Luật Đất đai 2024

Luật Giám định tư pháp 2025

Số hiệu 105/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 05/12/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Thủ tục Tố tụng
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 105/2025/QH15

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2025

 

LUẬT

GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật Giám định tư pháp.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp; trình tự, thủ tục giám định tư pháp; chi phí giám định tư pháp; chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp; quản lý nhà nước về giám định tư pháp; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giám định tư pháp.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, Hội đồng giám định tư pháp.

2. Người trưng cầu giám định tư pháp, người yêu cầu giám định tư pháp.

3. Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến hoạt động giám định tư pháp.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kiểm tra, đánh giá, kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của người trưng cầu giám định tư pháp hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định tư pháp.

2. Người trưng cầu giám định tư pháp bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; cơ quan, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; cơ quan, người khác có thẩm quyền trưng cầu giám định tư pháp theo quy định của pháp luật.

3. Người yêu cầu giám định tư pháp là người có quyền tự mình yêu cầu giám định tư pháp sau khi đã đề nghị người trưng cầu giám định tư pháp trưng cầu giám định mà không được chấp nhận theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về tố tụng hành chính.

4. Người giám định tư pháp bao gồm giám định viên tư pháp và người giám định tư pháp theo vụ việc.

5. Giám định viên tư pháp là người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện giám định tư pháp.

6. Người giám định tư pháp theo vụ việc là người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc được người trưng cầu giám định tư pháp trưng cầu trong trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này.

7. Tổ chức giám định tư pháp bao gồm tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc và văn phòng giám định tư pháp.

8. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc là tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc được người trưng cầu giám định tư pháp trưng cầu trong trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

9. Quy trình giám định tư pháp là tập hợp các bước theo trình tự, thủ tục để thực hiện giám định tư pháp trong một lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành cụ thể.

10. Quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định tư pháp là các quy định pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật, các loại quy trình, định mức khác do cơ quan có thẩm quyền ban hành trong từng lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành cụ thể phục vụ hoạt động giám định tư pháp.

Điều 4. Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp

1. Tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ, quy trình giám định, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định.

2. Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời.

3. Độc lập trong quá trình thực hiện giám định, đưa ra kết luận giám định.

4. Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được trưng cầu, yêu cầu giám định.

5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.

Điều 5. Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp

1. Nhà nước đầu tư, phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp công lập trong các lĩnh vực có nhu cầu giám định lớn, thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng; có chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi gắn với kiểm soát chặt chẽ về chất lượng giám định đối với tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc hoặc đơn vị, tổ chức, cá nhân khác khi tham gia hoạt động giám định tư pháp.

2. Nhà nước có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với người giám định tư pháp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; xây dựng cơ sở dữ liệu về giám định tư pháp.

Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư pháp

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện giám định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 7. Trách nhiệm quản lý nhà nước trong hoạt động giám định tư pháp

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp trong phạm vi toàn quốc.

2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối, giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp.

4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện nội dung quản lý đối với tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc tổ chức mình; tổng kết về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý và gửi báo cáo về Bộ Tư pháp để tổng hợp báo cáo Chính phủ hằng năm.

5. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm quản lý nhà nước về giám định tư pháp tại địa phương theo quy định.

Điều 8. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động giám định tư pháp

1. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương:

a) Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định cụ thể về trưng cầu, yêu cầu giám định và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án hình sự;

b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao ban hành chỉ tiêu thống kê và tổ chức thực hiện việc thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự gắn với thống kê tội phạm.

Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chỉ tiêu thống kê và tổ chức thực hiện việc thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.

Cơ sở dữ liệu về trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng được kết nối, chia sẻ;

c) Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo Quốc hội về tình hình trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp, đánh giá việc thực hiện giám định tư pháp, sử dụng kết luận giám định tư pháp, dự báo nhu cầu giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý trong báo cáo công tác hằng năm; gửi phần nội dung về giám định tư pháp cho Bộ Tư pháp, Bộ, ngành có liên quan;

d) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định việc bố trí vị trí của người giám định tư pháp khi tham gia tố tụng tại phiên tòa;

đ) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương:

a) Thực hiện thống kê về trưng cầu, yêu cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền quản lý ở địa phương theo quy định của cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương;

b) Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về tình hình trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp, đánh giá việc thực hiện giám định tư pháp, sử dụng kết luận giám định tư pháp, dự báo nhu cầu giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý trong báo cáo hằng năm; gửi phần nội dung về giám định tư pháp cho Sở Tư pháp, sở, ngành có liên quan;

c) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Từ chối tiếp nhận, thực hiện giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng; cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp, thời gian ban hành kết luận giám định tư pháp.

2. Từ chối kết luận giám định tư pháp mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

3. Tiết lộ thông tin trong quá trình thực hiện giám định tư pháp gây ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng.

4. Lợi dụng danh nghĩa người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để trục lợi.

5. Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác từ đơn vị, tổ chức, cá nhân để làm sai lệch việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp hoặc để làm sai lệch kết quả, kết luận giám định tư pháp.

6. Cố ý đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.

7. Lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng.

8. Lạm dụng việc trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự để thay thế công tác điều tra, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng.

9. Can thiệp, cản trở việc thực hiện giám định của người giám định tư pháp.

10. Xúi giục, đe dọa, ép buộc người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.

Chương II

NGƯỜI GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Mục 1. GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP

Điều 10. Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp

1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể được xem xét, bổ nhiệm giám định viên tư pháp:

a) Có phẩm chất đạo đức tốt;

b) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.

Trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian thực tế hoạt động chuyên môn từ đủ 03 năm trở lên;

c) Đã qua khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ giám định tư pháp.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 1 Điều này đối với giám định viên tư pháp ở lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý.

Điều 11. Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương; cá nhân đăng ký thường trú tại địa phương, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Những trường hợp không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp:

a) Người không đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này;

b) Người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; người đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

d) Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;

đ) Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm; công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân hoặc buộc thôi việc; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc buộc thôi việc.

Quy định tại điểm này được áp dụng trong thời hạn 03 năm kể từ thời điểm quyết định kỷ luật có hiệu lực;

e) Người đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

4. Giám định viên tư pháp bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

a) Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 9 của Luật này;

c) Có quyết định nghỉ hưu hoặc quyết định thôi việc có hiệu lực, trừ trường hợp giám định viên tư pháp có nguyện vọng tiếp tục làm giám định tư pháp tại cơ quan, đơn vị, tổ chức nơi giám định viên tư pháp đã làm việc và được sự đồng ý của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó theo quy định của pháp luật;

d) Chuyển đổi vị trí công tác hoặc chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị, tổ chức khác mà không còn làm việc ở lĩnh vực chuyên môn đã được bổ nhiệm;

đ) Không thành lập, tham gia thành lập hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại văn phòng giám định tư pháp hoặc không làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được bổ nhiệm giám định viên tư pháp.

5. Giám định viên tư pháp được miễn nhiệm theo nguyện vọng cá nhân. Trường hợp giám định viên tư pháp đang làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thì phải được sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó.

6. Người bị miễn nhiệm giám định viên tư pháp được xem xét, bổ nhiệm lại trong các trường hợp sau đây:

a) Người bị miễn nhiệm giám định viên tư pháp do không đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này được xem xét bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp khi lý do miễn nhiệm không còn và không thuộc trường hợp không được bổ nhiệm quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều này;

b) Người bị miễn nhiệm giám định viên tư pháp do bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này được xem xét bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp khi lý do miễn nhiệm không còn và không thuộc trường hợp không được bổ nhiệm quy định tại các điểm a, c, d, đ và e khoản 3 Điều này;

c) Người bị miễn nhiệm giám định viên tư pháp quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 3, điểm b khoản 4 Điều này được xem xét bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp khi đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này, đã hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định miễn nhiệm giám định viên tư pháp có hiệu lực và lý do miễn nhiệm không còn;

d) Người bị miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 4 Điều này được xem xét bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp khi không thuộc trường hợp không được bổ nhiệm quy định tại khoản 3 Điều này;

đ) Người bị miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều này được xem xét bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp sau 12 tháng kể từ ngày bị miễn nhiệm khi không thuộc trường hợp không được bổ nhiệm quy định tại khoản 3 Điều này;

e) Người được miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo quy định tại khoản 5 Điều này được xem xét bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này và không thuộc trường hợp không được bổ nhiệm quy định tại khoản 3 Điều này.

7. Người được bổ nhiệm giám định viên tư pháp được cấp thẻ giám định viên tư pháp. Người có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp.

8. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cấp, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp.

Điều 12. Quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp

1. Giám định viên tư pháp có các quyền sau đây:

a) Thành lập, tham gia thành lập, làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại văn phòng giám định tư pháp hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật;

b) Thành lập, tự nguyện tham gia hội giám định viên tư pháp theo quy định của pháp luật về hội;

c) Hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Các quyền quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này và quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

2. Giám định viên tư pháp có các nghĩa vụ sau đây:

a) Tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục giám định tư pháp quy định tại Luật này;

b) Tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ giám định tư pháp hằng năm;

c) Thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu của người trưng cầu, người yêu cầu giám định hoặc theo phân công của cơ quan, đơn vị, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 38 của Luật này và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Mục 2. NGƯỜI GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC

Điều 13. Tiêu chuẩn người giám định tư pháp theo vụ việc

1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể được công nhận là người giám định tư pháp theo vụ việc:

a) Có phẩm chất đạo đức tốt;

b) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.

2. Trường hợp người không đáp ứng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này nhưng có kiến thức chuyên sâu, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng chuyên môn ở lĩnh vực, chuyên ngành cần giám định thì cơ quan, tổ chức xem xét quyết định lựa chọn, công nhận người đó là người giám định tư pháp theo vụ việc.

Điều 14. Công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương, cá nhân đăng ký thường trú tại địa phương, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành quyết định công nhận danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc. Danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc là căn cứ để người trưng cầu, người yêu cầu giám định tư pháp lựa chọn, quyết định việc trưng cầu, yêu cầu giám định.

4. Trong trường hợp đặc biệt, người trưng cầu giám định tư pháp có thể trưng cầu người không thuộc danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc đã được công bố nhưng có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 13 của Luật này để thực hiện giám định. Người trưng cầu giám định tư pháp nêu rõ lý do trong quyết định trưng cầu và chịu trách nhiệm về việc trưng cầu.

5. Những trường hợp không được công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc:

a) Người không đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 13 của Luật này;

b) Người thuộc trường hợp quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 11 của Luật này.

6. Người giám định tư pháp theo vụ việc bị hủy bỏ công nhận trong các trường hợp sau đây:

a) Không còn đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 13 của Luật này;

b) Thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 11 của Luật này;

c) Bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 9 của Luật này;

d) Có quyết định nghỉ hưu hoặc quyết định thôi việc có hiệu lực;

đ) Chuyển đổi vị trí công tác hoặc chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị, tổ chức khác mà không còn làm việc ở lĩnh vực chuyên môn đã được công nhận.

7. Người giám định tư pháp theo vụ việc được hủy bỏ công nhận theo nguyện vọng cá nhân. Trường hợp người giám định tư pháp theo vụ việc đang làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thì phải được sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó.

8. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc.

Điều 15. Quyền và nghĩa vụ của người giám định tư pháp theo vụ việc

1. Người giám định tư pháp theo vụ việc có các quyền sau đây:

a) Tham gia hội giám định viên theo điều lệ của hội giám định viên và quy định của pháp luật về hội;

b) Hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

c) Các quyền quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này và quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

2. Người giám định tư pháp theo vụ việc có các nghĩa vụ sau đây:

a) Tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục giám định, quy trình giám định tư pháp, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ quy định tại Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

b) Tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ giám định tư pháp;

c) Thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu của người trưng cầu, người yêu cầu giám định hoặc theo phân công của cơ quan, đơn vị, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 38 của Luật này và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Chương III

TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Mục 1. TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CÔNG LẬP

Điều 16. Tổ chức giám định tư pháp công lập

1. Tổ chức giám định tư pháp công lập được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Tổ chức giám định tư pháp công lập có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xem xét, quyết định thành lập hoặc trình cơ quan có thẩm quyền thành lập tổ chức giám định tư pháp công lập trong các lĩnh vực khác.

2. Tổ chức giám định tư pháp công lập thực hiện giám định tư pháp theo quy định của Luật này. Tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp công lập còn được thực hiện dịch vụ giám định ngoài tố tụng tư pháp trong lĩnh vực, chuyên ngành theo quy định của Luật này.

3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.

Điều 17. Hệ thống, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức giám định tư pháp công lập

1. Tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực pháp y bao gồm:

a) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Y tế;

b) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Quốc phòng;

c) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Công an;

d) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố.

2. Tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực pháp y tâm thần thuộc Bộ Y tế.

3. Tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự bao gồm:

a) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Công an;

b) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Quốc phòng;

c) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Công an tỉnh, thành phố.

4. Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định tại điểm c khoản 3 Điều này thực hiện giám định chuyên ngành âm thanh, kỹ thuật số và điện tử.

Tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Công an tỉnh, thành phố quy định tại điểm d khoản 3 Điều này thực hiện giám định chuyên ngành pháp y tử thi và giám định chuyên ngành pháp y thương tích.

5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1, khoản 2, các điểm a, b và d khoản 3 và khoản 4 Điều này.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Mục 2. TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC

Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.

2. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định theo quy định của Luật này. Người đứng đầu tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận và phân công người thực hiện giám định tư pháp.

3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.

Điều 19. Công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đối với cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành quyết định công nhận danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc. Danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc là căn cứ để người trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp lựa chọn, quyết định việc trưng cầu, yêu cầu giám định.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ thực hiện giám định theo trưng cầu sau khi người trưng cầu giám định đã trưng cầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đã được công bố trong danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc nhưng tổ chức này thuộc trường hợp từ chối hoặc không được thực hiện giám định quy định tại Điều 38 của Luật này. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố được trưng cầu giám định trong trường hợp này thì được coi là tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

Trong trường hợp đặc biệt, người trưng cầu giám định tư pháp có thể trưng cầu tổ chức không thuộc danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đã được công bố nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này để thực hiện giám định. Người trưng cầu giám định nêu rõ lý do trong quyết định trưng cầu và chịu trách nhiệm về việc trưng cầu.

4. Các trường hợp hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc:

a) Không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;

b) Bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 9 của Luật này.

5. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

Mục 3. VĂN PHÒNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Điều 20. Văn phòng giám định tư pháp

1. Văn phòng giám định tư pháp được tổ chức và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Văn phòng giám định tư pháp được thành lập và đăng ký hoạt động trong các lĩnh vực, chuyên ngành sau đây:

a) Lĩnh vực kỹ thuật hình sự gồm các chuyên ngành tài liệu, kỹ thuật số và điện tử, dấu vết đường vân, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Lĩnh vực pháp y gồm chuyên ngành ADN, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Lĩnh vực văn hóa gồm các chuyên ngành cổ vật, di vật, bản quyền tác giả;

d) Lĩnh vực tài chính;

đ) Lĩnh vực ngân hàng;

e) Lĩnh vực xây dựng;

g) Lĩnh vực tài nguyên.

3. Văn phòng giám định tư pháp không được thực hiện giám định tư pháp đối với các chuyên ngành ADN, tài liệu, kỹ thuật số và điện tử, dấu vết đường vân trong tố tụng hình sự, trừ trường hợp được người trưng cầu giám định tư pháp trưng cầu trong trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

4. Trưởng văn phòng giám định tư pháp là người đại diện theo pháp luật của văn phòng giám định tư pháp, thực hiện quản lý và điều hành hoạt động của văn phòng giám định tư pháp. Trưởng văn phòng giám định tư pháp phải là giám định viên tư pháp.

5. Tên của văn phòng giám định tư pháp bao gồm cụm từ “Văn phòng giám định tư pháp” và tên riêng bằng tiếng Việt.

6. Văn phòng giám định tư pháp được thành lập và đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Trưởng văn phòng giám định tư pháp là giám định viên tư pháp có thời gian công tác giám định từ đủ 03 năm trở lên;

b) Có Đề án thành lập văn phòng giám định tư pháp.

Văn phòng giám định tư pháp được hoạt động kể từ ngày được Sở Tư pháp tỉnh, thành phố phê duyệt Đề án thành lập và cấp giấy đăng ký hoạt động.

7. Văn phòng giám định tư pháp chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau đây:

a) Văn phòng giám định tư pháp đề nghị chấm dứt hoạt động;

b) Văn phòng giám định tư pháp bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động;

c) Văn phòng giám định tư pháp bị hợp nhất, bị sáp nhập.

8. Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân không được thành lập văn phòng giám định tư pháp.

9. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục thành lập và đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung thành lập, đăng ký hoạt động, cấp lại giấy đăng ký hoạt động, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động, hợp nhất, sáp nhập văn phòng giám định tư pháp.

Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của văn phòng giám định tư pháp

1. Văn phòng giám định tư pháp có các quyền sau đây:

a) Thực hiện giám định tư pháp theo quy định của Luật này và dịch vụ giám định ngoài tố tụng tư pháp theo quy định của pháp luật;

b) Cử giám định viên tư pháp thực hiện việc giám định tư pháp;

c) Ký hợp đồng lao động với giám định viên tư pháp và người lao động khác làm việc cho tổ chức theo quy định của pháp luật;

d) Thu, thanh toán, quyết toán chi phí giám định tư pháp và các chi phí khác theo quy định của pháp luật;

đ) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Văn phòng giám định tư pháp có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện giám định tư pháp theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục giám định tư pháp quy định tại Luật này;

b) Tuân thủ quy trình giám định tư pháp, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ và chịu trách nhiệm về kết luận giám định;

c) Bồi thường thiệt hại khi thực hiện giám định tư pháp theo quy định của pháp luật;

d) Báo cáo Sở Tư pháp nơi văn phòng giám định tư pháp có trụ sở về tổ chức, hoạt động hằng năm hoặc trong trường hợp đột xuất theo yêu cầu;

đ) Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc kiểm tra, thanh tra theo quy định của pháp luật;

e) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Chương IV

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Điều 22. Quyền, nghĩa vụ của người trưng cầu giám định tư pháp

1. Người trưng cầu giám định tư pháp có các quyền sau đây:

a) Trưng cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để thực hiện giám định;

b) Yêu cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng nội dung và thời hạn đã yêu cầu;

c) Yêu cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp đã thực hiện giám định giải thích kết luận giám định;

d) Đề nghị Tòa án triệu tập người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giải thích, trình bày kết luận giám định;

đ) Quyết định giám định bổ sung, giám định lại, thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định tư pháp;

e) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Người trưng cầu giám định tư pháp có các nghĩa vụ sau đây:

a) Ra quyết định trưng cầu giám định bằng văn bản;

b) Xác định rõ nội dung, lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định trong quyết định trưng cầu đối với vụ việc, vụ án đang giải quyết; nội dung trưng cầu phải cụ thể, rõ ràng, phù hợp với đối tượng giám định;

c) Lựa chọn người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có năng lực, đủ điều kiện thực hiện giám định phù hợp với tính chất, nội dung cần giám định để ra quyết định trưng cầu giám định;

d) Cung cấp đầy đủ hồ sơ trưng cầu giám định ngay khi ban hành quyết định trưng cầu giám định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ trưng cầu giám định do mình cung cấp;

đ) Thực hiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ người giám định tư pháp hoặc người thân thích của người giám định tư pháp khi bị đe dọa tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản do tham gia vụ việc, vụ án;

e) Thông báo ngay bằng văn bản cho người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp biết việc đình chỉ giải quyết vụ việc, vụ án để dừng việc thực hiện giám định;

g) Thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định tư pháp khi trưng cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp không do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động;

h) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 23. Quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giám định tư pháp

1. Người yêu cầu giám định tư pháp có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp thực hiện giám định sau khi đã đề nghị người trưng cầu giám định tư pháp trưng cầu giám định mà không được chấp nhận;

b) Yêu cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng thời hạn quy định tại Luật này;

c) Yêu cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp giải thích kết luận giám định;

d) Đề nghị Tòa án triệu tập người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giải thích, trình bày kết luận giám định;

đ) Yêu cầu người trưng cầu giám định tư pháp trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại theo quy định tại Điều 32 của Luật này;

e) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Người yêu cầu giám định tư pháp có các nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp đầy đủ hồ sơ yêu cầu giám định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ yêu cầu giám định do mình cung cấp;

b) Nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp khi yêu cầu giám định; thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp khi nhận kết luận giám định;

c) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 24. Quyền, nghĩa vụ của người giám định tư pháp trong hoạt động giám định tư pháp

1. Người giám định tư pháp có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu người trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp cung cấp đầy đủ hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định;

b) Lựa chọn phương pháp cần thiết, phù hợp để tiến hành giám định theo nội dung, lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định;

c) Sử dụng kết quả thực nghiệm, xét nghiệm, kết luận chuyên môn hoặc kết luận giám định do tổ chức, cá nhân khác đã thực hiện phục vụ cho việc giám định;

d) Độc lập đưa ra kết luận giám định;

đ) Đề nghị người trưng cầu giám định tư pháp hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ bản thân, người thân thích của mình khi bị đe dọa tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản do tham gia vụ việc, vụ án;

e) Từ chối thực hiện giám định tư pháp trong trường hợp quy định tại Điều 38 của Luật này;

g) Được bố trí vị trí phù hợp khi tham gia tố tụng tại phiên tòa;

h) Được hưởng thù lao, chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp, chi phí tham gia phiên tòa và chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp luật;

i) Được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo quy định của pháp luật có liên quan và của cấp có thẩm quyền khi đã thực hiện giám định đúng quy định về trình tự, thủ tục, quy trình giám định tư pháp, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định, vô tư, khách quan, không vụ lợi; trường hợp kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự;

k) Được sử dụng người giúp việc trong quá trình thực hiện giám định tư pháp;

l) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Người giám định tư pháp có các nghĩa vụ sau đây:

a) Tuân thủ quy trình giám định tư pháp, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định khi thực hiện giám định tư pháp;

b) Thực hiện giám định theo đúng nội dung, lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định;

c) Thực hiện và trả kết luận giám định đúng thời hạn yêu cầu;

d) Lập hồ sơ giám định;

đ) Bảo quản đối tượng giám định, tài liệu, mẫu vật có liên quan đã nhận và gửi trả lại cơ quan có thẩm quyền theo quy định;

e) Không được thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ trường hợp được người trưng cầu, yêu cầu giám định đồng ý bằng văn bản;

g) Chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định do mình đưa ra;

h) Bồi thường thiệt hại khi thực hiện giám định tư pháp theo quy định của pháp luật;

i) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 25. Quyền, nghĩa vụ của tổ chức giám định tư pháp trong hoạt động giám định tư pháp

1. Tổ chức giám định tư pháp được trưng cầu, yêu cầu giám định có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu người trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp cung cấp đầy đủ hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định;

b) Phân công người giám định tư pháp thực hiện giám định;

c) Từ chối thực hiện giám định tư pháp trong trường hợp quy định tại Điều 38 của Luật này;

d) Được nhận tạm ứng, thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định theo quy định của pháp luật;

đ) Đề nghị người trưng cầu giám định tư pháp hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích, uy tín, tài sản của tổ chức mình do tham gia vụ việc, vụ án;

e) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức giám định tư pháp được trưng cầu, yêu cầu giám định có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chỉ đạo, đôn đốc việc tổ chức thực hiện giám định theo đúng thời hạn, nội dung, lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định;

b) Bảo đảm thời gian, trang thiết bị, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện giám định;

c) Thông báo ngay bằng văn bản cho người trưng cầu, yêu cầu giám định trong trường hợp có nội dung mới hoặc vấn đề khác phát sinh trong quá trình thực hiện giám định;

d) Bảo quản đối tượng giám định, tài liệu, mẫu vật có liên quan đã nhận và gửi trả lại cơ quan có thẩm quyền theo quy định;

đ) Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người thực hiện giám định của tổ chức mình cố ý làm sai lệch kết luận giám định, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân;

e) Chịu trách nhiệm về kết luận giám định do mình đưa ra;

g) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 26. Trưng cầu giám định tư pháp

1. Người trưng cầu giám định tư pháp thực hiện trưng cầu giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp chứng cứ, tài liệu được thu thập chưa làm rõ được vấn đề phải chứng minh mà cần có kết luận về chuyên môn để xem xét, đánh giá củng cố chứng cứ hoặc quyết định việc tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo.

Trường hợp chứng cứ, tài liệu được thu thập đã làm rõ những vấn đề phải chứng minh nhưng người trưng cầu giám định tư pháp cần thêm thông tin chuyên môn để xem xét, đánh giá thì trao đổi trực tiếp, tổ chức họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản của tổ chức, cá nhân có liên quan mà không trưng cầu giám định.

2. Người trưng cầu giám định tư pháp quyết định trưng cầu bằng văn bản và gửi hồ sơ trưng cầu giám định đến người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp. Trường hợp hồ sơ trưng cầu giám định không thể gửi kèm theo quyết định trưng cầu thì người trưng cầu giám định tư pháp có trách nhiệm làm thủ tục bàn giao cho người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp.

Người trưng cầu giám định tư pháp chỉ trưng cầu những nội dung, vấn đề chuyên môn; không yêu cầu người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định đối với các nội dung thuộc trách nhiệm của người trưng cầu giám định tư pháp.

3. Quyết định trưng cầu giám định tư pháp có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định;

b) Tên, địa chỉ tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định;

c) Tên và đặc điểm của đối tượng giám định;

d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

đ) Nội dung yêu cầu giám định;

e) Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.

4. Trường hợp trưng cầu giám định bổ sung hoặc trưng cầu giám định lại thì quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ là trưng cầu giám định bổ sung hoặc trưng cầu giám định lại và nêu rõ lý do.

5. Trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định trưng cầu giám định, người trưng cầu giám định tư pháp trao đổi với người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp dự kiến được trưng cầu giám định và cơ quan có liên quan về nội dung trưng cầu, thời hạn giám định, hồ sơ trưng cầu giám định và các vấn đề khác (nếu có).

6. Trường hợp nội dung cần giám định bao gồm nhiều lĩnh vực chuyên môn, thuộc phạm vi giám định của nhiều tổ chức giám định tư pháp thì người trưng cầu giám định phải tách riêng từng nội dung để trưng cầu tổ chức giám định tư pháp có chuyên môn phù hợp.

Trường hợp nội dung cần giám định bao gồm nhiều lĩnh vực chuyên môn, thuộc phạm vi giám định của nhiều tổ chức giám định tư pháp nhưng có quan hệ mật thiết với nhau mà việc tách riêng từng nội dung gây khó khăn cho việc thực hiện giám định, ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả giám định hoặc làm kéo dài thời gian giám định thì người trưng cầu giám định tư pháp phải xác định nội dung chính cần giám định để quyết định trưng cầu tổ chức giám định tư pháp chủ trì, tổ chức giám định tư pháp phối hợp. Quyết định trưng cầu được gửi cho tổ chức giám định tư pháp chủ trì và tổ chức giám định tư pháp phối hợp. Tổ chức giám định tư pháp chủ trì có trách nhiệm làm đầu mối tổ chức triển khai việc giám định chung, thực hiện giám định phần nội dung chuyên môn của mình và ban hành kết luận giám định.

7. Trường hợp phát sinh vướng mắc trong việc trưng cầu, phối hợp thực hiện giám định, người trưng cầu giám định tư pháp chủ trì, phối hợp với người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp được trưng cầu để giải quyết.

Điều 27. Yêu cầu giám định tư pháp trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, vụ án hình sự

1. Người yêu cầu giám định phải gửi văn bản yêu cầu giám định đến người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp kèm theo hồ sơ yêu cầu giám định và bản sao giấy tờ chứng minh mình là người yêu cầu giám định tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật này.

2. Trong trường hợp hồ sơ yêu cầu giám định đang do cơ quan có thẩm quyền giữ thì người yêu cầu giám định có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bàn giao cho người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để thực hiện giám định.

3. Văn bản yêu cầu giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ tổ chức hoặc họ tên người yêu cầu giám định;

b) Nội dung yêu cầu giám định;

c) Tên và đặc điểm của đối tượng giám định;

d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

đ) Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định;

e) Chữ ký, họ tên người yêu cầu giám định.

Điều 28. Tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp

1. Tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp ở địa phương, tổ chức giám định tư pháp thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trụ sở tại địa phương có trách nhiệm tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định do người trưng cầu giám định tư pháp ở địa phương hoặc ở trung ương trưng cầu.

2. Tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp ở trung ương có trách nhiệm tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định trong các trường hợp sau đây:

a) Người trưng cầu giám định tư pháp ở trung ương trưng cầu;

b) Người trưng cầu giám định tư pháp ở địa phương trưng cầu trong trường hợp vụ việc liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố, tính chất phức tạp, vượt quá khả năng của tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp ở địa phương;

c) Giám định lại vụ việc mà tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp ở địa phương đã thực hiện;

d) Tổ chức giám định tư pháp ở trung ương có văn bản thông báo đồng ý tiếp nhận và thực hiện giám định do người trưng cầu giám định tư pháp ở địa phương trưng cầu.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người trưng cầu, người yêu cầu giám định về việc tiếp nhận hoặc từ chối thực hiện giám định; trường hợp từ chối thì phải nêu rõ lý do.

Trường hợp tiếp nhận thì người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp phải phân công người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định để thực hiện giám định; trường hợp có từ 02 người trở lên thực hiện thì phân công người chủ trì, điều phối việc thực hiện giám định.

4. Trong trường hợp trưng cầu tổ chức giám định tư pháp chủ trì và tổ chức giám định tư pháp phối hợp quy định tại khoản 6 Điều 26 của Luật này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu giám định, tổ chức giám định tư pháp phối hợp phải có văn bản cử người giám định gửi cho tổ chức giám định tư pháp chủ trì và người trưng cầu giám định tư pháp; trường hợp từ chối thì thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản cử người của tổ chức giám định tư pháp phối hợp, tổ chức giám định tư pháp chủ trì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người trưng cầu, người yêu cầu giám định về việc tiếp nhận hoặc từ chối thực hiện giám định; trường hợp từ chối thì phải nêu rõ lý do.

Việc thực hiện giám định tư pháp trong trường hợp này được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật này.

5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định thuộc thẩm quyền quản lý và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định.

Cơ quan thuộc Chính phủ đề nghị Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định ban hành danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định thuộc thẩm quyền quản lý và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định.

Điều 29. Giao nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp

1. Hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định được giao, nhận trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính, bao gồm:

a) Quyết định trưng cầu hoặc văn bản yêu cầu giám định;

b) Thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có);

c) Đối tượng giám định (nếu có).

2. Việc giao, nhận trực tiếp hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định phải được lập thành biên bản. Biên bản giao, nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định phải có nội dung sau đây:

a) Thời gian, địa điểm giao, nhận;

b) Họ tên người đại diện của bên giao, bên nhận;

c) Hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này;

d) Cách thức bảo quản đối tượng giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan khi giao, nhận;

đ) Tình trạng đối tượng giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan khi giao, nhận;

e) Chữ ký của người đại diện bên giao, bên nhận.

3. Việc gửi hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định qua đường bưu chính phải được thực hiện theo hình thức gửi dịch vụ có số hiệu. Tổ chức, cá nhân nhận hồ sơ được gửi theo dịch vụ có số hiệu có trách nhiệm bảo quản, khi mở niêm phong phải lập biên bản theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Việc gửi hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về việc gửi, nhận văn bản trên môi trường điện tử, dữ liệu điện tử.

4. Đối với việc giao, nhận đối tượng giám định pháp y, pháp y tâm thần là con người thì người trưng cầu, yêu cầu giám định có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với tổ chức, cá nhân được trưng cầu giám định bố trí lực lượng chuyên trách quản lý đối tượng giám định trong quá trình thực hiện giám định theo quy định của Chính phủ.

Điều 30. Thời hạn giám định tư pháp

1. Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này tối đa là 02 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 03 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn thì thời hạn giám định tối đa là 04 tháng.

Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp căn cứ tính chất chuyên môn của lĩnh vực giám định, thời hạn giám định tối đa nêu tại khoản này để quy định thời hạn giám định tư pháp cho từng loại việc cụ thể.

3. Thời điểm tính thời hạn giám định tư pháp là ngày người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp nhận được đầy đủ hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Trong quá trình thực hiện giám định, trường hợp cần phải bổ sung thêm thông tin, tài liệu, mẫu vật có liên quan làm cơ sở cho việc giám định thì người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có văn bản đề nghị người trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp bổ sung trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện hoặc xác định được nội dung cần bổ sung. Người trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp có trách nhiệm bổ sung thông tin, tài liệu, mẫu vật có liên quan trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị. Thời gian từ khi người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có văn bản đề nghị đến khi nhận được thông tin, tài liệu, mẫu vật có liên quan bổ sung thì không tính vào thời hạn giám định.

5. Trường hợp không thể hoàn thành đúng thời hạn giám định, chậm nhất là 24 giờ trước thời hạn trả kết luận giám định, người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có văn bản đề nghị người trưng cầu giám định gia hạn. Người trưng cầu giám định quyết định việc gia hạn nhưng không quá một phần hai thời hạn giám định tối đa đối với loại việc đó.

Điều 31. Việc giám định do cá nhân, tổ chức giám định tư pháp thực hiện

1. Giám định do cá nhân thực hiện là việc giám định do 01 người thực hiện. Người giám định tư pháp ký vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định đó.

2. Giám định do tổ chức giám định tư pháp thực hiện là việc giám định theo sự phân công của tổ chức giám định tư pháp. Tổ chức giám định ban hành kết luận giám định có chữ ký của người đại diện hợp pháp của tổ chức đó và người giám định.

Trường hợp có ý kiến, kết luận chuyên môn khác nhau giữa những người thực hiện giám định thì người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp có trách nhiệm tổ chức họp chuyên môn với những người thực hiện giám định để thống nhất ý kiến và ban hành kết luận giám định; nếu người thực hiện giám định vẫn có ý kiến khác thì được bảo lưu ý kiến trong bản kết luận giám định.

3. Trường hợp giám định do tổ chức giám định tư pháp thực hiện mà có nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau thì mỗi người giám định thực hiện phần việc giám định thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình và chịu trách nhiệm cá nhân về phần kết luận giám định đó.

Điều 32. Giám định bổ sung, giám định lại

1. Việc giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc, vụ án đã được kết luận giám định trước đó. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.

2. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác hoặc trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 33 của Luật này. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định lại được thực hiện như giám định lần đầu.

3. Người trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người yêu cầu giám định quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 33. Hội đồng giám định tư pháp

1. Các trường hợp do Hội đồng giám định tư pháp thực hiện bao gồm:

a) Có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung cần giám định mà người trưng cầu giám định quyết định tiếp tục giám định lại lần thứ hai, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Việc giám định do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thực hiện giám định tư pháp lần đầu mà tiếp tục giám định lại;

c) Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng giám định tư pháp khi nhận được trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Hội đồng giám định tư pháp gồm ít nhất 03 thành viên là những người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Hội đồng giám định hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số; trường hợp người thực hiện giám định có ý kiến khác thì được bảo lưu ý kiến trong bản kết luận giám định.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 34. Văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp

1. Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp phải ghi nhận kịp thời, đầy đủ, trung thực bằng văn bản hoặc dữ liệu điện tử toàn bộ quá trình thực hiện vụ việc giám định.

2. Văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp phải nêu rõ tình trạng của đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, mẫu vật có liên quan, thời gian, địa điểm, nội dung công việc, tiến độ, phương pháp thực hiện giám định, kết quả thực hiện, có chữ ký của người thực hiện giám định tư pháp và được lưu trong hồ sơ giám định.

Điều 35. Kết luận giám định tư pháp

1. Kết luận giám định tư pháp phải bằng văn bản, bao gồm các nội dung sau đây:

a) Họ tên người giám định tư pháp; tên, địa chỉ tổ chức thực hiện giám định tư pháp;

b) Tên người trưng cầu giám định tư pháp; số văn bản trưng cầu giám định tư pháp hoặc họ tên người yêu cầu giám định tư pháp;

c) Thông tin xác định đối tượng giám định;

d) Thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

đ) Nội dung yêu cầu giám định;

e) Phương pháp thực hiện giám định;

g) Kết luận rõ ràng, cụ thể về nội dung chuyên môn của đối tượng giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

h) Thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định.

