụ thể để việc sử dụng đạt hiệu quả cao hơn. Trên cơ sở phương án đó, với những loại “biệt thự”, “nhà vườn” thuộc diện được bán cho người đang thuê thì phải quy định mức “đất ở” phù hợp với quy hoạch và tính chất từng đô thị để giao cho hộ gia đình khi bán nhà. Phần đất còn lại thuộc khuôn viên nhà đó xử lý như sau:

- Nếu người mua nhà đồng ý trả tiền đất thì giao cho người đó sử dụng.

- Nếu người mua nhà không chấp nhận trả tiền sử dụng đất thì cho họ thuê.

- Nếu người mua nhà không chấp nhận một trong hai hình thức (trả tiền sử dụng đất hoặc thuê đất) thì không tiến hành việc bán nhà đó nữa.

Chỉ sau khi người thuê nhà thỏa thuận việc mua bán theo phương thức nêu trên, cam kết bằng văn bản về việc giữ nguyên vẹn khuôn viên của nhà ở theo đúng yêu cầu của quy hoạch và cảnh quan đô thị, thì mới tiến hành bán nhà và cấp giấy chứng nhận cho người đó.

2. Về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân có khuôn viên quá rộng

“Biệt thự” “nhà vườn” thuộc sở hữu tư nhân có khuôn viên quá rộng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng phải căn cứ vào quy hoạch và tính chất từng đô thị để quy định mức “đất ở” khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình. Phần đất còn lại của khuôn viên nhà đó, coi là “đất vườn” và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) theo quy định hiện hành.

Để được cấp giấy chứng nhận, chủ sở hữu cũng phải có cam kết bằng văn bản về việc giữ nguyên vẹn khuôn viên của nhà ở như đã nêu tại mục 1 trên đây.

Xem nội dung VB
Điều 5.- Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở, trừ các loại nhà ở sau đây:
...
3. Biệt thự các loại có kế hoạch dùng làm công thự hoặc dùng vào các mục đích khác.
Về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, tư nhân có khuôn viên quá rộng được hướng dẫn bởi Mục 1 và 2 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, tư nhân có khuôn viên quá rộng được hướng dẫn bởi Mục 1 và 2 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Bộ Xây dựng nhận được công văn của các địa phương đề nghị giải đáp một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ.

Sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo TW, Bộ Xây dựng hướng dẫn như sau:

1. Về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước có khuôn viên quá rộng.

Hiện nay, ở nhiều đô thị có các loại “biệt thự” “nhà vườn” với đất khuôn viên rất rộng, lên đến hàng ngàn m2 và đang cho các đối tượng thuê ở. Đối với quỹ nhà đất này, trước hết Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải quy hoạch lại và lập phương án cụ thể để việc sử dụng đạt hiệu quả cao hơn. Trên cơ sở phương án đó, với những loại “biệt thự”, “nhà vườn” thuộc diện được bán cho người đang thuê thì phải quy định mức “đất ở” phù hợp với quy hoạch và tính chất từng đô thị để giao cho hộ gia đình khi bán nhà. Phần đất còn lại thuộc khuôn viên nhà đó xử lý như sau:

- Nếu người mua nhà đồng ý trả tiền đất thì giao cho người đó sử dụng.

- Nếu người mua nhà không chấp nhận trả tiền sử dụng đất thì cho họ thuê.

- Nếu người mua nhà không chấp nhận một trong hai hình thức (trả tiền sử dụng đất hoặc thuê đất) thì không tiến hành việc bán nhà đó nữa.

Chỉ sau khi người thuê nhà thỏa thuận việc mua bán theo phương thức nêu trên, cam kết bằng văn bản về việc giữ nguyên vẹn khuôn viên của nhà ở theo đúng yêu cầu của quy hoạch và cảnh quan đô thị, thì mới tiến hành bán nhà và cấp giấy chứng nhận cho người đó.

2. Về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân có khuôn viên quá rộng

“Biệt thự” “nhà vườn” thuộc sở hữu tư nhân có khuôn viên quá rộng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng phải căn cứ vào quy hoạch và tính chất từng đô thị để quy định mức “đất ở” khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình. Phần đất còn lại của khuôn viên nhà đó, coi là “đất vườn” và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) theo quy định hiện hành.

Để được cấp giấy chứng nhận, chủ sở hữu cũng phải có cam kết bằng văn bản về việc giữ nguyên vẹn khuôn viên của nhà ở như đã nêu tại mục 1 trên đây.