2. Trong trường hợp trưng cầu, yêu cầu cá nhân thực hiện giám định thì bản kết luận giám định tư pháp phải có chữ ký và ghi rõ họ tên của người giám định. Việc sử dụng chữ ký số trong kết luận giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Trường hợp trưng cầu, yêu cầu tổ chức thực hiện giám định thì ngoài chữ ký, họ tên của người giám định, người đại diện hợp pháp của tổ chức giám định còn phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định tư pháp và tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp phải chịu trách nhiệm về kết luận giám định.

Trường hợp Hội đồng giám định tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện giám định thì ngoài chữ ký, họ tên của người giám định, người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của Hội đồng giám định.

Trường hợp trưng cầu tổ chức giám định tư pháp chủ trì và tổ chức giám định tư pháp phối hợp quy định tại khoản 6 Điều 26 của Luật này, bản kết luận giám định phải có chữ ký của người giám định tư pháp, chữ ký và đóng dấu của người đứng đầu các tổ chức này.

3. Trường hợp việc giám định được thực hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự theo đúng trình tự, thủ tục do Luật này quy định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể sử dụng kết luận giám định đó như kết luận giám định tư pháp.

4. Trường hợp các kết luận giám định tư pháp khác nhau về cùng một nội dung mà các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn không thống nhất được về việc sử dụng kết luận giám định làm căn cứ để giải quyết vụ việc, vụ án thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định việc sử dụng kết luận giám định trên cơ sở các tiêu chí sau đây:

a) Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định;

b) Phương pháp, quy trình thực hiện giám định;

c) Trang thiết bị, phương tiện chuyên dụng sử dụng thực hiện giám định;

d) Sự độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định.

5. Sau khi ban hành kết luận giám định tư pháp, người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có trách nhiệm giao lại đối tượng giám định sau giám định cho người trưng cầu, yêu cầu giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người trưng cầu, yêu cầu giám định có trách nhiệm nhận lại đối tượng giám định sau giám định theo quy định của pháp luật. Việc giao, nhận lại đối tượng giám định sau giám định phải được lập thành biên bản; nội dung của biên bản thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.

Điều 36. Đình chỉ việc thực hiện giám định

1. Trường hợp không cần đến kết luận giám định tư pháp cho việc giải quyết vụ việc, vụ án thì người trưng cầu, yêu cầu giám định có trách nhiệm thông báo ngay bằng văn bản cho người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp về việc đình chỉ việc thực hiện giám định và nêu rõ lý do.

2. Ngay sau khi nhận được văn bản thông báo của người trưng cầu, yêu cầu giám định, người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp chấm dứt việc thực hiện giám định và ghi nhận nội dung này trong văn bản hoặc dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định.

3. Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp được chi trả chi phí giám định tư pháp, chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp và chi phí cần thiết khác có liên quan đối với các công việc đã thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 37. Hồ sơ giám định tư pháp

1. Hồ sơ giám định tư pháp do người thực hiện giám định tư pháp lập bao gồm:

a) Hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định;

b) Biên bản giao, nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Văn bản hoặc phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định;

d) Bản ảnh giám định (nếu có);

đ) Kết luận giám định trước đó hoặc kết quả xét nghiệm, thực nghiệm giám định do người khác thực hiện (nếu có);

e) Tài liệu khác có liên quan đến việc giám định (nếu có);

g) Kết luận giám định tư pháp.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm quy định chi tiết thành phần hồ sơ từng loại việc giám định và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.

3. Tổ chức giám định tư pháp thực hiện giám định chịu trách nhiệm bảo quản, lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp do người giám định thuộc tổ chức mình thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Người thực hiện giám định có trách nhiệm bàn giao hồ sơ giám định tư pháp cho cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý trực tiếp theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

4. Hồ sơ giám định tư pháp được xuất trình khi có yêu cầu của người trưng cầu giám định tư pháp.

Điều 38. Các trường hợp từ chối thực hiện giám định tư pháp, không được thực hiện giám định tư pháp

1. Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp được từ chối thực hiện giám định trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định không phù hợp với phạm vi chuyên môn của người, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định;

b) Không đủ khả năng chuyên môn nghiệp vụ, điều kiện về phương tiện, trang thiết bị cần thiết cho việc thực hiện giám định;

c) Đối tượng giám định, tài liệu liên quan được cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định sau khi đã đề nghị người trưng cầu, người yêu cầu giám định bổ sung, làm rõ nhưng không được đáp ứng;

d) Thời gian không đủ để thực hiện giám định;

đ) Tính độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định không được bảo đảm;

e) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân không được thực hiện giám định tư pháp trong các trường hợp sau đây:

a) Pháp luật về tố tụng quy định không được giám định;

b) Được trưng cầu giám định lại về cùng một nội dung trong vụ việc, vụ án mà mình đã thực hiện giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

c) Có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc, vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng;

d) Có căn cứ rõ ràng cho rằng tổ chức, cá nhân không khách quan, vô tư trong khi thực hiện giám định;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 39. Tương trợ tư pháp về giám định tư pháp

1. Việc yêu cầu tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện giám định tư pháp chỉ được thực hiện nếu đối tượng giám định đang ở nước ngoài hoặc khả năng chuyên môn, điều kiện về trang thiết bị, phương tiện giám định của tổ chức, cá nhân giám định tư pháp trong nước không đáp ứng được yêu cầu giám định.

2. Tổ chức, cá nhân giám định tư pháp có trách nhiệm tiếp nhận và thực hiện giám định tư pháp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước ngoài theo quy định của pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự, tương trợ tư pháp về dân sự.

3. Trình tự, thủ tục, chi phí thực hiện tương trợ tư pháp về giám định tư pháp giữa Việt Nam và nước ngoài theo quy định của pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự, tương trợ tư pháp về dân sự.

Chương V

CHI PHÍ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP, CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Điều 40. Chi phí giám định tư pháp

1. Chi phí giám định tư pháp bao gồm một hoặc một số chi phí được xác định theo quy định của pháp luật về chi phí tố tụng. Việc thanh toán chi phí giám định tư pháp, chi phí giám định lại, chi phí giám định bổ sung được thực hiện theo quy định của pháp luật về chi phí tố tụng và pháp luật về ngân sách nhà nước.

2. Cơ quan, đơn vị, tổ chức giám định tư pháp công lập không phải là đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động khi thực hiện giám định theo quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp có trách nhiệm lập dự toán, thanh toán, quyết toán chi phí giám định tư pháp từ nguồn ngân sách nhà nước theo dự toán hằng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức giám định tư pháp công lập không phải là đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thực hiện giám định theo yêu cầu của người yêu cầu giám định tư pháp thì người này phải nộp tiền tạm ứng, thanh toán chi phí giám định tư pháp vào ngân sách nhà nước thông qua cơ quan, đơn vị, tổ chức này.

3. Trường hợp tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện giám định tư pháp theo trưng cầu của cơ quan trưng cầu giám định thì được lập dự toán, thanh toán, quyết toán chi phí giám định tư pháp từ nguồn ngân sách nhà nước theo dự toán hằng năm của tổ chức đó theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Trường hợp tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện giám định tư pháp theo yêu cầu của người yêu cầu giám định tư pháp thì được thu, thanh toán, quyết toán chi phí giám định tư pháp theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan trưng cầu giám định tư pháp có trách nhiệm lập dự toán, chi trả chi phí giám định khi trưng cầu các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định mà không do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động.

5. Trường hợp tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp công lập, văn phòng giám định tư pháp thực hiện dịch vụ giám định ngoài tố tụng tư pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 16 và điểm a khoản 1 Điều 21 của Luật này thì được thu giá dịch vụ giám định theo quy định của pháp luật về giá.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 41. Chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp

1. Người giám định tư pháp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực, chuyên ngành có tính chất nguy hiểm, độc hại, khó thu hút tham gia hoạt động giám định tư pháp được hưởng chính sách hỗ trợ đặc thù, vượt trội; tổ chức giám định tư pháp công lập được áp dụng chế độ thuê khoán tương xứng để thu hút chuyên gia giỏi, tổ chức chuyên môn có năng lực tốt ở ngoài khu vực nhà nước tham gia hoạt động giám định. Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

2. Việc thực hiện giám định tư pháp của công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân là hoạt động công vụ. Cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý trực tiếp có trách nhiệm bảo đảm thời gian, các điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện giám định.

3. Giám định viên tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc; người giúp việc cho người giám định tư pháp đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước; người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao trách nhiệm có mặt, thực hiện nhiệm vụ trong thời gian thực hiện giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi, khai quật tử thi thì được cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện giám định chi trả chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo vụ việc giám định theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

4. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố căn cứ khả năng, điều kiện thực tế của Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương quy định chế độ, chính sách khác để hỗ trợ người giám định tư pháp, thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp.

Điều 42. Xử lý vi phạm trong hoạt động giám định tư pháp

1. Mọi tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan trong tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, vi phạm quy định về trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định hoặc tiếp nhận, thực hiện giám định thì tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý trách nhiệm công vụ, trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

3. Người giám định tư pháp là người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tổ chức thực hiện giám định ở khu vực ngoài nhà nước vi phạm quy định về tiếp nhận, thực hiện giám định, tham gia tố tụng với tư cách là tổ chức, cá nhân giám định thì tùy theo mức độ mà bị xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 43. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15, Luật số 99/2025/QH15 và Luật số 103/2025/QH15

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 136 như sau:

“1. Chi phí quy định tại điểm a, chi phí định giá tài sản quy định tại điểm b và chi phí quy định tại điểm c khoản 4 Điều 135 của Bộ luật này do các cơ quan, người đã trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử người bào chữa thì do Trung tâm này chi trả. Chi phí giám định tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp.”.

Điều 44. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.

2. Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 56/2020/QH14 (sau đây gọi là Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 45 của Luật này.

Điều 45. Quy định chuyển tiếp

1. Quyết định bổ nhiệm giám định viên tư pháp, thẻ giám định viên tư pháp, quyết định công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được ban hành theo quy định của Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 tiếp tục có hiệu lực.

2. Trường hợp hồ sơ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp, công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, thành lập, đăng ký hoạt động, cấp lại giấy đăng ký hoạt động, thay đổi, bổ sung lĩnh vực giám định, chuyển đổi loại hình văn phòng giám định tư pháp đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13.

3. Người có thẩm quyền bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cấp, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp, công nhận người, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc theo quy định của Luật này có thẩm quyền miễn nhiệm, bổ nhiệm lại, thu hồi thẻ, cấp lại thẻ giám định viên tư pháp, hủy bỏ công nhận người, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đã được người có thẩm quyền bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp, công nhận người, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc theo quy định của Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13.

4. Trường hợp việc giám định đã được tiếp nhận, thực hiện trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp tiếp tục thực hiện giám định, thanh toán, quyết toán chi phí giám định, bồi dưỡng giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13.

5. Văn phòng giám định tư pháp đã được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 tiếp tục được hoạt động theo quy định của Luật này.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 05 tháng 12 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

0
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Giám định tư pháp 2025
Tải văn bản gốc Luật Giám định tư pháp 2025

NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
--------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom – Happiness
---------------

Law No. 105/2025/QH15

Hanoi, December 05, 2025

 

LAW

ON JUDICIAL ASSESSMENT

 Pursuant to Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly hereby promulgates the Law on Judicial Assessment

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Regulatory scope

This Law provides for judicial assessors, judicial assessment institutions; procedures for judicial assessment; costs of judicial assessment; benefits and policies applicable to judicial assessment; state management of judicial assessment; responsibilities of procedural-conducting authorities, as well as organizations and individuals involved in judicial assessment activities.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Judicial assessors, judicial assessment institutions, judicial assessment councils.

2. Ordering parties, requesting parties

3. Other agencies, units, organizations and individuals involved in judicial assessment activities

Article 3. Interpretation of terms

For the purposes of this Law, the terms below shall be construed as follows:

1. Judicial assessment means the use of scientific, technical and professional knowledge, means and methods to examine, evaluate and provide expert conclusions on matters related to the receipt and handling of crime reports and denunciations, initiation, investigation, prosecution, adjudication and enforcement of criminal judgments, and the resolution of civil and administrative cases, upon order by an ordering party or upon request of a requesting party.

2. Ordering parties includes procedural-conducting authorities and persons; authorities and persons assigned to carry out certain investigative activities; and other authorities and persons competent to order judicial assessments in accordance with law.

3. Requesting party means a person who has the right to independently request judicial assessment after having requested a ordering party to order such assessment but whose request has not been accepted in accordance with the laws on criminal procedure, civil procedure, and administrative procedure.

4. Judicial assessors include appointed judicial assessors and case-specific judicial assessors.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

(In certain contexts, “judicial assessor” may be used to translate “giám định viên” as it is implicitly understood to refer to a person who has been appointed.)

6. Case-specific assessor means a person recognized by a competent regulatory authority or ordered by an ordering party in special cases specified in clause 4 Article 14 of this Law.

7. Judicial assessment organizations include public judicial assessment organizations, case-specific judicial assessment organizations, and judicial assessment offices.

8. Case-specific judicial assessment organization means an organization recognized by a competent regulatory authority or ordered by an ordering party in special cases specified in clause 3 Article 19 of this Law.

9. A judicial assessment process is a set of sequential steps and procedures for conducting judicial assessment in a specific professional or specialized field.

10. Professional standards in judicial assessment activities are legal regulations, technical regulations, norms, economic-technical norms, technical requirements, various procedures, and other norms issued by competent authorities in specific professional or specialized fields to serve judicial assessment activities.

Article 4. Principles of conducting judicial assessment

1. Compliance with the law, adherence to judicial assessment procedures, scientific, technical, and professional methods, assessment processes, and professional regulations in judicial assessment activities.

2. Honesty, accuracy, objectivity, impartiality, and timeliness.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. Providing conclusions only on professional matters within the scope of the ordered or requested judicial assessment.

5. Being legally accountable for the judicial assessment conclusions.

Article 5. State's policies on judicial assessment activities

1. The State shall invest in and develop a system of public judicial assessment organizations in fields with high and frequent demand for assessments to meet the requirements of judicial proceedings; provide preferential policies and facilitate participation while maintaining strict quality control over non-public judicial assessment organizations, case-specific judicial assessment organizations, or other units, organizations, and individuals when participating in judicial assessment activities.

2. The State shall adopt policies to prioritize the training and professional development of judicial assessors; promote the application of science and technology and digital transformation; and develop a database on judicial assessment.

Article 6. Responsibilities of agencies, units, organizations and individuals for judicial assessment activities

Agencies, units, organizations and individuals shall be responsible for cooperating and facilitating judicial assessors in carrying out assessments in accordance with this Law and other relevant laws.

Article 7. Responsibilities for state management in judicial assessment activities

1. The Government shall uniformly perform state management of judicial assessment nationwide.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Ministries and ministerial agencies shall be responsible for assisting the Government in the state management of judicial assessment within their jurisdiction and for cooperating with the Ministry of Justice in uniformly performing state management of judicial assessment.

4. The Supreme People’s Procuracy shall perform the management of its affiliated public judicial assessment organizations; review and summarize the organization and operation of judicial assessment within its jurisdiction, and send annual reports to the Ministry of Justice for consolidation and submission to the Government.

5. The People’s Committees of provinces and cities shall perform state management of judicial assessment in their provinces or cities as prescribed.

Article 8. Responsibilities of procedural-conducting authorities in judicial assessment activities

1. Responsibilities of central procedural-conducting authorities:

a) The Ministry of Public Security shall take charge and cooperate with the Ministry of National Defence, the Ministry of Justice, the Supreme People’s Procuracy, and the Supreme People’s Court in promulgating specific regulations on the order and request for judicial assessment, and on the evaluation and use of judicial assessment conclusions in the course of handling criminal cases and matters;

b) The Supreme People’s Procuracy shall take charge and coordinate with the Ministry of Public Security, the Ministry of National Defence, the Ministry of Justice, and the Supreme People’s Court in promulgating statistical indicators and organizing the implementation of statistics and the development of databases on the order and request for judicial assessment, and the evaluation and use of judicial assessment conclusions in criminal proceedings in association with crime statistics.

The Supreme People’s Court shall take charge and coordinate with the Ministry of Justice, Supreme People’s Procuracy in promulgating statistical indicators and organizing the implementation of statistics and the development of databases on the order and request for judicial assessment, and the evaluation and use of judicial assessment conclusions in criminal proceedings in association with crime statistics. Supreme People’s Procuracy in promulgating statistical indicators and organizing the implementation of statistics and the development of databases on the requisition and request for judicial assessment, and the evaluation and use of judicial assessment conclusions in civil and administrative proceedings.

Databases on the order and request for judicial assessment and the evaluation and use of judicial assessment conclusions in procedural activities shall be interconnected and shared;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) The Chief Justice of the Supreme People’s Court shall prescribe the arrangement and positioning of judicial assessors when participating in proceedings at court hearings.

dd) Other responsibilities according to regulations of laws.

2. Responsibilities of local procedural-conducting authorities:

a) Conduct statistical compilation on the ordering and requesting of judicial assessment, as well as on the evaluation and use of judicial assessment conclusions in procedural activities falling within local management competence, in accordance with the regulations of central procedural-conducting authorities.

b) The People’s Courts and the People’s Procuracies of provinces and central-affiliated cities shall, within the ambit of their respective management competence, incorporate into their annual reports submitted to the People’s Councils of such provinces and cities contents on the status of ordering and requesting judicial assessment; the evaluation of the implementation of judicial assessment; the use of judicial assessment conclusions; and the projection of demand for judicial assessment; and shall concurrently transmit the contents relating to judicial assessment to the Departments of Justice and other relevant departments and local authorities.

c) Other responsibilities according to regulations of laws.

Article 9. Prohibited acts

1. To refuse, without legitimate grounds, to accept or to conduct judicial assessment; or to intentionally delay the conduct of judicial assessment or the issuance of judicial assessment conclusions.

2. To refuse to issue judicial assessment conclusions in the absence of force majeure events or objective impediments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. To abuse the status of a judicial assessor or a judicial assessment organization for the purpose of obtaining undue benefits.

5. To receive money, property, or other benefits from any agency, organization, or individual in order to distort the ordering or requesting of judicial assessment, or to falsify the results or conclusions of judicial assessment.

6. To intentionally issue false or misleading judicial assessment conclusions.

7. To abuse the ordering or requesting of judicial assessment so as to cause difficulties or obstruct procedural activities.

8. To misuse the ordering of judicial assessment in criminal proceedings as a substitute for investigative activities or for the discharge of the burden of proof by procedural-conducting authorities.

9. To interfere with or obstruct the conduct of judicial assessment by judicial assessors.

10. To incite, threaten, or coerce a judicial assessor to issue false or misleading judicial assessment conclusions.

Chapter II

JUDICIAL ASSESSORS

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 10. Criteria of appointed judicial assessors

1. A Vietnamese citizen permanently residing in Viet Nam who satisfies the following criteria may be considered for appointment as a judicial assessor:

a) Possessing good moral character;

b) Holding a university degree or higher and having at least five (05) years of professional experience in the field of training.

In the case of a person proposed for appointment as a forensic examiner (i.e. appointed judicial assessor), forensic psychiatric examiner (i.e. appointed judicial assessor), or criminalistics examiner (i.e. appointed judicial assessor) who has directly assisted in assessment activities within a forensic, forensic psychiatric, or criminalistics assessment organization, the required period of professional experience shall be at least three (03) years;

c) Having completed a training course on legal knowledge and judicial assessment practice.

2. Ministers and Heads of ministerial agencies shall elaborate on Points b and c of Clause 1 of this Article in respect of judicial assessors in specialized fields under their respective management competence.

Article 11. Appointment and dismissal of judicial assessors (i.e. appointed judicial assessors)

1. Ministers, Heads of ministerial agencies, Heads of Governmental agencies, and the Procurator General of the Supreme People’s Procuracy shall appoint and dismiss judicial assessors for persons working in agencies and units under their respective management.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The following persons shall not be eligible for appointment as judicial assessors:

a) Persons who fail to satisfy the criteria specified in Clause 1, Article 10 of this Law;

b) Legally incapacitated persons, persons with limited legal capacity or persons with limited cognition or behavior control.

c) Persons who are subject to criminal prosecution; persons who have been convicted of unintentional crimes or less serious intentional crimes and whose criminal records have not yet been expunged; persons who have been convicted of serious, very serious, or especially serious intentional crimes;

d) Persons currently subject to administrative handling measures, including education at commune, ward, or special zone level, placement in compulsory drug rehabilitation facilities or compulsory education institutions;

dd) Officials subject to removal from office; civil servants or public employees subject to forced termination of employment; officers, non-commissioned officers, soldiers, professional servicemen, workers and public employees in agencies or units affiliated to the People’s Army subject to deprivation of military title or forced termination of employment; officers, non-commissioned officers, soldiers and workers in agencies or units affiliated to the People’s Public Security subject to deprivation of public security title or forced termination of employment.

This provision shall apply for a period of 03 years from the effective date of the decision to impose disciplinary measures;

e) Persons currently serving disciplinary measures at the level of reprimand or more severe.

4. A judicial assessor shall be dismissed in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Being subject to disciplinary measures at the level of reprimand or more severe, or administrative sanctions for committing prohibited acts under Article 9 of this Law;

c) Having a retirement decision or a decision on termination of employment that has taken effect, except where the judicial assessor wishes to continue conducting judicial assessment at the same agency, unit or organization and is approved in accordance with law;

d) Being reassigned or transferred to another agency, unit, or organization and no longer working in the field of expertise for which he or she was appointed;

dd) Failing to establish, participate in the establishment of, or work under an employment contract with a judicial assessment office, or failing to work at an agency, unit or organization within 12 months from the date of appointment.

5. A judicial assessor may be dismissed at his or her own request. Where the judicial assessor is working in an agency, unit, or organization, such dismissal must be approved by that agency, unit, or organization.

6. A person previously appointed as a judicial assessor who has been dismissed may be considered for re-appointment in the following cases:

a) A person dismissed due to failure to meet the criteria specified in Clause 1, Article 10 of this Law may be considered for re-appointment when the grounds for dismissal no longer exist and he or she does not fall under the ineligible cases specified in Points b, c, d, dd, and e, Clause 3 of this Article;

b) A person dismissed due to loss or limitation of legal capacity, or limitation of cognition and behavioral control, may be considered for re-appointment when such grounds no longer exist and he or she does not fall under the cases specified in Points a, c, d, dd, and e, Clause 3 of this Article;

c) A person dismissed under Points c, d, dd, and e, Clause 3, and Point b, Clause 4 of this Article may be considered for re-appointment when the criteria specified in Clause 1, Article 10 of this Law are satisfied; a period of 03 years has elapsed from the effective date of the decision to impose dismissal (or dismissal decision) and the grounds for dismissal no longer exist;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) A person dismissed as specified in point dd Clause 4 of this Article may be considered for re-appointment after 12 months from the date of dismissal when he or she does not fall under the ineligible cases specified in Clause 3 of this Article;

e) A person dismissed as specified in Clause 5 of this Article may be considered for re-appointment when he or she satisfies the criteria specified in clause 1 Article 10 of this Law and does not fall under the ineligible cases specified in Clause 3 of this Article.

7. A person appointed as a judicial assessor shall be issued a judicial assessor card. Persons competent to appoint and dismiss judicial assessors as prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article shall have the authority to issue, re-issue and revoke such cards.

8. The Government shall provide detailed regulations on the procedures for appointment, re-appointment, dismissal, issuance, re-issuance and revocation of judicial assessor cards.

Article 12. Rights and obligations of appointed judicial assessors

1. An appointed judicial assessor shall have the rights:

a) To establish, participate in establishing, or work under an employment contract at a judicial assessment office, or work under an employment contract at an agency, unit or organization in accordance with the law;

b) To establish or voluntarily join an association of judicial assessors in accordance with association laws;

c) To enjoy benefits and policies as provided under this Law and other relevant provisions of law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. An appointed judicial assessor shall have the following obligations:

a) To comply with the principles, procedures, and processes of judicial assessment as prescribed by this Law;

b) To participate in annual training courses on legal knowledge and judicial assessment practice.

c) To conduct judicial assessments in response to orders or requests from ordering parties or requesting parties, or as assigned by the agencies, units, or organizations issuing the orders or requests;

d) To perform the obligations in clause 2 Article 24, clause 2 Article 38 of this Law and other obligations as prescribed by relevant laws.

Section 2. Case-specific judicial assessors

Article 13. Criteria for case-specific judicial assessors

1. Vietnamese citizens permanently residing in Vietnam who meet the following criteria may be recognized as case-specific judicial assessors:

a) Possessing good moral character;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. In cases where a person does not satisfy the requirement specified in point (b), Clause 1 of this Article, but possesses in-depth knowledge, practical experience, and professional skills in the field or specialization requiring assessment, the competent agency or organization may consider deciding the selected person and recognize such person as a case-specific judicial assessor.

Article 14. Grant of recognition, revocation of recognition of case-specific judicial assessors

1. Ministers, heads of ministerial agencies and heads of governmental agencies shall recognize or revoke the recognition of case-specific judicial assessors who work at agencies or units under their management.

2. Chairpersons of People’s Committees of provinces and cities shall recognize or revoke the recognition of case-specific judicial assessors for persons working in agencies, units and organizations under their management; and individuals having permanent residence in the provinces and central-affiliated cities, except for the cases specified in Clause 1 of this Article.

3. Ministers, heads of ministerial agencies, and heads of governmental agencies, chairpersons of the People’s Committees of provinces or cities shall issue decisions to recognize lists of case-specific judicial assessors. Such lists shall serve as the basis for ordering and requesting parties to select and decide the issuance of orders or requests for judicial assessment.

4. In special cases, an ordering party may issue an order for judicial assessment to a person not included in the published list of case-specific judicial assessors, provided that such person satisfies the criteria specified in Article 13 of this Law. The ordering party must clearly state the reasons in the decision to issue the order and shall be responsible for such decision.

5. Persons shall not be recognized as case-specific judicial assessors in the following cases:

a) They fail to satisfy the criteria specified in Article 13 of this Law;

b) They fall under the cases prescribed in points b, c, d, dd and e clause 3 Article 11 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) They no longer meet the criteria specified in Article 13 of this Law;

b) They fall under the cases specified in points b, c, d, dd and e clause 3 Article 11 of this Law;

c) They are subject to disciplinary measures at the level of reprimand or more severe, or administrative sanctions for committing prohibited acts under Article 9 of this Law;

d) A decision on retirement or termination of employment takes effect;

dd) They are reassigned or transferred to another agency, unit, or organization and no longer work in the field of expertise for which they were recognized.

7. A case-specific judicial assessor may have their recognition revoked at their own request. Where such person is working at an agency, unit or organization, the consent of that agency, unit or organization is required.

8. The Government shall elaborate on the procedures for recognition and revocation of recognition of case-specific judicial assessors.

Article 15. Rights and obligations of case-specific judicial assessors

1. A case-specific judicial assessor shall have the following rights:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) To enjoy benefits and policies as provided under this Law and other relevant provisions of law;

c) To exercise the rights stipulated in Clause 1, Article 24 of this Law and other rights in accordance with relevant legal provisions.

2. A case-specific judicial assessor shall have the following obligations:

a) To comply with the principles and procedures for judicial assessment, judicial assessment processes, professional standards, and scientific, technical and professional methods as prescribed by this Law and other relevant provisions of law;

b) To participate in training courses on legal knowledge and judicial assessment practice;

c) To conduct judicial assessments in response to orders or requests from ordering parties or requesting parties, or as assigned by the agencies, units, or organizations issuing the requests or orders;

d) To perform the obligations in clause 2 Article 24, clause 2 Article 38 of this Law and other obligations as prescribed by relevant laws.

Chapter III

JUDICIAL ASSESSMENT ORGANIZATIONS

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 16. Public judicial assessment organizations

1. Public judicial assessment organizations shall be established by competent regulatory authorities in the fields of forensic medicine, forensic psychiatry, and forensic criminalistics. Public judicial assessment organizations shall have legal entity status in accordance with the law.

Where necessary, Ministers, Heads of ministerial agencies, and Chairpersons of the People’s Committees of provinces or central-affiliated cities shall consider deciding the establishment of, or propose to competent authorities to establish, public judicial assessment organizations in other fields.

2. Public judicial assessment organizations shall conduct judicial assessments in accordance with this Law. Public judicial assessment organizations that are public service providers may also provide judicial assessment services outside judicial proceedings in their respective fields or specializations in accordance with this Law.

3. The Government of Vietnam shall elaborate on clause 2 of this Article.

Article 17. System, functions, duties, powers and organizational structure of public judicial assessment organizations

1. Public judicial assessment organizations in the field of forensic medicine include:

a) Public judicial assessment organizations under the Ministry of Health;

b) Public judicial assessment organizations under the Ministry of National Defense;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Public judicial assessment organizations under Departments of Health of provinces or cities.

2. Public judicial assessment organizations in the field of forensic psychiatry shall be under the Ministry of Health.

3. Public judicial assessment organizations in the field of forensic criminalistics include:

a) Public judicial assessment organizations under the Ministry of Public Security;

b) Public judicial assessment organizations under the Ministry of National Defense;

c) Public judicial assessment organizations under the Supreme People’s Procuracy;

d) Public judicial assessment organizations under the Police of provinces or cities.

4. Public judicial assessment organizations under the Supreme People’s Procuracy specified in point c, Clause 3 of this Article shall conduct specialized assessments of audio, digital technology and electronics.

Public judicial assessment organizations under the Police of provinces or cities specified in point d Clause 3 of this Article shall conduct forensic autopsy assessments and forensic injury assessments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The Chief Procurator of the Supreme People’s Procuracy shall prescribe the functions, tasks, powers, and organizational structure of public judicial assessment organizations under the Supreme People’s Procuracy.

Section 2. CASE-SPECIFIC JUDICIAL assessment organizations

Article 18. Case-specific judicial assessment organizations

1. A case-specific judicial assessment organization must satisfy the following conditions:

a) It has legal status;

b) It has functions, tasks and powers in a field of expertise or specialization appropriate to the contents of the ordered or requested judicial assessment;

c) It has operated for at least five (05) years in a field of expertise or specialization appropriate to the contents of the ordered or requested judicial assessment;

d) It has a contingent of professional staff, as well as facilities, equipment and working means ensuring the performance of judicial assessment.

2. A case-specific judicial assessment organization shall conduct judicial assessments upon an order for judicial assessment or a request for judicial assessment in accordance with this Law. The head of the organization shall be responsible for receiving and assigning persons conducting judicial assessment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 19. Grant of recognition, revocation of recognition of case-specific judicial assessment organizations

1. Ministers, heads of ministerial agencies and heads of governmental agencies shall grant or revoke recognition of case-specific judicial assessment organizations for agencies or units under their management.

Chairpersons of the People’s Committees of provinces or central-affiliated cities shall grant or revoke recognition of case-specific judicial assessment organizations for agencies, units, organizations or enterprises under their management.

2. Ministers, heads of ministerial agencies, and heads of governmental agencies, chairpersons of the People’s Committees of provinces or cities shall issue decisions to recognize lists of case-specific judicial assessment organizations. Such lists shall serve as the basis for ordering and requesting parties to select and decide the issuance of orders or requests for judicial assessment.

3. Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies, and specialized agencies under the People’s Committees of provinces and central-affiliated cities shall conduct judicial assessment only upon an order for judicial assessment after the ordering party has issued an order to a case-specific judicial assessment organization included in the published list of case-specific judicial assessment organizations, but such organization falls into a case of refusal or is not permitted to conduct judicial assessment as prescribed in Article 38 of this Law. Where these agencies receive the order to conduct judicial assessment in such cases, they shall be deemed case-specific judicial assessment organizations.

In special cases, an ordering party may issue an order for judicial assessment to an organization not included in the published list of case-specific judicial assessment organizations, provided that such organization satisfies the criteria specified in clause 1 Article 18 of this Law. The ordering party must clearly state the reasons in the decision to issue the order and shall be responsible for such decision.

4. Cases of revocation of recognition of a case-specific judicial assessment organization:

a) It no longer satisfies the criteria specified in Clause 1, Article 18 of this Law;

b) It is subject to administrative sanctions for committing prohibited acts prescribed in Article 9 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Section 3. JUDICIAL ASSESSMENT OFFICES

Article 20. Judicial assessment offices

1. Judicial assessment offices shall be organized and operate in the form of sole proprietorships or partnerships in accordance with this Law, enterprise laws and other relevant laws.

2. Judicial assessment offices shall be established and registered for operation in the following fields and specializations:

a) Forensic science, including the specializations related to documents, digital technology and electronics and fingerprint traces, except as prescribed in Clause 3 of this Article;

b) Forensic medicine, including the specialization related to DNA, except as prescribed in Clause 3 of this Article;

c) Culture, including the specializations related to antiques, relics, and copyright;

d) Finance;

dd) Banking;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

g) Natural resources.

3. Judicial assessment offices shall not conduct judicial assessment in the specializations related to DNA, documents, digital technology and electronics, and fingerprint traces in criminal proceedings, except where a judicial assessment is ordered by the ordering party in special cases as prescribed in Clause 3, Article 19 of this Law.

4. The head of a judicial assessment office shall be its legal representative and shall manage and administer its operations. The head of a judicial assessment office must be an appointed judicial assessor.

5. The name of a judicial assessment office shall comprise the phrase “Judicial Assessment Office” and a proper name in Vietnamese.

6. A judicial assessment office shall be established and registered for operation with the provincial Department of Justice upon satisfaction of the following conditions:

a) The head of the office is an appointed judicial assessor with at least three (03) years of experience in judicial assessment;

b) A scheme for establishment of a judicial assessment office is in place.

A judicial assessment office shall commence its operation from the date on which the provincial Department of Justice approves the establishment scheme and issues the operation registration certificate.

7. A judicial assessment office shall terminate its operation in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Its operation registration certificate is revoked;

c) It is consolidated or merged.

8. Officials, public employees, officers, non-commissioned officers, soldiers, professional servicemen, workers, and employees in agencies or units of the People’s Army; and officers, non-commissioned officers, soldiers, and workers in agencies or units of the People’s Public Security shall not be permitted to establish judicial assessment offices.

9. The Government shall elaborate on procedures for establishment and operation registration; amendments to establishment or operation registration contents; re-issuance of operation registration certificates; suspension, termination, consolidation, and merger of judicial assessment offices.

Article 21. Rights and obligations of judicial assessment offices

1. A judicial assessment office shall have the following rights:

a) To conduct judicial assessment in accordance with this Law and to provide assessment services outside judicial proceedings in accordance with law;

b) To designate appointed judicial assessors to conduct judicial assessment;

c) To enter into employment contracts with appointed judicial assessors and other employees working for the organization in accordance with law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) To exercise other rights as prescribed by law.

2. A judicial assessment office shall have the following obligations:

a) To conduct judicial assessment according to the principles, procedures, and processes of judicial assessment as prescribed by this Law;

b) To comply with judicial assessment procedures, professional standards in assessment activities, and scientific, technical and professional methods, and to take responsibility for assessment conclusions;

c) To provide compensation for damage caused in the course of conducting judicial assessment in accordance with law;

d) To submit reports on its organization and operation on an annual basis or on an ad hoc basis upon request to the Department of Justice of the administrative division where the office is headquartered;

dd) To comply with requests of competent regulatory authorities for inspection and examination in accordance with law;

e) To perform other obligations as prescribed by law.

Chapter IV

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 22. Rights and obligations of ordering parties

1. An ordering party shall have the following rights:

a) To order a judicial assessor or a judicial assessment organization to conduct judicial assessment;

b) To request a judicial assessor or a judicial assessment organization to provide the judicial assessment conclusion in accordance with the requested contents and within the prescribed time limit;

c) To request the judicial assessor or judicial assessment organization that has conducted the assessment to explain the judicial assessment conclusion;

d) To request the court to summon the judicial assessor or judicial assessment organization that has conducted the assessment to participate in the hearing to explain and present the judicial assessment conclusion;

dd) To decide supplementary assessment, re-assessment, change of the judicial assessor, or to request the change of the judicial assessor;

e) To exercise other rights as defined by law.