Xem nội dung VB
Điều 5.- Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở, trừ các loại nhà ở sau đây:
...
3. Biệt thự các loại có kế hoạch dùng làm công thự hoặc dùng vào các mục đích khác.
Về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, tư nhân có khuôn viên quá rộng được hướng dẫn bởi Mục 1 và 2 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Việc tiếp tục thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê được hướng dẫn bởi Công văn 1320/BXD-QLN năm 2008 có hiệu lực từ ngày 07/07/2008
Ngày 29/5/2008, Thủ tướng Chính phủ có văn bản số 827/TTg-KTN về việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP, trong đó nêu rõ “các địa phương tiếp tục thực hiện việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ đến hết năm 2010” và giao “Bộ Xây dựng nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách mới” để áp dụng sau khi chấm dứt chính sách bán nhà ở này.

Nhằm tạo điều kiện cho các địa phương khẩn trương thực hiện chỉ đạo nêu trên của Thủ tướng Chính phủ và để Bộ Xây dựng có cơ sở nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách mới theo nhiệm vụ Thủ tướng đã giao, Bộ Xây dựng đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện một số nội dung sau:

1. Tiếp tục thực hiện việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo quy định tại các văn bản Nghị định 61/CP, Nghị định 21/CP ngày 16/4/1996, Nghị quyết 23/2006/NQ-CP ngày 07/9/2006 và Nghị quyết 48/2007/NQ-CP ngày 30/8/2007 của Chính phủ. Theo đó, giá đất khi bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước được thực hiện theo quy định tại điểm a Mục 2 của Nghị quyết 23/2006/NQ-CP; đối với nhà ở riêng lẻ có vị trí sinh lợi cao tại vị trí mặt đường mặt phố, nhà biệt thự của 2 thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì thực hiện theo quy định tại điểm a Mục 2 của Nghị quyết 48/2007/NQ-CP.

2. Tổ chức kiểm tra, báo cáo gửi Bộ Xây dựng định kỳ sáu tháng một lần vào ngày 15 tháng 6 và 15 tháng 12 hàng năm về tình hình bán nhà ở theo Nghị định 61/CP. Báo cáo tập trung vào các nội dung sau:

- Tổng quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn, số lượng nhà ở đã bán được từ khi thực hiện việc bán nhà cho đến thời điểm báo cáo (diện tích m2 tương ứng với số căn);

- Số lượng nhà ở còn lại, trong đó phân loại nhà ở thuộc diện được bán, nhà ở không thuộc diện được bán (diện tích m2 tương ứng với số căn);

- Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai bán nhà ở.

Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương khẩn trương thực hiện việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo đúng quy định của pháp luật./.

Xem nội dung VB
Điều 27. Liên Bộ Xây dựng - Tài chính - Vật giá Chính phủ phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.
Việc tiếp tục thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê được hướng dẫn bởi Công văn 1320/BXD-QLN năm 2008 có hiệu lực từ ngày 07/07/2008
Nội dung này được hướng dẫn bởi Thông tư 69-TC/ĐT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 17/08/1994 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Căn cứ vào Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở,
...
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc thu nộp, sử dụng tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê như sau:

I. QUY ĐỊNH CHUNG
...
II. THU NỘP TIỀN BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
...
III. SỬ DỤNG TIỀN BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
...
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Xem nội dung VB
Điều 11. Tiền thu được từ việc bán nhà ở phải nộp vào Ngân sách Nhà nước để duy trì và phát triển quĩ nhà ở theo các dự án và kế hoạch do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng Nhân dân cùng cấp thông qua, trong đó ưu tiên cho các mục tiêu sau đây:
...
6. Thực hiện chính sách xã hội về nhà ở.

Dự toán chi phí cho việc thực hiện bán nhà ở do bên bán lập, thông qua Hội đồng bán nhà ở trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và được trích từ nguồn kinh phí do bán nhà ở.