2. An ordering party shall have the following obligations:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) To specify, in the decision on ordering a judicial assessment, the contents, field or specialization subject to assessment in relation to the case or matter under resolution; such contents must be specific, clear and appropriate to the subject matter of assessment;

c) To select a judicial assessor or a judicial assessment organization having the capacity and satisfying the conditions to conduct the assessment in accordance with the nature and contents of the assessment, for the issuance of the decision on ordering a judicial assessment;

d) To provide a complete application for ordering a judicial assessment immediately upon issuing the decision on ordering a judicial assessment, and to take responsibility before the law for the application provided;

dd) To implement or request competent authorities to apply measures in accordance with laws to protect the judicial assessor or his/her relatives where their life, health, honor, dignity, or property is threatened due to participation in the case or matter;

e) To promptly notify in writing the judicial assessor or judicial assessment organization of the suspension of the case or matter so as to cease the judicial assessment;

g) To make timely and full payment of judicial assessment costs where the ordering of the judicial assessor or judicial assessment organization is not funded by the state budget;

h) To perform other obligations as prescribed by law.

Article 23. Rights and obligations of requesting parties

1. A requesting party shall have the following rights:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) To request a judicial assessor or a judicial assessment organization to provide the judicial assessment conclusion within the time limit prescribed by this Law;

c) To request the judicial assessor or judicial assessment organization to explain the judicial assessment conclusion;

d) To request the court to summon the judicial assessor or judicial assessment organization that has conducted the assessment to participate in the hearing to explain and present the judicial assessment conclusion;

dd) To request the ordering party to order supplementary assessment or re-assessment in accordance with Article 32 of this Law;

e) To exercise other rights as defined by law.

2. A requesting party shall have the following obligations:

a) To provide a complete application for requesting a judicial assessment and to take responsibility before the law for the application provided;

b) To pay an advance on judicial assessment costs upon making the request, and to make timely and full payment of such costs to the judicial assessor or judicial assessment organization upon receipt of the judicial assessment conclusion;

c) To perform other obligations as prescribed by law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. A judicial assessor shall have the following rights:

a) To request the ordering party or the requesting party to provide a complete application for ordering or requesting a judicial assessment;

b) To select appropriate and necessary methods for conducting the assessment in accordance with the contents, field or specialization subject to assessment;

c) To use results of experiments, tests, professional conclusions or assessment conclusions produced by other organizations or individuals for the purpose of conducting the assessment;

d) To independently issue the judicial assessment conclusion;

dd) To request the ordering party or a competent authority to apply measures in accordance with laws to protect himself/herself or his/her relatives where their life, health, honor, dignity, or property is threatened due to participation in the case or matter;

e) To refuse to conduct judicial assessment in cases prescribed in Article 38 of this Law;

g) To be provided with an appropriate position when participating in court proceedings;

h) To receive remuneration, allowances for judicial assessment, expenses for court proceedings and other necessary costs in accordance with law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

k) To employ assistants in the course of conducting judicial assessment;

l) To exercise other rights as prescribed by law.

2. A judicial assessor shall have the following obligations:

a) To comply with judicial assessment procedures and professional standards in assessment activities when conducting judicial assessment;

b) To conduct the assessment in accordance with the contents, field or specialization subject to assessment;

c) To conduct the assessment and provide the judicial assessment conclusion within the prescribed time limit;

d) To prepare a judicial assessment file;

dd) To preserve the subject matter of assessment, documents and relevant samples received and to return them to the competent authority in accordance with law;

e) Not to disclose assessment results to any other person, except where consent in writing is given by the ordering party or requesting party;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

h) To provide compensation for damage caused in the course of conducting judicial assessment in accordance with law;

i) To perform other obligations as prescribed by law.

Article 25. Rights and obligations of judicial assessment organizations in judicial assessment activities

1. A judicial assessment organization ordered or requested to conduct judicial assessment shall have the following rights:

a) To request the ordering party or the requesting party to provide a complete application for ordering or requesting a judicial assessment;

b) To assign a judicial assessor to conduct the assessment;

c) To refuse to conduct judicial assessment in cases prescribed in Article 38 of this Law;

d) To receive advances and to be paid judicial assessment costs in a timely and full manner in accordance with law;

dd) To request the ordering party or a competent authority to apply measures in accordance with laws to protect its rights, interests, reputation and property in connection with its participation in the case or matter;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. A judicial assessment organization ordered or requested to conduct judicial assessment shall have the following obligations:

a) To direct and supervise the organization of judicial assessment to ensure compliance with the prescribed time limit, contents, field or specialization subject to assessment;

b) To ensure the availability of time, equipment, facilities and other necessary conditions for conducting the judicial assessment;

c) To promptly notify in writing the ordering party or requesting party in cases where new contents or issues arise during the course of conducting the assessment;

d) To preserve the subject matter of assessment, documents and relevant samples received and to return them to the competent authority in accordance with regulations;

dd) To provide compensation for damage in cases where its assessor intentionally falsifies the judicial assessment conclusion, causing damage to organizations or individuals;

e) To bear responsibility for the judicial assessment conclusion issued;

g) To perform other obligations as prescribed by law.

Article 26. Order for judicial assessment

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Where the collected evidence and documents have already clarified the matters to be proved but the ordering party requires additional professional information for consideration and evaluation, such party shall directly consult, convene meetings or solicit written opinions from relevant organizations or individuals, without issuing an order for judicial assessment.

2. The ordering party for judicial assessment shall issue a written decision on ordering a judicial assessment and send the application for ordering a judicial assessment to the judicial assessor or judicial assessment organization. Where the application cannot be enclosed with the decision, the ordering party shall be responsible for completing procedures for handover to the judicial assessor or judicial assessment organization.

The ordering party shall order assessment of only professional contents or issues and shall not request the judicial assessor or judicial assessment organization to issue assessment conclusions on contents falling within the responsibility of the ordering party.

3. A decision on ordering a judicial assessment shall contain the following principal contents:

a) Name and address of the ordering authority; full name of the person competent to issue the order;

b) Name and address of the organization; or full name of the person receiving the order;

c) Name and characteristics of the subject matter of assessment;

d) Name of relevant documents or comparison samples enclosed (if any);

dd) Contents of the judicial assessment request;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. In cases of supplementary assessment or re-assessment, the decision on ordering a judicial assessment shall clearly state that it is a supplementary assessment or a re-assessment and specify the reasons therefor.

5. Where necessary, prior to issuing a decision on ordering a judicial assessment, the ordering party may consult with the proposed judicial assessor or judicial assessment organization and relevant agencies regarding the contents of the order, time limits, application for ordering a judicial assessment and other relevant matters (if any).

6. Where the contents subject to assessment involve multiple fields of expertise falling within the competence of different judicial assessment organizations, the ordering party shall separate each content for ordering the appropriate organization.

Where such contents involve multiple fields of expertise within the competence of different judicial assessment organizations but are closely interrelated such that separation would cause difficulties, affect the accuracy of the assessment, or prolong the assessment period, the ordering party shall determine the principal content to be assessed and designate a lead judicial assessment organization and cooperating judicial assessment organizations. The decision on ordering a judicial assessment shall be sent to both the lead and cooperating organizations. The lead organization shall act as the focal point for organizing the overall assessment, conduct the assessment within its expertise and issue the judicial assessment conclusion.

7. Where difficulties arise in the process of ordering or cooperating in the assessment, the ordering party shall take charge and cooperate with the judicial assessor or judicial assessment organizations in resolving such issues.

Article 27. Request for judicial assessment in civil matters, administrative cases and criminal cases

1. The requesting party shall submit a written request for judicial assessment to the judicial assessor or judicial assessment organization, together with an application for requesting a judicial assessment and copies of documents proving his/her/its status as a requesting party in accordance with Clause 3, Article 3 of this Law.

2. Where the application for requesting a judicial assessment is being held by a competent authority, the requesting party shall have the right to request such authority to hand over the application to the judicial assessor or judicial assessment organization for the purpose of conducting the assessment.

3. A written request for judicial assessment shall contain the following contents:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Contents of the judicial assessment request;

c) Name and characteristics of the subject matter of assessment;

d) Name of relevant documents or comparison samples enclosed (if any);

dd) Date of the request and time limit for issuance of the judicial assessment conclusion;

e) Signature and full name of the requesting party.

Article 28. Receipt of orders and requests for judicial assessment

1. Local judicial assessment organizations and judicial assessors, and judicial assessment organizations under ministries, ministerial agencies and Governmental agencies headquartered in local administrative divisions shall be responsible for receiving orders for judicial assessment and conducting judicial assessment as ordered by local or central ordering parties.

2. Central judicial assessment organizations and judicial assessors shall be responsible for receiving orders for judicial assessment and conducting judicial assessment in the following cases:

a) Where the order is issued by a central ordering party;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Where re-assessment is conducted for a matter already assessed by a local judicial assessment organization or judicial assessor;

d) Where the central judicial assessment organization has issued a written confirmation of acceptance of conducting the assessment as ordered by a local ordering party.

3. Within five (05) working days from the date of receipt of an order for judicial assessment or a request for judicial assessment, the judicial assessment organization or judicial assessor shall notify in writing the ordering party or requesting party of the acceptance or refusal of conducting the assessment; in case of refusal, the reasons must be clearly stated.

Where the assessment is accepted, the head of the judicial assessment organization shall assign a person with appropriate expertise and professional qualifications appropriate to the contents of the order or request for judicial assessment; where two or more persons are assigned, the leading person and cooperating person(s) shall be designated .

4. In cases where a lead judicial assessment organization and cooperating judicial assessment organization(s) are designated as prescribed in Clause 6, Article 26 of this Law, within three (03) working days from the date of receipt of the decision on ordering a judicial assessment, the cooperating judicial assessment organization shall issue a written designation of its judicial assessor and send it to the lead organization and the ordering party; in case of refusal, it shall notify in writing and clearly state the reasons. Within five (05) working days from the date of receipt of the written designation from the cooperating judicial assessment organization, the lead judicial assessment organization shall notify in writing the ordering party or requesting party of the acceptance or refusal of conducting the assessment; in case of refusal, the reasons must be clearly stated.

The conduct of judicial assessment in this case shall comply with Clause 3, Article 31 of this Law.

5. Ministers and Heads of ministerial agencies shall promulgate lists of fields of expertise and specializations under their management, as well as the procedures for accepting orders for judicial assessment and conducting judicial assessment.

Governmental agencies shall request the relevant ministries or ministerial agencies responsible for the respective fields of expertise or specializations to promulgate lists of fields of expertise and specializations under their management, as well as the procedures for accepting orders for judicial assessment and conducting judicial assessment.

Article 29. Delivery and receipt of applications for ordering or requesting judicial assessment

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The decision on ordering the judicial assessment or the written request for judicial assessment;

b) Relevant information, documents and objects (if any);

c) The subject matter of assessment (if any).

2. The direct delivery and receipt of an application for ordering or requesting judicial assessment must be documented in a written record. Such record shall include the following particulars:

a) Time and place of delivery and receipt;

b) Full names of the representatives of the delivering party and the receiving party;

c) The application specified in clause 1 of this Article:

d) The method of preservation of the subject matter of the assessment, and of relevant documents and objects during delivery and receipt;

dd) The condition of the subject matter of the assessment, and of relevant documents and objects during delivery and receipt;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The delivery of an application for ordering or requesting a judicial assessment by post must be carried out by registered mail. The organization or individual receiving the application sent by registered mail shall be responsible for their safekeeping and, upon unsealing, must prepare a written record in accordance with Clause 2 of this Article.

The online delivery and receipt of the application for ordering or requesting a judicial assessment shall comply with the laws governing the delivery and receipt of electronic documents and electronic data.

4. In respect of the delivery and receipt of the subject matter of an assessment in the field of forensic medicine or forensic psychiatry involving human subjects, the ordering or requesting party shall take charge and cooperate with the organization or individual receiving the order for judicial assessment in arranging specialized personnel to manage such subject matter throughout the assessment process, in accordance with regulations of the Government.

Article 30. Time limits for judicial assessment

1. The time limits for judicial assessment in cases where the ordering of judicial assessment is mandatory shall be governed by the provisions of criminal procedure law.

2. For cases not specified in Clause 1 of this Article, the time limit for judicial assessment shall be two (02) months; in cases where the assessment involves complex matters or a large workload, the time limit shall be three (03) months; and in cases of particularly complex matters or an exceptionally large workload, the time limit shall be four (04) months.

Ministries and ministerial agencies performing specialized management over fields of judicial assessment shall, based on the professional characteristics of each field and the maximum period of assessment (time limit) prescribed in this Clause, stipulate specific time limits for each type of assessment.

3. The time limit for judicial assessment shall commence from the date on which the judicial assessor or judicial assessment organization receives a complete application for ordering or requesting judicial assessment as prescribed in Clause 1, Article 29 of this Law.

4. In the course of conducting a judicial assessment, where additional information, documents, or samples are required as a basis for the assessment, the judicial assessor or judicial assessment organization shall, within twenty-four (24) hours from the time such need is identified, issue a written request to the ordering or requesting party for supplementation. The ordering or requesting party shall be responsible for providing such additional information, documents, or samples within five (05) working days from the date of receipt of the request. The period from the issuance of the request for supplementation until receipt of the additional information, documents or samples shall not be included in the prescribed maximum period for judicial assessment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 31. Judicial assessment conducted by individuals and organizations

1. Judicial assessment conducted by an individual means an assessment carried out by a single person. The judicial assessor shall sign the assessment conclusion and bear personal responsibility for such conclusion.

2. Judicial assessment conducted by a judicial assessment organization means an assessment conducted in accordance with the assignment made by such organization. The organization shall issue the assessment conclusion bearing the signature of its lawful representative and the judicial assessor(s).

In cases where there are different professional opinions or conclusions among the assessors, the head of the judicial assessment organization shall convene a professional meeting with the assessors to reach a consensus and issue the assessment conclusion. Where an assessor maintains a dissenting opinion, such opinion may be recorded as a reserved opinion in the assessment conclusion.

3. In cases where a judicial assessment is conducted by a judicial assessment organization involving multiple fields of expertise, each assessor shall perform the assessment within his or her respective field of expertise and shall bear personal responsibility for the corresponding part of the assessment conclusion.

Article 32. Supplementary assessment and re-assessment

1. A supplementary assessment shall be conducted where the assessment conclusion is unclear or incomplete, or where new issues arise in relation to matters previously concluded upon. The ordering or requesting of a supplementary assessment shall follow the same procedures as those applicable to an initial assessment.

2. A re-assessment shall be conducted where there are grounds to question the accuracy of the initial assessment conclusion, or in the case specified at Point c, Clause 1, Article 33 of this Law. The ordering or requesting of a re-assessment shall follow the same procedures as those applicable to an initial assessment.

3. The ordering party shall decide the ordering of re-assessment either on its own initiative or upon request by the requesting party. Where the ordering party refuses such request, it shall notify the requesting party in writing, clearly stating the reasons.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. A Judicial Assessment Council shall be established in the following cases:

a) There exists a discrepancy between the initial judicial assessment conclusion and the re-assessment conclusion with respect to the same subject matter to be assessed, and the ordering party decides to conduct a second re-assessment, except for the case specified at point b of this Clause;

b) A judicial assessment is conducted for the first time by a Ministry, a ministerial agency, or a governmental agency as prescribed in Clause 3 Article 19 of this Law, and a re-assessment is subsequently conducted;

c) Re-assessment is conducted in special cases in accordance with procedural law.

2. Ministers, Heads of ministerial agencies, and Chairpersons of the People’s Committees of provinces and central-affiliated cities shall establish a Judicial Assessment Council upon receipt of an order for judicial assessment in accordance with Clause 1 of this Article.

3. The Judicial Assessment Council shall consist of at least three members who possess high-level expertise and professional prestige in the field subject to judicial assessment. The Judicial Assessment Council shall operate as a collective and make decisions by two-thirds vote; where a judicial assessor has a differing opinion, such opinion may be reserved in the judicial assessment conclusion.

4. The Government of Vietnam shall elaborate this Article.

Article 34. Documents and electronic data recording the process of conducting judicial assessment

1. Judicial assessors and judicial assessment organizations shall promptly, fully and truthfully record, in written form or electronic data, the entire process of conducting a judicial assessment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 35. Judicial assessment conclusions

1. A judicial assessment conclusion must be made in writing and include the following contents:

a) Full name of the judicial assessor; name and address of the judicial assessment organization;

b) Name of the ordering party; number of the order for judicial assessment or full name of the requesting party;

c) Information identifying the subject matter of assessment;

d) Time of receipt of the written order for judicial assessment or written request for judicial assessment;

dd) Contents of the request for judicial assessment;

e) Methods of conducting the judicial assessment;

g) Clear and specific conclusions on the professional contents of the subject matter of assessment in accordance with the order for judicial assessment or request for judicial assessment;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Where an individual is ordered or requested to conduct a judicial assessment, the judicial assessment conclusion must bear the signature and full name of the judicial assessor. The use of digital signatures in judicial assessment conclusions shall comply with the law on electronic transactions.

Where a judicial assessment organization is ordered or requested to conduct a judicial assessment, in addition to the signature and full name of the judicial assessor, the lawful representative of the judicial assessment organization must sign and affix the seal to the judicial assessment conclusion, and the organization receiving the order or request for judicial assessment shall be responsible for such conclusion.

Where a Judicial Assessment Council as prescribed in Clause 1 of Article 33 of this Law conducts the judicial assessment, in addition to the signature and full name of the judicial assessor, the person competent to decide the establishment of the Council must sign and affix the seal to the judicial assessment conclusion and shall be responsible for the legal status of the Council.

Where an order for judicial assessment is sent to a leading judicial assessment organization or a cooperating judicial assessment organization in accordance with Clause 6 of Article 26 of this Law, the judicial assessment conclusion must bear the signatures of the judicial assessors and the signatures and seals of the heads of such organizations.

3. Where a judicial assessment is conducted prior to the issuance of a decision to initiate a criminal case in accordance with the procedures prescribed by this Law, the competent procedural-conducting authority may use such conclusion as a judicial assessment conclusion.

4. Where judicial assessment conclusions for the same content are different and procedural-conducting authorities cannot reach agreement on which conclusion to use as a basis for resolving the matter or the case, the competent procedural-conducting authority shall consider, evaluate and decide the use of such conclusions based on the following criteria:

a) Professional qualifications and expertise of the judicial assessor;

b) Methods and procedures for conducting the judicial assessment;

c) Equipment and specialized means used in conducting the judicial assessment;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. After issuing a judicial assessment conclusion, the judicial assessor or judicial assessment organization shall return the subject matter of assessment to the ordering party or requesting party, unless otherwise provided by law. The ordering party or requesting party shall receive back the subject matter of assessment in accordance with law. The handover and receipt must be recorded in minutes; the contents of such minutes shall comply with Clause 2 of Article 29 of this Law.

Article 36. Suspension of the conduct of judicial assessment

1. Where a judicial assessment conclusion is no longer required for the resolution of a matter or case, the ordering party or requesting party shall promptly issue a written notification of the suspension of the conduct of the judicial assessment to the judicial assessor or judicial assessment organization, clearly stating the reasons therefor.

2. Upon receipt of the written notification from the ordering party or requesting party, the judicial assessor or judicial assessment organization shall immediately cease the conduct of the judicial assessment and shall record such suspension in the documents or electronic data recording the process of conducting the judicial assessment.

3. Judicial assessors and judicial assessment organizations shall be entitled to payment of judicial assessment costs, judicial allowances for judicial assessment and other necessary expenses in respect of the work already performed, in accordance with law.

Article 37. Judicial assessment files

1. A judicial assessment file compiled by the judicial assessor shall comprise:

a) The application for ordering/requesting a judicial assessment;

b) Minutes of the handover and receipt of the application for ordering/requesting a judicial assessment;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Assessment photographs (if any);

dd) Previous judicial assessment conclusions or test or experimental results conducted by other persons (if any);

e) Other documents related to the judicial assessment (if any).

g) The judicial assessment conclusion.

2. Ministers and Heads of ministerial agencies shall elaborate on the components of the file for each type of judicial assessment and the archival regime applicable to judicial assessment files within their respective fields of management.

3. Judicial assessment organizations conducting judicial assessments shall be responsible for the preservation and archival of judicial assessment files prepared by judicial assessors under their management, in accordance with the law on archives.

Judicial assessors shall be responsible for handing over judicial assessment files to their directly managing agencies, units or organizations in accordance with the law on archives.

4. Judicial assessment files shall be presented upon the request of the ordering parties.

Article 38. Cases of refusal to conduct judicial assessment and cases in which judicial assessment is prohibited

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The contents of an order for judicial assessment or a request for judicial assessment are not within the scope of professional expertise of the person or organization receiving the order or request for judicial assessment;

b) There is insufficient professional capacity or a lack of the necessary facilities, equipment or means to conduct the judicial assessment;

c) The subject matter of assessment or the relevant documents provided are insufficient or lack probative value for issuing a judicial assessment conclusion, after a request for supplementation or clarification has been made to the ordering party or requesting party but has not been complied with;

d) There is insufficient time to conduct the judicial assessment;

dd) The independence and objectivity in conducting the judicial assessment cannot be ensured;

e) Other cases as prescribed by law.

2. An organization or an individual is not permitted to conduct a judicial assessment in the following cases:

a) Procedural law prohibits such conduct;

b) The organization or individual is ordered to conduct a re-assessment of the same content of the matter or case in which he/she/it has previously conducted the judicial assessment, unless otherwise provided by law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) There are clear grounds to believe that the organization or individual is not objective or impartial in conducting the judicial assessment;

dd) Other cases as prescribed by law.

Article 39. Mutual legal assistance in judicial assessment

1. A request for a foreign organization or individual to conduct a judicial assessment may be made only where the subject matter of assessment is located abroad or where the professional capacity, facilities, equipment or means of a domestic judicial assessor or a judicial assessment organization do not meet the requirements of the judicial assessment.

2. A judicial assessor or a judicial assessment organization shall receive and conduct a judicial assessment at the request of a competent foreign procedural-conducting authority in accordance with the law on mutual legal assistance in criminal matters and civil matters.

3. The procedures and costs for providing mutual legal assistance in judicial assessment between Viet Nam and foreign countries shall comply with the law on mutual legal assistance in criminal matters and civil matters.

Chapter V

COSTS OF JUDICIAL ASSESSMENT, REGULATIONS AND POLICIES AND HANDLING OF VIOLATIONS IN JUDICIAL ASSESSMENT ACTIVITIES

Article 40. Costs of judicial assessment

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. A public judicial assessment organization/agency/unit that is not a public service provider funded by the state budget shall, when conducting a judicial assessment pursuant to an order for judicial assessment or a request for judicial assessment, be responsible for preparing estimates, making payments and finalizing the costs of judicial assessment from the state budget within its annual budget estimates in accordance with the law on the state budget.

Where such an organization/agency/unit conducts a judicial assessment at the request of a requesting party, that party shall make an advance payment and settle the costs of judicial assessment into the state budget through such organization/agency/unit.

3. Where a public judicial assessment organization that is a public service provider conducts a judicial assessment pursuant to an order for judicial assessment issued by an ordering authority, it shall be entitled to prepare estimates, make payments and finalize the costs of judicial assessment from the state budget within its annual budget estimates in accordance with the law on the state budget.

Where such an organization conducts a judicial assessment at the request of a requesting party, it shall collect, pay and finalize the costs of judicial assessment in accordance with law.

4. An ordering authority shall be responsible for preparing estimates and paying the costs of judicial assessment when ordering organizations or individuals conducting judicial assessment that are not funded by the state budget.

5. Where a public judicial assessment organization that is a public service provider or a judicial assessment office, provides judicial assessment services outside judicial proceedings in accordance with Clause 2 of Article 16 and Point a Clause 1 of Article 21 of this Law, it shall be entitled to collect service charges for judicial assessment in accordance with the law on prices.

6. The Government of Vietnam shall elaborate on this Article.

Article 41. Benefits and policies in judicial assessment activities

1. A judicial assessor receiving a salary from the state budget for the work in a field or specialization that is hazardous, toxic or difficult to attract participants shall be entitled to special and preferential support policies; a public judicial assessment organization may apply appropriate contractual remuneration to attract highly qualified experts and competent professional organizations from the non-state sector to participate in judicial assessment activities. The Government of Vietnam shall elaborate on this clause.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. An appointed judicial assessor, a case-specific judicial assessor, a person assisting a judicial assessor who is receiving a salary from the state budget, and a person assigned by a competent regulatory authority to be present and perform duties during the conduct of a judicial assessment in cases involving autopsy, post-mortem examination or exhumation shall be paid case-based judicial assessment remuneration by the organization/agency/unit conducting the judicial assessment in accordance with regulations of the Prime Minister.

4. A ministry, a ministerial agency or the People’s Council of a province or city may, based on its capacity and actual conditions, prescribe additional benefits and policies to support judicial assessors and to attract experts and competent organizations to participate in judicial assessment activities.

Article 42. Handling of violations in judicial assessment activities

1. Any organization or individual that violates the provisions of this Law or other relevant provisions of law in the organization, operation or management of judicial assessment shall be handled in accordance with law.

2. A civil servant, public employee, officer of the People’s Army, or officer of the People’s Public Security who, in the course of performing assigned duties, violates regulations on ordering a judicial assessment, evaluating or using a judicial assessment conclusion, or receiving or conducting a judicial assessment shall, depending on the severity of the violation, be subject to disciplinary measures or criminal liability in accordance with law.

3. A judicial assessor who does not receive a salary from the state budget, or an organization conducting judicial assessment in the non-state sector, that violates regulations on receiving or conducting a judicial assessment or on participating in proceedings in the capacity of an assessment organization or assessor shall, depending on the severity of the violation, be subject to administrative sanctions or criminal liability in accordance with law.

Chapter VI

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 43. Amendments to clause 1 Article 136 of Criminal Procedure Code No. 101/2015/QH13 amended by Law No. 02/2021/QH15, Law No. 34/2024/QH15, Law No. 59/2024/QH15, Law No. 99/2025/QH15 and Law No. 103/2025/QH15.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“1. The cost specified at point a, the asset valuation cost specified at point b and the cost specified at point c of Clause 4 of Article 135 of this Code shall be paid by the authority or person that has issued the order, request or appointment; in the case where a State legal aid center assigns a defense counsel, such cost shall be paid by that center. The cost of judicial assessment shall be governed by the law on judicial assessment.”.

Article 44. Effect

1. This Law comes into force from May 01, 2026.

2. Law on Judicial Assessment No. 13/2012/QH13 shall be invalid from the effective date of this Law, except for the provisions set out in Clauses 1, 2, 3, and 4 of Article 45 of this Law.

Article 45. Transitional provisions

1. A decision on appointment of a judicial assessor, a judicial assessor card, and a decision on recognition of a case-specific judicial assessor or a case-specific judicial assessment organization issued in accordance with the Law on Judicial Assessment No. 13/2012/QH13 shall remain valid.

2. Where an application for appointment, dismissal, issuance, re-issuance or revocation of a judicial assessor card; recognition of a case-specific judicial assessor or a case-specific judicial assessment organization; or establishment, registration of operation, re-issuance of an operation registration certificate, modification or supplementation of assessment fields, or conversion of the organizational form of a judicial assessment office has been duly received by a competent authority prior to the effective date of this Law, such application shall continue to be processed in accordance with Law on Judicial Assessment No. 13/2012/QH13.

3. A person having the competence, under this Law, to appoint or reappoint a judicial assessor, to issue, re-issue or revoke a judicial assessor card, or to recognize a case-specific judicial assessor or a case-specific judicial assessment organization shall also have the competence to dismiss or reappoint such assessor, to revoke or re-issue such card, or to revoke the recognition of such assessor or organization, where such appointment, issuance, or recognition has been made by a competent person in accordance with Law on Judicial Assessment No. 13/2012/QH13.

4. Where a judicial assessment has been accepted and commenced prior to the effective date of this Law, the judicial assessor or judicial assessment organization shall continue to carry out such assessment and to settle and finalize the assessment cost and remuneration in accordance with Law on Judicial Assessment No. 13/2012/QH13.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Law was passed on December 05, 2025, by the XVth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 10th session.

 

 

CHAIRPERSON OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Giám định tư pháp 2025
Số hiệu: 105/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Thủ tục Tố tụng
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 05/12/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên tư pháp thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 6, Điều 7 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 4. Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp

Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 10 Luật số 105/2025/QH15 được thực hiện như sau:

1. Có trình độ đại học trở lên thuộc các ngành đào tạo văn hóa, luật, kinh tế, thông tin, các ngành đào tạo khác phù hợp với vị trí việc làm trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch.

2. Đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong các lĩnh vực được đào tạo, lĩnh vực liên quan phù hợp với lĩnh vực giám định tư pháp cần bổ nhiệm từ đủ 05 năm trở lên tính từ ngày có quyết định tiếp nhận, tuyển dụng.

3. Đã qua khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.

Điều 5. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp

1. Căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động giám định, người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lựa chọn người trong đơn vị có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này, lập danh sách gửi Vụ Pháp chế tổng hợp trình lãnh đạo Bộ quyết định tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tùy điều kiện thực tế của địa phương, cử người của cơ quan mình tham gia bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.

2. Trên cơ sở đề xuất của các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Du lịch, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

3. Kết thúc khóa bồi dưỡng, học viên được cấp Giấy chứng nhận bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp. Giấy chứng nhận theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

4. Trên cơ sở Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp của Bộ Tư pháp, Vụ Pháp chế có trách nhiệm xây dựng nội dung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định.

Xem nội dung VB
Điều 10. Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp

1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể được xem xét, bổ nhiệm giám định viên tư pháp:
...
b) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.

Trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian thực tế hoạt động chuyên môn từ đủ 03 năm trở lên;

c) Đã qua khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ giám định tư pháp.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 1 Điều này đối với giám định viên tư pháp ở lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý.
Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 4, Điều 5 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 4. Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp

Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 10 Luật số 105/2025/QH15 được thực hiện như sau:

1. Có trình độ đại học trở lên thuộc các ngành đào tạo văn hóa, luật, kinh tế, thông tin, các ngành đào tạo khác phù hợp với vị trí việc làm trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch.

2. Đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong các lĩnh vực được đào tạo, lĩnh vực liên quan phù hợp với lĩnh vực giám định tư pháp cần bổ nhiệm từ đủ 05 năm trở lên tính từ ngày có quyết định tiếp nhận, tuyển dụng.

3. Đã qua khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.

Điều 5. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp

1. Căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động giám định, người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lựa chọn người trong đơn vị có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này, lập danh sách gửi Vụ Pháp chế tổng hợp trình lãnh đạo Bộ quyết định tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tùy điều kiện thực tế của địa phương, cử người của cơ quan mình tham gia bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.

2. Trên cơ sở đề xuất của các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Du lịch, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

3. Kết thúc khóa bồi dưỡng, học viên được cấp Giấy chứng nhận bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp. Giấy chứng nhận theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

4. Trên cơ sở Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp của Bộ Tư pháp, Vụ Pháp chế có trách nhiệm xây dựng nội dung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định.

Xem nội dung VB
Điều 10. Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp

1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể được xem xét, bổ nhiệm giám định viên tư pháp:
...
b) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.

Trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian thực tế hoạt động chuyên môn từ đủ 03 năm trở lên;

c) Đã qua khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ giám định tư pháp.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 1 Điều này đối với giám định viên tư pháp ở lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý.
Tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên tư pháp thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 6, Điều 7 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Tiêu chuẩn giám định viên tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 4, Điều 5 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 8. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức thuộc, trực thuộc Bộ, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục nếu có đủ điều kiện sau đây được xem xét, công nhận là tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành quy định tại Điều 3 Thông tư này phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành quy định tại Điều 3 Thông tư này phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ người làm công tác chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, người đứng đầu tổ chức thuộc, trực thuộc Bộ, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục nếu có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này lập danh sách gửi Vụ Pháp chế.

3. Vụ Pháp chế phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra hồ sơ, tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

4. Vụ Pháp chế gửi danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đến Trung tâm Công nghệ thông tin để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nội vụ.

Xem nội dung VB
Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.
...
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.
Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 6. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật số 105/2025/QH15 được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận theo quy định tại Điều 7 Thông tư này.

2. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định. Đối với các tổ chức được thành lập mới trên cơ sở tách, nhập từ các đơn vị khác mà vẫn tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định thì thời gian hoạt động được cộng dồn cả thời gian hoạt động của đơn vị cũ trước khi tách, nhập.

Xem nội dung VB
Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.
...
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.
Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 8. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức thuộc, trực thuộc Bộ, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục nếu có đủ điều kiện sau đây được xem xét, công nhận là tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành quy định tại Điều 3 Thông tư này phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành quy định tại Điều 3 Thông tư này phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ người làm công tác chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, người đứng đầu tổ chức thuộc, trực thuộc Bộ, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục nếu có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này lập danh sách gửi Vụ Pháp chế.

3. Vụ Pháp chế phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra hồ sơ, tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

4. Vụ Pháp chế gửi danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đến Trung tâm Công nghệ thông tin để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nội vụ.

Xem nội dung VB
Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.
...
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.
Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 6. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật số 105/2025/QH15 được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận theo quy định tại Điều 7 Thông tư này.

2. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định. Đối với các tổ chức được thành lập mới trên cơ sở tách, nhập từ các đơn vị khác mà vẫn tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định thì thời gian hoạt động được cộng dồn cả thời gian hoạt động của đơn vị cũ trước khi tách, nhập.

Xem nội dung VB
Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.
...
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.
Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 8. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức thuộc, trực thuộc Bộ, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục nếu có đủ điều kiện sau đây được xem xét, công nhận là tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành quy định tại Điều 3 Thông tư này phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành quy định tại Điều 3 Thông tư này phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ người làm công tác chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, người đứng đầu tổ chức thuộc, trực thuộc Bộ, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục nếu có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này lập danh sách gửi Vụ Pháp chế.

3. Vụ Pháp chế phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra hồ sơ, tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

4. Vụ Pháp chế gửi danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đến Trung tâm Công nghệ thông tin để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nội vụ.

Xem nội dung VB
Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.
...
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.
Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 6. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật số 105/2025/QH15 được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận theo quy định tại Điều 7 Thông tư này.

2. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định. Đối với các tổ chức được thành lập mới trên cơ sở tách, nhập từ các đơn vị khác mà vẫn tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định thì thời gian hoạt động được cộng dồn cả thời gian hoạt động của đơn vị cũ trước khi tách, nhập.

Xem nội dung VB
Điều 18. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tư cách pháp nhân;

b) Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Có thời gian hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định;

d) Có đội ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp.
...
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực chuyên môn hoặc chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý.
Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định tư pháp và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 3, Điều 9, Điều 11 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 3. Danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định tư pháp

1. Di sản văn hóa.

2. Văn hóa cơ sở.

3. Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh.

4. Nghệ thuật biểu diễn.

5. Bản quyền tác giả.

6. Báo chí, thông tin điện tử.

7. Xuất bản, in, phát hành.

8. Các lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành khác thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định pháp luật.
...
Điều 9. Trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu giám định

1. Người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có trách nhiệm phân công đầu mối tiếp nhận trưng cầu giám định.

2. Người được phân công đầu mối tiếp nhận thực hiện việc tiếp nhận, giao nhận hồ sơ trưng cầu theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 Luật số 105/2025/QH15.

Trường hợp không đủ điều kiện giám định thì người được phân công đầu mối tiếp nhận có trách nhiệm đề xuất người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp từ chối theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp. Việc từ chối thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư này.

Trường hợp phải thực hiện giám định thì thực hiện thủ tục tiếp nhận và trình người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc quyết định thực hiện giám định.

3. Trong thời hạn quy định, người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ban hành quyết định thực hiện giám định. Quyết định giám định được gửi cho cơ quan trưng cầu, các thành viên tham gia giám định, lưu hồ sơ giám định.