Bộ Tài chính hướng dẫn việc thu, nộp và sử dụng tiền bán nhà ở theo đúng các qui định nói tại Điều này.
Nội dung này được hướng dẫn bởi Thông tư 69-TC/ĐT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 17/08/1994 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Thông tư 69-TC/ĐT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 17/08/1994 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Căn cứ vào Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở,
...
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc thu nộp, sử dụng tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê như sau:
...
II. THU NỘP TIỀN BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC

1. Thanh toán tiền mua nhà ở.

a) Bên bán nhà ở căn cứ vào hợp đồng mua bán nhà ở đã ký kết với bên mua, lập chứng từ thu tiền bán nhà ở (hoá đơn thu tiền theo quy định của Bộ Tài chính). Tuỳ theo phương thức thanh toán tiền mua nhà ở, đã được ghi trong hợp đồng mua bán nhà ở, chứng từ thu tiền bán nhà ở, thể hiện các nội dung thanh toán như sau:

- Thanh toán một lần sau khi ký kết hợp đồng thì được giảm giá bán là 10%.

- Thanh toán trong thời hạn một năm thì mức trả lần đầu ngay sau khi ký hợp đồng không dưới 20% tổng số tiền phải trả, được giảm giá bán là 2%.

- Thanh toán nhiều lần nhưng thời hạn thanh toán không quá 10 năm. Mức trả lần đầu sau khi ký hợp đồng không dưới 20% tổng số tiền phải trả; mỗi năm thanh toán tiếp theo phải trả không dưới 8% tổng số tiền phải trả.

- Số tiền còn lại được quy ra vàng 98% để làm căn cứ thanh toán các lần sau. Số lượng vàng để thanh toán cho mỗi lần sau được quy đổi thành tiền đồng Việt Nam và vàng 98% theo giá bán ra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (VND) giá quy đổi giữa đồng Việt Nam và vàng 98% theo giá bán ra của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước trên địa bàn) tại thời điểm thanh toán.

Ví dụ: hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Nguyễn Văn A (bên mua) và Công ty kinh doanh Nhà ở tỉnh N (bên bán) là 81.000.000 đ trong đó: Tiền mua nhà ở: 20.000.000 đ; Tiền đất ở khi chuyển quyền sử dụng là: 61.000.000 đ.

Thời hạn thanh toán tiền mua nhà trong 10 năm. Thanh toán lần đầu sau khi ký hợp đồng phải trả bằng 20% giá trị hợp đồng. Các lần thanh toán tiếp theo mỗi năm không dưới 8% tổng sổ tiền phải trả.

Ông A phải thanh toán tiền mua nhà ở như sau:

+ Lần thanh toán đầu tiên:

81.000.000 đ x 20% =16.200.000 đ.

Số tiền còn lại là: 64.800.000 đ được quy ra vàng 98% tại thời điểm bán theo giá: 480.000 đ/chỉ vàng. Như vậy lượng vàng được quy đổi là: 64.800.000 đ: 480.000 đ = 135 chỉ vàng, trong 9 năm còn lại, để thực hiện hết hợp đồng bên mua phải thanh toán, cho mỗi lần tiếp theo bằng:

135 chỉ vàng: 9 = 15 chỉ vàng.

+ Lần thanh toán thứ 2 (năm thứ 2) theo giá vàng 98% là 500.000 đ/chỉ, số tiền người mua thanh toán là:

15 chỉ vàng x 500.000 đ/chỉ = 7.500.000 đ

+ Lần thanh toán thứ 3 (năm thứ 3): giá vàng 98% là 450.000 đ/chỉ, người mua phải thanh toán là:

15 chỉ vàng x 450.000 đ = 6.750.000 đ như vậy, số lượng vàng còn lại sau 2 lần thanh toán tiếp theo là 135 chỉ - 30 chỉ = 105 chỉ vàng.

Các lần thanh toán tiếp theo từ lần thứ 4 đến lần thứ 9 (không kể lần thanh toán đầu tiên) cũng tính toán tương tự, cho đến khi số lượng vàng quy đổi ban đầu (135 chỉ vàng) được thanh toán hết.

b) Thanh toán tiền phạt bằng 5% giá trị hợp đồng mua bán nhà ở, do người mua vi phạm hợp đồng mà không có lý do chính đáng trong các trường hợp như sau: người mua chưa trả hết tiền mua nhà, khi thời hạn hợp đồng đã kết thúc; người mua không thanh toán tiền mua nhà theo đúng thời hạn thanh toán đã ghi trong hợp đồng.

Xem nội dung VB
Điều 9. Phương thức thanh toán tiền mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được qui định như sau:

1. Thanh toán bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

2. Thời hạn thanh toán không quá 10 năm. Mức trả lần đầu khi ký kết hợp đồng không dưới 20% tổng số tiền phải trả, số tiền còn lại qui ra vàng 98% để làm căn cứ thanh toán các lần sau và mỗi năm tiếp theo phải trả không dưới 8% tổng số tiền phải trả.