Điều 10. Từ chối thực hiện giám định

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có quyền từ chối thực hiện giám định tư pháp trong các trường hợp quy định tại Điều 38 Luật số 105/2025/QH15.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận quyết định trưng cầu, người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải gửi văn bản từ chối cho cơ quan trưng cầu giám định và nêu rõ lý do từ chối.

Điều 11. Quy trình thực hiện giám định tư pháp

1. Tiếp nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp

a) Việc nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp được gửi qua đường bưu chính hoặc trên môi trường điện tử thực hiện theo quy định tại Điều 29 Luật số 105/2025/QH15.

b) Việc giao, nhận trực tiếp hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp phải được lập thành biên bản thực hiện theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

c) Khi tiếp nhận đối tượng cần giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có) trong tình trạng niêm phong thì trước khi mở phải kiểm tra niêm phong. Quá trình mở niêm phong phải có mặt người thực hiện giám định; người trưng cầu, yêu cầu giám định và người chứng kiến (nếu có). Mọi thông tin, diễn biến liên quan đến quá trình mở niêm phong phải được ghi vào biên bản và có chữ ký xác nhận của các bên tham gia, chứng kiến. Cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp có quyền từ chối tiếp nhận nếu phát hiện niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu bị thay đổi. Biên bản mở niêm phong thực hiện theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

d) Khi việc thực hiện giám định hoàn thành, cá nhân, tổ chức thực hiện giám định có trách nhiệm giao lại đối tượng giám định cho người trưng cầu, yêu cầu giám định theo quy định tại khoản 5 Điều 35 Luật số 105/2025/QH15. Việc giao nhận lại đối tượng giám định phải được lập thành biên bản thực hiện theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Việc giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thực hiện theo quy trình như sau:

a) Tiếp nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

b) Chuẩn bị giám định tư pháp;

c) Thực hiện giám định tư pháp;

d) Kết luận giám định tư pháp;

đ) Trả kết luận giám định tư pháp;

e) Lập, bảo quản và lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp.
...
PHỤ LỤC
...
Mẫu số 02 Biên bản giao nhận hồ sơ, đối tượng, thông tin, tài liệu, mẫu vật giám định
...
Mẫu số 03 Biên bản mở niêm phong

Xem nội dung VB
Điều 28. Tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp
...
5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định thuộc thẩm quyền quản lý và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định.

Cơ quan thuộc Chính phủ đề nghị Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định ban hành danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định thuộc thẩm quyền quản lý và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định.
Trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định tư pháp; danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 3, 9, 10, 11, 12 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 3. Danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định tư pháp

1. Lao động, tiền lương.

2. Bảo hiểm xã hội trừ vụ việc thuộc thẩm quyền giám định của Bộ Tài chính.

3. Việc làm; An toàn, vệ sinh lao động.

4. Người có công.

5. Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

6. Lĩnh vực nội vụ khác khi có trưng cầu, yêu cầu giám định.
...
Điêu 9. Quy trình thực hiện giám định tư pháp

1. Tiếp nhận hồ sơ trưng cầu giám định tư pháp, đối tượng giám định và tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có).

2. Chuẩn bị thực hiện giám định tư pháp.

3. Thực hiện giám định tư pháp.

4. Kết luận giám định tư pháp.

Điêu 10. Tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp

1. Trường hợp trưng cầu giám định tư pháp, yêu cầu giám định tư pháp gửi đến Bộ Nội vụ, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Nội vụ phụ trách lĩnh vực được yêu cầu giám định lựa chọn người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc để trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ phân công người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc hoặc thành lập Hội đồng giám định tư pháp.

2. Trường hợp trưng cầu giám định tư pháp, yêu cầu giám định tư pháp được gửi đến tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Nội vụ

Người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Nội vụ tiếp nhận, phân công giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, người có chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp và Quy chế làm việc của đơn vị.

3. Trường hợp trưng cầu giám định tư pháp, yêu cầu giám định tư pháp được gửi đến người giám định tư pháp, người giám định tư pháp báo cáo người đứng đầu đơn vị và thực hiện giám định tư pháp theo quy định của pháp luật giám định tư pháp và Thông tư này.

4. Việc thực hiện tiếp nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định trực tiếp phải được lập thành biên bản theo quy định tại Điều 29 Luật Giám định tư pháp và quy định tại Điều này.

Điều 11. Chuẩn bị thực hiện giám định tư pháp

1. Nghiên cứu hồ sơ, thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) về vụ việc giám định tư pháp

a) Trường hợp cần phải có thêm hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung giám định thì đề nghị người trưng cầu, người yêu cầu giám định cung cấp thêm thông tin, tài liệu.

b) Trường hợp từ chối giám định theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Giám định tư pháp thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định phải thông báo cho người trưng cầu, người yêu cầu giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.

2. Nghiên cứu, áp dụng quy chuẩn chuyên môn để thực hiện giám định.

Điều 12. Thực hiện giám định tư pháp

Hội đồng giám định, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp, thực hiện giám định như sau:

1. Nghiên cứu đối tượng giám định, thông tin, tài liệu có liên quan và đối chiếu với các quy chuẩn chuyên môn để đưa ra nhận xét, đánh giá về nội dung được yêu cầu giám định.

2. Trong quá trình thực hiện giám định, nếu có nội dung mới hoặc vấn đề khác phát sinh thì người thực hiện giám định, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thực hiện giám định phải thông báo ngay bằng văn bản cho người trưng cầu giám định biết và thống nhất phương án giải quyết.

3. Xây dựng dự thảo kết luận giám định.

Xem nội dung VB
Điều 28. Tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp
...
5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định thuộc thẩm quyền quản lý và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định.

Cơ quan thuộc Chính phủ đề nghị Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định ban hành danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định thuộc thẩm quyền quản lý và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định.
Danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định tư pháp và trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 3, Điều 9, Điều 11 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định tư pháp; danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 3, 9, 10, 11, 12 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Thời hạn giám định tư pháp đối với các lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 12 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 12. Thời hạn giám định tư pháp

Thời hạn giám định tư pháp đối với các lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tối đa là 03 tháng.

Xem nội dung VB
Điều 30. Thời hạn giám định tư pháp
...
2. Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này tối đa là 02 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 03 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn thì thời hạn giám định tối đa là 04 tháng.

Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp căn cứ tính chất chuyên môn của lĩnh vực giám định, thời hạn giám định tối đa nêu tại khoản này để quy định thời hạn giám định tư pháp cho từng loại việc cụ thể.
Thời hạn giám định tư pháp thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 5. Thời hạn giám định tư pháp

1. Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Thời hạn giám định tư pháp tối đa không quá 03 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều này.

3. Thời hạn giám định tối đa là 04 tháng đối với:

a) Vụ việc giám định có 01 nội dung trưng cầu thuộc danh mục quy định tại Điều 3 Thông tư này và có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn hoặc phụ thuộc vào kết quả giám định của cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân.

b) Vụ việc giám định có 02 nội dung trưng cầu trở lên quy định tại danh mục Điều 3 Thông tư này.

4. Việc gia hạn thời hạn giám định tư pháp được thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 30. Thời hạn giám định tư pháp
...
2. Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này tối đa là 02 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 03 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn thì thời hạn giám định tối đa là 04 tháng.

Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp căn cứ tính chất chuyên môn của lĩnh vực giám định, thời hạn giám định tối đa nêu tại khoản này để quy định thời hạn giám định tư pháp cho từng loại việc cụ thể.
Thời hạn giám định tư pháp đối với các lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 12 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Thời hạn giám định tư pháp thuộc lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Hồ sơ giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 15 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 15. Thành phần hồ sơ, chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp

1. Hồ sơ giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là hồ sơ giải quyết các vụ việc trong hoạt động quản lý chuyên môn nghiệp vụ được lập, bảo quản, lưu trữ theo quy định của Luật số 105/2025/QH15, quy định pháp luật về văn thư, lưu trữ và quy định của cơ quan, đơn vị thực hiện giám định.

2. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có trách nhiệm lập hồ sơ giám định bao gồm các tài liệu chính sau đây:

a) Quyết định trưng cầu giám định, Quyết định trưng cầu giám định bổ sung (nếu có), Quyết định trưng cầu giám định lại (nếu có) và đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

b) Văn bản phân công, cử người thực hiện giám định tư pháp hoặc Quyết định thành lập Tổ giám định hoặc Quyết định thành lập Hội đồng giám định;

c) Biên bản giao, nhận hồ sơ trưng cầu, đối tượng giám định; Biên bản mở niêm phong hồ sơ, tài liệu, đồ vật (nếu có);

d) Đề cương giám định (nếu có);

đ) Văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định theo Mẫu số 07 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;

e) Kết luận giám định trước đó hoặc ý kiến, kết luận chuyên môn do tổ chức, cá nhân khác thực hiện (nếu có); Bản ảnh giám định (nếu có);

g) Hồ sơ, tài liệu, chứng từ liên quan đến việc sử dụng dịch vụ phục vụ việc giám định tư pháp (nếu có);

h) Bản kết luận giám định tư pháp (02 bản);

i) Biên bản giao nhận bản kết luận giám định; Biên bản giao trả đối tượng giám định (nếu có);

k) Tài liệu khác liên quan đến việc giám định (nếu có).

3. Người được giao chủ trì thực hiện giám định có trách nhiệm bàn giao hồ sơ giám định cho cơ quan, đơn vị lưu giữ và bảo quản theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Hồ sơ giám định của Tổ giám định tư pháp được bàn giao cho đơn vị có thành viên được giao làm Tổ trưởng Tổ giám định.

Hồ sơ giám định của Hội đồng giám định được bàn giao cho đơn vị có thành viên là Chủ tịch Hội đồng.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận bàn giao hồ sơ giám định tư pháp có trách nhiệm bảo quản, lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ, quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật hiện hành.

Việc tổ chức bàn giao, bảo quản, lưu trữ tài liệu đối với các vụ việc giám định do địa phương thực hiện tuân thủ theo quy định của địa phương và pháp luật liên quan.

4. Hồ sơ giám định tư pháp có thể được khai thác, sử dụng như sau:

a) Cơ quan, đơn vị nhận bàn giao hồ sơ giám định tư pháp quy định tại khoản 3 Điều này có trách nhiệm xuất trình hồ sơ giám định tư pháp khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

b) Người đã thực hiện giám định tư pháp được khai thác, sử dụng hồ sơ giám định tư pháp để phục vụ việc tham gia hoạt động tố tụng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 16. Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Đối với các trường hợp theo quy định pháp luật cần thiết phải thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Bộ lựa chọn giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc phù hợp với nội dung trưng cầu giám định, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ trưởng quyết định thành lập Hội đồng.

2. Thành phần, số lượng thành viên và cơ chế hoạt động của Hội đồng giám định thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật số 105/2025/QH15 và quy định của Chính phủ.
...
PHỤ LỤC
...
Mẫu số 07 VĂN BẢN Ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp

Xem nội dung VB
Điều 37. Hồ sơ giám định tư pháp
...
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm quy định chi tiết thành phần hồ sơ từng loại việc giám định và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.
Thành phần hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 15 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 15. Thành phần hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp

1. Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có trách nhiệm lập hồ sơ giám định theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này bao gồm những tài liệu sau:

a) Quyết định trưng cầu hoặc văn bản yêu cầu giám định;

b) Biên bản giao nhận hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định;

c) Quyết định phân công người giám định tư pháp hoặc văn bản cử người thực hiện giám định; Văn bản từ chối giám định (nếu có);

d) Kết luận giám định tư pháp;

đ) Tài liệu khác có liên quan đến việc giám định (nếu có).

2. Hồ sơ, tài liệu giám định tư pháp lĩnh vực nội vụ được lưu trữ, bảo quản theo quy định của pháp luật về lưu trữ tài liệu lĩnh vực nội vụ.

3. Hồ sơ giám định tư pháp do cá nhân thực hiện hoặc do tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thực hiện thì có trách nhiệm bàn giao cho cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp lưu trữ theo quy định.

Hồ sơ giám định tư pháp do nhiều tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc hoặc nhiều người giám định thực hiện được bàn giao cho đơn vị được phân công chủ trì lưu trữ theo quy định.

Hồ sơ giám định của Hội đồng giám định được bàn giao cho đơn vị có thành viên là Chủ tịch Hội đồng.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận bàn giao hồ sơ giám định tư pháp có trách nhiệm bảo quản, lưu trữ theo quy định của pháp luật lưu trữ và theo quy định tại khoản 2 Điều này.
...
PHỤ LỤC III HỒ SƠ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC

Xem nội dung VB
Điều 37. Hồ sơ giám định tư pháp
...
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm quy định chi tiết thành phần hồ sơ từng loại việc giám định và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.
Hồ sơ giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 15 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Thành phần hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 15 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 8. Chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp

1. Việc thực hiện giám định tư pháp của công chức, viên chức, người lao động trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch là hoạt động công vụ và được hưởng chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tích cực tham gia hoạt động giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giám định thì được trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

3. Người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ có trách nhiệm bảo đảm thời gian và các điều kiện cần thiết khác về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho việc thực hiện giám định của tổ chức mình. Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan đề nghị Bộ trưởng khen thưởng đối với người làm giám định của cơ quan tổ chức tích cực tham gia hoạt động giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và có thành tích xuất sắc trong hoạt động giám định.

Xem nội dung VB
Điều 41. Chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp
...
4. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố căn cứ khả năng, điều kiện thực tế của Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương quy định chế độ, chính sách khác để hỗ trợ người giám định tư pháp, thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp.
Chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Khoản 1, 3 Điều 7 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 7. Công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc

1. Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Bộ rà soát các tổ chức hành chính thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật số 105/2025/QH15 và Điều 6 Thông tư này, trình Bộ trưởng quyết định công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

Đối với các trường hợp cần hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ theo quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật số 105/2025/QH15, Vụ Pháp chế trình Bộ trưởng quyết định hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

...
3. Trình tự, thủ tục công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc, thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều 19. Công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đối với cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.
Công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Khoản 1, 3 Điều 7 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Khoản 2, 3 Điều 7 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 7. Công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc
...
2. Người đứng đầu các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ có trách nhiệm lập danh sách những người trong đơn vị đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 13 Luật số 105/2025/QH15 gửi Vụ Pháp chế tổng hợp để trình Bộ trưởng công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc.

Đối với các trường hợp cần hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 14 Luật số 105/2025/QH15, người đứng đầu các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có trách nhiệm đề xuất, gửi Vụ Pháp chế trình Bộ trưởng quyết định.

3. Trình tự, thủ tục công nhận, hủy bỏ công nhận tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc, thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều 14. Công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
Công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Khoản 2, 3 Điều 7 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Từ chối thực hiện giám định theo vụ việc trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch được hướng dẫn bởi Điều 10 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 10. Từ chối thực hiện giám định

1. Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có quyền từ chối thực hiện giám định tư pháp trong các trường hợp quy định tại Điều 38 Luật số 105/2025/QH15.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận quyết định trưng cầu, người đứng đầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải gửi văn bản từ chối cho cơ quan trưng cầu giám định và nêu rõ lý do từ chối.

Xem nội dung VB
Điều 38. Các trường hợp từ chối thực hiện giám định tư pháp, không được thực hiện giám định tư pháp

1. Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp được từ chối thực hiện giám định trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định không phù hợp với phạm vi chuyên môn của người, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định;

b) Không đủ khả năng chuyên môn nghiệp vụ, điều kiện về phương tiện, trang thiết bị cần thiết cho việc thực hiện giám định;

c) Đối tượng giám định, tài liệu liên quan được cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định sau khi đã đề nghị người trưng cầu, người yêu cầu giám định bổ sung, làm rõ nhưng không được đáp ứng;

d) Thời gian không đủ để thực hiện giám định;

đ) Tính độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định không được bảo đảm;

e) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Từ chối thực hiện giám định theo vụ việc trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch được hướng dẫn bởi Điều 10 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 13, Điều 14 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 13. Kết luận giám định tư pháp

Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải bằng văn bản thực hiện theo Mẫu số 04, Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.
...
Điều 14. Trả kết luận giám định

1. Cá nhân, tổ chức thực hiện giám định phải gửi bản kết luận giám định cho người trưng cầu, người yêu cầu giám định tư pháp sau khi ban hành và lưu hồ sơ giám định. Bản kết luận giám định được trả trực tiếp cho người trưng cầu, người yêu cầu giám định tư pháp hoặc qua đường bưu chính.

Biên bản giao nhận bản kết luận giám định tư pháp thực hiện theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Trường hợp trả trực tiếp, cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tiến hành giao trả bản kết luận giám định như sau:

a) Liên hệ, thông báo cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định đến nhận kết luận giám định và nhận lại đối tượng giám định nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;

b) Kiểm tra Giấy giới thiệu, giấy tờ tùy thân (giấy chứng minh công an nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân...) của người nhận kết luận giám định và đối tượng giám định;

c) Giao trả 02 bản kết luận giám định;

d) Kiểm tra, niêm phong, bàn giao lại đối tượng giám định (nếu có).

3. Trường hợp trả qua bưu chính, người giám định tiến hành giao trả bản kết luận giám định như sau:

a) Kiểm tra, đóng gói, niêm phong 02 bản kết luận giám định và đối tượng giám định được giao trả lại nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;

b) Gửi bản kết luận giám định và đối tượng giám định qua đường bưu chính (kèm theo Biên bản giao nhận);

c) Người nhận bản kết luận giám định ký nhận vào Biên bản giao nhận và gửi trả lại cá nhân, tổ chức thực hiện giám định.

4. Trường hợp đối tượng giám định là vật chứng của vụ án hoặc trong trường hợp cần thiết theo yêu cầu bằng văn bản của người trưng cầu giám định thì cá nhân, tổ chức thực hiện giám định giao trả lại sau khi hoàn thành việc giám định. Việc giao, nhận lại đối tượng giám định phải lập thành biên bản.
...
PHỤ LỤC
...
Mẫu số 04 Kết luận giám định tư pháp (của cá nhân giám định)
...
Mẫu số 05 Kết luận giám định tư pháp (của tổ chức giám định, Hội đồng giám định)
...
Mẫu số 06 Biên bản giao nhận bản kết luận giám định tư pháp

Xem nội dung VB
Điều 35. Kết luận giám định tư pháp

1. Kết luận giám định tư pháp phải bằng văn bản, bao gồm các nội dung sau đây:

a) Họ tên người giám định tư pháp; tên, địa chỉ tổ chức thực hiện giám định tư pháp;

b) Tên người trưng cầu giám định tư pháp; số văn bản trưng cầu giám định tư pháp hoặc họ tên người yêu cầu giám định tư pháp;

c) Thông tin xác định đối tượng giám định;

d) Thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

đ) Nội dung yêu cầu giám định;

e) Phương pháp thực hiện giám định;

g) Kết luận rõ ràng, cụ thể về nội dung chuyên môn của đối tượng giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

h) Thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định.