Nếu trả hết một lần ngay khi ký kết hợp đồng thì được giảm 10%, nếu trả trong thời hạn 1 năm thì dược giảm 2% giá bán;

3. Trong trường hợp người mua nhà chưa trả hết tiền mà thời hạn ghi trong hợp đồng đã kết thúc hoặc không thanh toán theo qui định tại Khoản 2 Điều này, nếu không có lý do chính đáng thì bên bán có quyền đơn phương huỷ bỏ hợp đồng và hoàn trả cho người mua số tiền đã nhận sau khi khấu trừ một khoản tiền phạt bằng 5% giá trị hợp đồng. Người mua phải truy nộp toàn bộ số tiền thuê nhà chưa trả để được tiếp tục thuê nhà ở theo qui định của pháp luật;

4. Trong trường hợp người mua nhà chưa trả hết tiền mà chuyển đi nơi khác thì người đó được tiếp tục trả tiền mua nhà để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Nếu người mua nhà chết thì những người trong diện thừa kế được tiếp tục trả tiền mua nhà để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Trong mọi trường hợp khác sẽ thực hiện theo qui định tại Khoản 3 Điều này.

5. Đối với nhà ở khi xây dựng có một phần tiền góp của cá nhân, tập thể mà không có nguồn gốc từ vốn Ngân sách Nhà nước thì Hội đồng bán nhà ở căn cứ vào tỷ lệ số tiền đã góp so với giá trị quyết toán khi xây dựng công trình để tính số tiền bên mua phải tiếp tục trả theo giá bán qui định tại Điều 7 của Nghị định này.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Thông tư 69-TC/ĐT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 17/08/1994 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Nội dung này được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 13/LB-TT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 02/09/1994 (VB hết hiệu lực: 01/08/2024)
Căn cứ Điều 7 của Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở, Liên Bộ Xây dựng - Tài chính - Vật giá Chính phủ hướng dẫn phương pháp xác định giá trị còn lại của nhà ở như sau:
...
I. NGUYÊN TẮC CHUNG
...
II. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CÒN LẠI CỦA NHÀ Ở
...
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
...
PHỤ LỤC SỐ 1 BẢNG HƯỚNG DẪN XÁC ĐỊNH TỶ LỆ CÒN LẠI CỦA CÁC KẾT CẤU CHÍNH
...
PHỤ LỤC SỐ 2 BẢNG TỶ LỆ GIÁ TRỊ CỦA CÁC KẾT CẤU CHÍNH SO VỚI TỔNG GIÁ TRỊ CỦA NGÔI NHÀ
...
PHỤ LỤC SỐ 3 BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CÒN LẠI CỦA NHÀ Ở

Xem nội dung VB
Điều 7.- Giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê gồm giá nhà ở khi chuyển quyền sử dụng.

1. Giá nhà ở được xác định căn cứ vào giá trị còn lại của nhà ở và hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng:

a) Giá trị còn lại của nhà ở được xác định căn cứ vào tỷ lệ còn lại của nhà so với giá nhà ở xây dựng mới do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) quy định trên cơ sở giá chuẩn tối thiểu nhà ở xây dựng mới do Nhà nước quy định. Tỷ lệ này được xác định cho từng diện tích nhà bán cụ thể căn cứ vào thời hạn đã sử dụng và thực trạng của nhà đó.

Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn phương pháp xác định giá trị còn lại của nhà ở.
Nội dung này được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 13/LB-TT năm 1994 có hiệu lực từ ngày 02/09/1994 (VB hết hiệu lực: 01/08/2024)
Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng bên thuê đã xây dựng, sửa chữa, cải tạo lại được hướng dẫn bởi Mục 3 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Bộ Xây dựng nhận được công văn của các địa phương đề nghị giải đáp một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ.

Sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo TW, Bộ Xây dựng hướng dẫn như sau:
...
3. Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng bên thuê đã xây dựng, sửa chữa, cải tạo lại thì xử lý như sau:

a) Nếu bên thuê đã xây dựng thêm diện tích bên cạnh diện tích thuê của Nhà nước thì chỉ bán phần diện tích họ đang thuê (theo hợp đồng). Phần diện tích xây thêm xử lý theo Điều 10 Nghị định 60/CP.

b) Nếu bên thuê đã sửa chữa, cải tạo lại diện tích thuê của Nhà nước (thay nền, cửa, khu vệ sinh v.v…), thì tiến hành bán diện tích đang thuê hoặc hiện trạng kỹ thuật trước khi bên thuê sửa chữa, cải tạo lại.

c) Nếu bên thuê đã xây dựng thêm diện tích trên nóc nhà của Nhà nước, hoặc phá dỡ nhà của Nhà nước để xây dựng nhà mới trên nền nhà cũ, thì chưa xét bán để có biện pháp xử lý sau, kể cả trường hợp xây dựng có giấy phép.

Xem nội dung VB
Điều 5.- Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở, trừ các loại nhà ở sau đây:

1. Nhà ở thuộc khu vực quy hoạch xây dựng các công trình khác hoặc cải tạo thành nhà ở mới.
Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng bên thuê đã xây dựng, sửa chữa, cải tạo lại được hướng dẫn bởi Mục 3 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 4 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Bộ Xây dựng nhận được công văn của các địa phương đề nghị giải đáp một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ.

Sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo TW, Bộ Xây dựng hướng dẫn như sau:
...
4. Nhà ở thuộc quyền sở hữu Nhà nước nhưng bên thuê đã chuyển nhượng quyền thuê cho người khác, thì xử lý như sau:

a) Nếu việc chuyển nhượng quyền thuê nhà là tự nguyện, không có tranh chấp, bên thuê nhà đã chuyển đi chỗ khác, người nhận lại quyền thuê nhà đã đến ở và không có chỗ ở khác, thì cho phép làm thủ tục chuyển hợp đồng thuê cho người đang ở. Người được nhận hợp đồng mới có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ phát triển nhà của tỉnh, thành phố với mức bằng lệ phí trước bạ của loại nhà tương ứng khi chuyển quyền sở hữu.

b) Nếu việc chuyển nhượng quyền thuê nhà phát sinh tranh chấp, người nhận lại quyền thuê nhà thực tế không đến ở, vì đã có chỗ ở khác, thì cơ quan nhà đất hủy hợp đồng thuê thu hồi ngay diện tích đó và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho đối tượng khác thuê.

Xem nội dung VB
Điều 6.- Việc mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước là tự nguyện. Trong trường hợp bên thuê nhà không mua thì được tiếp tục thuê. Nếu các hộ đang ở trong các nhà ở quy định tại các Khoản 1, 2 và 3, Điều 5 của Nghị định này có nhu cầu mua thì được xét cho mua nhà ở khác thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định của Nghị định này, nhưng phải trả lại cho Nhà nước diện tích đang thuê ở.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 4 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 4 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995
Bộ Xây dựng nhận được công văn của các địa phương đề nghị giải đáp một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ.

Sau khi xin ý kiến Ban chỉ đạo TW, Bộ Xây dựng hướng dẫn như sau:
...
4. Nhà ở thuộc quyền sở hữu Nhà nước nhưng bên thuê đã chuyển nhượng quyền thuê cho người khác, thì xử lý như sau:

a) Nếu việc chuyển nhượng quyền thuê nhà là tự nguyện, không có tranh chấp, bên thuê nhà đã chuyển đi chỗ khác, người nhận lại quyền thuê nhà đã đến ở và không có chỗ ở khác, thì cho phép làm thủ tục chuyển hợp đồng thuê cho người đang ở. Người được nhận hợp đồng mới có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ phát triển nhà của tỉnh, thành phố với mức bằng lệ phí trước bạ của loại nhà tương ứng khi chuyển quyền sở hữu.

b) Nếu việc chuyển nhượng quyền thuê nhà phát sinh tranh chấp, người nhận lại quyền thuê nhà thực tế không đến ở, vì đã có chỗ ở khác, thì cơ quan nhà đất hủy hợp đồng thuê thu hồi ngay diện tích đó và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho đối tượng khác thuê.

Xem nội dung VB
Điều 6.- Việc mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước là tự nguyện. Trong trường hợp bên thuê nhà không mua thì được tiếp tục thuê. Nếu các hộ đang ở trong các nhà ở quy định tại các Khoản 1, 2 và 3, Điều 5 của Nghị định này có nhu cầu mua thì được xét cho mua nhà ở khác thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định của Nghị định này, nhưng phải trả lại cho Nhà nước diện tích đang thuê ở.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 4 Công văn 806/BXD-QLN năm 1995 có hiệu lực từ ngày 31/05/1995