2. Trong trường hợp trưng cầu, yêu cầu cá nhân thực hiện giám định thì bản kết luận giám định tư pháp phải có chữ ký và ghi rõ họ tên của người giám định. Việc sử dụng chữ ký số trong kết luận giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Trường hợp trưng cầu, yêu cầu tổ chức thực hiện giám định thì ngoài chữ ký, họ tên của người giám định, người đại diện hợp pháp của tổ chức giám định còn phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định tư pháp và tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp phải chịu trách nhiệm về kết luận giám định.

Trường hợp Hội đồng giám định tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện giám định thì ngoài chữ ký, họ tên của người giám định, người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của Hội đồng giám định.

Trường hợp trưng cầu tổ chức giám định tư pháp chủ trì và tổ chức giám định tư pháp phối hợp quy định tại khoản 6 Điều 26 của Luật này, bản kết luận giám định phải có chữ ký của người giám định tư pháp, chữ ký và đóng dấu của người đứng đầu các tổ chức này.

3. Trường hợp việc giám định được thực hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự theo đúng trình tự, thủ tục do Luật này quy định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể sử dụng kết luận giám định đó như kết luận giám định tư pháp.

4. Trường hợp các kết luận giám định tư pháp khác nhau về cùng một nội dung mà các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn không thống nhất được về việc sử dụng kết luận giám định làm căn cứ để giải quyết vụ việc, vụ án thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định việc sử dụng kết luận giám định trên cơ sở các tiêu chí sau đây:

a) Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định;

b) Phương pháp, quy trình thực hiện giám định;

c) Trang thiết bị, phương tiện chuyên dụng sử dụng thực hiện giám định;

d) Sự độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định.

5. Sau khi ban hành kết luận giám định tư pháp, người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có trách nhiệm giao lại đối tượng giám định sau giám định cho người trưng cầu, yêu cầu giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người trưng cầu, yêu cầu giám định có trách nhiệm nhận lại đối tượng giám định sau giám định theo quy định của pháp luật. Việc giao, nhận lại đối tượng giám định sau giám định phải được lập thành biên bản; nội dung của biên bản thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.
Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 13 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điêu 13. Kết luận giám định tư pháp

1. Căn cứ kết quả thực hiện giám định tư pháp, Hội đồng giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp kết luận đối với từng nội dung yêu cầu giám định cụ thể.

2. Kết luận giám định bao gồm các nội dung theo quy định tại Điều 35 Luật Giám định tư pháp, theo mẫu quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.
...
PHỤ LỤC I KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
...
PHỤ LỤC II KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CỦA GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP HOẶC NGƯỜI GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC/ TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC

Xem nội dung VB
Điều 35. Kết luận giám định tư pháp

1. Kết luận giám định tư pháp phải bằng văn bản, bao gồm các nội dung sau đây:

a) Họ tên người giám định tư pháp; tên, địa chỉ tổ chức thực hiện giám định tư pháp;

b) Tên người trưng cầu giám định tư pháp; số văn bản trưng cầu giám định tư pháp hoặc họ tên người yêu cầu giám định tư pháp;

c) Thông tin xác định đối tượng giám định;

d) Thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

đ) Nội dung yêu cầu giám định;

e) Phương pháp thực hiện giám định;

g) Kết luận rõ ràng, cụ thể về nội dung chuyên môn của đối tượng giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

h) Thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định.

2. Trong trường hợp trưng cầu, yêu cầu cá nhân thực hiện giám định thì bản kết luận giám định tư pháp phải có chữ ký và ghi rõ họ tên của người giám định. Việc sử dụng chữ ký số trong kết luận giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Trường hợp trưng cầu, yêu cầu tổ chức thực hiện giám định thì ngoài chữ ký, họ tên của người giám định, người đại diện hợp pháp của tổ chức giám định còn phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định tư pháp và tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp phải chịu trách nhiệm về kết luận giám định.

Trường hợp Hội đồng giám định tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện giám định thì ngoài chữ ký, họ tên của người giám định, người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của Hội đồng giám định.

Trường hợp trưng cầu tổ chức giám định tư pháp chủ trì và tổ chức giám định tư pháp phối hợp quy định tại khoản 6 Điều 26 của Luật này, bản kết luận giám định phải có chữ ký của người giám định tư pháp, chữ ký và đóng dấu của người đứng đầu các tổ chức này.

3. Trường hợp việc giám định được thực hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự theo đúng trình tự, thủ tục do Luật này quy định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể sử dụng kết luận giám định đó như kết luận giám định tư pháp.

4. Trường hợp các kết luận giám định tư pháp khác nhau về cùng một nội dung mà các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn không thống nhất được về việc sử dụng kết luận giám định làm căn cứ để giải quyết vụ việc, vụ án thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định việc sử dụng kết luận giám định trên cơ sở các tiêu chí sau đây:

a) Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định;

b) Phương pháp, quy trình thực hiện giám định;

c) Trang thiết bị, phương tiện chuyên dụng sử dụng thực hiện giám định;

d) Sự độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định.

5. Sau khi ban hành kết luận giám định tư pháp, người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp có trách nhiệm giao lại đối tượng giám định sau giám định cho người trưng cầu, yêu cầu giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người trưng cầu, yêu cầu giám định có trách nhiệm nhận lại đối tượng giám định sau giám định theo quy định của pháp luật. Việc giao, nhận lại đối tượng giám định sau giám định phải được lập thành biên bản; nội dung của biên bản thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.
Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 13, Điều 14 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 13 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 16 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 16. Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Đối với các trường hợp theo quy định pháp luật cần thiết phải thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Bộ lựa chọn giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc phù hợp với nội dung trưng cầu giám định, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ trưởng quyết định thành lập Hội đồng.

2. Thành phần, số lượng thành viên và cơ chế hoạt động của Hội đồng giám định thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật số 105/2025/QH15 và quy định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều 33. Hội đồng giám định tư pháp

1. Các trường hợp do Hội đồng giám định tư pháp thực hiện bao gồm:

a) Có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung cần giám định mà người trưng cầu giám định quyết định tiếp tục giám định lại lần thứ hai, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Việc giám định do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thực hiện giám định tư pháp lần đầu mà tiếp tục giám định lại;

c) Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng giám định tư pháp khi nhận được trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Hội đồng giám định tư pháp gồm ít nhất 03 thành viên là những người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Hội đồng giám định hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số; trường hợp người thực hiện giám định có ý kiến khác thì được bảo lưu ý kiến trong bản kết luận giám định.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Hội đồng giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 14 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 14. Hội đồng giám định tư pháp

1. Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ có liên quan lựa chọn người giám định tư pháp phù hợp với nội dung trưng cầu giám định trình Bộ trưởng quyết định thành lập Hội đồng giám định tư pháp.

2. Số lượng thành viên, cơ chế hoạt động của Hội đồng giám định thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật Giám định tư pháp và quy định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều 33. Hội đồng giám định tư pháp

1. Các trường hợp do Hội đồng giám định tư pháp thực hiện bao gồm:

a) Có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung cần giám định mà người trưng cầu giám định quyết định tiếp tục giám định lại lần thứ hai, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Việc giám định do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thực hiện giám định tư pháp lần đầu mà tiếp tục giám định lại;

c) Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng giám định tư pháp khi nhận được trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Hội đồng giám định tư pháp gồm ít nhất 03 thành viên là những người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Hội đồng giám định hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số; trường hợp người thực hiện giám định có ý kiến khác thì được bảo lưu ý kiến trong bản kết luận giám định.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được hướng dẫn bởi Điều 16 Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Hội đồng giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 14 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LIÊN QUAN

Điều 17. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Trách nhiệm của đơn vị có giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc được giao thực hiện giám định tư pháp

a) Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, người lao động của đơn vị thực hiện giám định;

b) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và các nội dung theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp;

c) Căn cứ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, rà soát, đề xuất Vụ Pháp chế tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

d) Căn cứ điều kiện cụ thể của tổ chức, đơn vị, người đứng đầu tổ chức, đơn vị ban hành quy trình tiếp nhận, cử giám định viên tư pháp bảo đảm thực hiện đúng quy trình của pháp luật về giám định tư pháp và quy định tại Thông tư này;

đ) Yêu cầu cán bộ, công chức đơn vị thực hiện giám định bàn giao hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định trong trường hợp chuyển công tác ra khỏi đơn vị, nghỉ hưu, thôi việc theo quy định;

e) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo công tác giám định gửi Vụ Pháp chế trước ngày 15 tháng cuối của quý hoặc đột xuất để tổng hợp.

g) Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định tại Thông tư này.

2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế

a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ để trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành;

b) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ và cơ quan, đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; cấp mới, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; lập và gửi danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp để đăng tải và gửi Bộ Tư pháp theo quy định; phân công người tham gia giám định tư pháp theo vụ việc; đề xuất thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp;

d) Chủ trì thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về giám định tư pháp và các quy định của Thông tư này;

đ) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ, cơ sở đào tạo theo quy định pháp luật tổ chức khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp cho đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, cán bộ chuyên môn làm công tác giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

e) Chủ trì thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá về tình hình thực hiện công tác giám định tư pháp.

3. Trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ

Phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo quy định tại Thông tư này.

Điều 18. Trách nhiệm của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Thực hiện đúng các quy định về giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp, quy định tại Thông tư này và pháp luật liên quan.

2. Tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư pháp

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện giám định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LIÊN QUAN

Điều 17. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Trách nhiệm của đơn vị có giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc được giao thực hiện giám định tư pháp

a) Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, người lao động của đơn vị thực hiện giám định;

b) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và các nội dung theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp;

c) Căn cứ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, rà soát, đề xuất Vụ Pháp chế tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

d) Căn cứ điều kiện cụ thể của tổ chức, đơn vị, người đứng đầu tổ chức, đơn vị ban hành quy trình tiếp nhận, cử giám định viên tư pháp bảo đảm thực hiện đúng quy trình của pháp luật về giám định tư pháp và quy định tại Thông tư này;

đ) Yêu cầu cán bộ, công chức đơn vị thực hiện giám định bàn giao hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định trong trường hợp chuyển công tác ra khỏi đơn vị, nghỉ hưu, thôi việc theo quy định;

e) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo công tác giám định gửi Vụ Pháp chế trước ngày 15 tháng cuối của quý hoặc đột xuất để tổng hợp.

g) Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định tại Thông tư này.

2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế

a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ để trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành;

b) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ và cơ quan, đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; cấp mới, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; lập và gửi danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp để đăng tải và gửi Bộ Tư pháp theo quy định; phân công người tham gia giám định tư pháp theo vụ việc; đề xuất thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp;

d) Chủ trì thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về giám định tư pháp và các quy định của Thông tư này;

đ) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ, cơ sở đào tạo theo quy định pháp luật tổ chức khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp cho đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, cán bộ chuyên môn làm công tác giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

e) Chủ trì thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá về tình hình thực hiện công tác giám định tư pháp.

3. Trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ

Phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo quy định tại Thông tư này.

Điều 18. Trách nhiệm của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Thực hiện đúng các quy định về giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp, quy định tại Thông tư này và pháp luật liên quan.

2. Tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư pháp

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện giám định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LIÊN QUAN

Điều 17. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Trách nhiệm của đơn vị có giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc được giao thực hiện giám định tư pháp

a) Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, người lao động của đơn vị thực hiện giám định;

b) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và các nội dung theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp;

c) Căn cứ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, rà soát, đề xuất Vụ Pháp chế tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

d) Căn cứ điều kiện cụ thể của tổ chức, đơn vị, người đứng đầu tổ chức, đơn vị ban hành quy trình tiếp nhận, cử giám định viên tư pháp bảo đảm thực hiện đúng quy trình của pháp luật về giám định tư pháp và quy định tại Thông tư này;

đ) Yêu cầu cán bộ, công chức đơn vị thực hiện giám định bàn giao hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định trong trường hợp chuyển công tác ra khỏi đơn vị, nghỉ hưu, thôi việc theo quy định;

e) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo công tác giám định gửi Vụ Pháp chế trước ngày 15 tháng cuối của quý hoặc đột xuất để tổng hợp.

g) Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định tại Thông tư này.

2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế

a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ để trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành;

b) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ và cơ quan, đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; cấp mới, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; lập và gửi danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp để đăng tải và gửi Bộ Tư pháp theo quy định; phân công người tham gia giám định tư pháp theo vụ việc; đề xuất thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp;

d) Chủ trì thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về giám định tư pháp và các quy định của Thông tư này;

đ) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ, cơ sở đào tạo theo quy định pháp luật tổ chức khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp cho đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, cán bộ chuyên môn làm công tác giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

e) Chủ trì thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá về tình hình thực hiện công tác giám định tư pháp.

3. Trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ

Phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo quy định tại Thông tư này.

Điều 18. Trách nhiệm của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Thực hiện đúng các quy định về giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp, quy định tại Thông tư này và pháp luật liên quan.

2. Tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư pháp

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện giám định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LIÊN QUAN

Điều 17. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Trách nhiệm của đơn vị có giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc được giao thực hiện giám định tư pháp

a) Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, người lao động của đơn vị thực hiện giám định;

b) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và các nội dung theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp;

c) Căn cứ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, rà soát, đề xuất Vụ Pháp chế tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

d) Căn cứ điều kiện cụ thể của tổ chức, đơn vị, người đứng đầu tổ chức, đơn vị ban hành quy trình tiếp nhận, cử giám định viên tư pháp bảo đảm thực hiện đúng quy trình của pháp luật về giám định tư pháp và quy định tại Thông tư này;

đ) Yêu cầu cán bộ, công chức đơn vị thực hiện giám định bàn giao hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định trong trường hợp chuyển công tác ra khỏi đơn vị, nghỉ hưu, thôi việc theo quy định;

e) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo công tác giám định gửi Vụ Pháp chế trước ngày 15 tháng cuối của quý hoặc đột xuất để tổng hợp.

g) Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định tại Thông tư này.

2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế

a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ để trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành;

b) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ và cơ quan, đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; cấp mới, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; lập và gửi danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp để đăng tải và gửi Bộ Tư pháp theo quy định; phân công người tham gia giám định tư pháp theo vụ việc; đề xuất thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp;

d) Chủ trì thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về giám định tư pháp và các quy định của Thông tư này;

đ) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ, cơ sở đào tạo theo quy định pháp luật tổ chức khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp cho đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, cán bộ chuyên môn làm công tác giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

e) Chủ trì thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá về tình hình thực hiện công tác giám định tư pháp.

3. Trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ

Phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo quy định tại Thông tư này.

Điều 18. Trách nhiệm của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Thực hiện đúng các quy định về giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp, quy định tại Thông tư này và pháp luật liên quan.

2. Tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư pháp

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện giám định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LIÊN QUAN

Điều 17. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Trách nhiệm của đơn vị có giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc được giao thực hiện giám định tư pháp

a) Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, người lao động của đơn vị thực hiện giám định;

b) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và các nội dung theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp;

c) Căn cứ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, rà soát, đề xuất Vụ Pháp chế tổng hợp, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

d) Căn cứ điều kiện cụ thể của tổ chức, đơn vị, người đứng đầu tổ chức, đơn vị ban hành quy trình tiếp nhận, cử giám định viên tư pháp bảo đảm thực hiện đúng quy trình của pháp luật về giám định tư pháp và quy định tại Thông tư này;

đ) Yêu cầu cán bộ, công chức đơn vị thực hiện giám định bàn giao hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định trong trường hợp chuyển công tác ra khỏi đơn vị, nghỉ hưu, thôi việc theo quy định;

e) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo công tác giám định gửi Vụ Pháp chế trước ngày 15 tháng cuối của quý hoặc đột xuất để tổng hợp.

g) Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định tại Thông tư này.

2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế

a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ để trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành;

b) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ và cơ quan, đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; cấp mới, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; lập và gửi danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp để đăng tải và gửi Bộ Tư pháp theo quy định; phân công người tham gia giám định tư pháp theo vụ việc; đề xuất thành lập Hội đồng giám định tư pháp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp;

d) Chủ trì thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về giám định tư pháp và các quy định của Thông tư này;

đ) Chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ, cơ sở đào tạo theo quy định pháp luật tổ chức khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp cho đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, cán bộ chuyên môn làm công tác giám định trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

e) Chủ trì thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá về tình hình thực hiện công tác giám định tư pháp.

3. Trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ

Phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo quy định tại Thông tư này.

Điều 18. Trách nhiệm của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

1. Thực hiện đúng các quy định về giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp, quy định tại Thông tư này và pháp luật liên quan.

2. Tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ giám định tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư pháp

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện giám định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động giám định tư pháp được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư 04/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 4. Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp

Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp là các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, các quy trình, định mức khác được cơ quan có thẩm quyền ban hành trong lĩnh vực nội vụ.

Xem nội dung VB
Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
10. Quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định tư pháp là các quy định pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật, các loại quy trình, định mức khác do cơ quan có thẩm quyền ban hành trong từng lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành cụ thể phục vụ hoạt động giám định tư pháp.
Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
...
Điều 4. Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp

Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp là các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, các quy trình, định mức khác được cơ quan có thẩm quyền ban hành trong lĩnh vực nội vụ.

Xem nội dung VB
Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
10. Quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định tư pháp là các quy định pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật, các loại quy trình, định mức khác do cơ quan có thẩm quyền ban hành trong từng lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành cụ thể phục vụ hoạt động giám định tư pháp.
Quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ được hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư 5/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 01/05/2026