Luật Đất đai 2024

Luật Công nghệ cao 2025

Số hiệu 133/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 10/12/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Lĩnh vực khác
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 133/2025/QH15

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2025

 

LUẬT

CÔNG NGHỆ CAO

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật Công nghệ cao.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hoạt động công nghệ cao, chính sách, biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao và các hoạt động liên quan đến phát triển công nghệ chiến lược.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tích hợp các thành tựu khoa học tiên tiến, có tính đột phá, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường.

2. Công nghệ chiến lược là công nghệ có tính đột phá và lan tỏa, được Nhà nước xác định tập trung đầu tư phát triển nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

3. Công nghệ lõi là công nghệ có tính nền tảng, quyết định đến việc hình thành, phát triển và làm chủ công nghệ cao, công nghệ chiến lược; quyết định đến tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

4. Hoạt động công nghệ cao là hoạt động nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm chuyển giao, ứng dụng, thương mại hóa công nghệ cao; thu hút và phát triển nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao; phát triển hệ sinh thái công nghệ cao.

5. Sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm hoặc dịch vụ do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường.

6. Sản phẩm công nghệ chiến lược là sản phẩm hoặc dịch vụ được tạo ra từ công nghệ chiến lược, có khả năng tạo đột phá và chi phối chuỗi giá trị, thị trường hoặc có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh và tự chủ công nghệ của quốc gia.

7. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao là doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ cao hoặc cung ứng dịch vụ công nghệ cao.

8. Doanh nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, sản phẩm công nghệ cao.

9. Doanh nghiệp công nghệ chiến lược là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược, cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược.

10. Công nghiệp công nghệ cao là ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao và cung ứng dịch vụ công nghệ cao.

11. Công nghiệp chiến lược là ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược và cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược.

12. Ươm tạo công nghệ cao là quá trình hỗ trợ tạo ra, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ cao từ ý tưởng công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học hoặc từ công nghệ cao chưa hoàn thiện thông qua hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết.

13. Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao là quá trình hỗ trợ hình thành, phát triển doanh nghiệp công nghệ cao thông qua hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết.

Điều 4. Chính sách phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược

1. Nhà nước xác định phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược là đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia; áp dụng các mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách có liên quan đối với hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

2. Nhà nước thực hiện chính sách đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để chi cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.

3. Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp nhằm tạo nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vững chắc; áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển, nội địa hóa, làm chủ và ứng dụng công nghệ; hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ chiến lược.

4. Nhà nước có chính sách ưu đãi và cơ chế đặc thù để thu hút, phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, công nghệ chiến lược; bảo đảm điều kiện sống và làm việc thuận lợi nhất cho nhân lực công nghệ cao, công nghệ chiến lược làm việc tại Việt Nam.

5. Nhà nước ban hành, điều chỉnh chính sách kịp thời, minh bạch và ổn định nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, thúc đẩy hợp tác công tư, đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái công nghệ cao, công nghệ chiến lược; áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, triển khai sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Điều 5. Tiêu chí xác định công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và công nghệ chiến lược

1. Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển là công nghệ cao đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; bảo đảm quốc phòng, an ninh;

b) Phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và phù hợp với thực tiễn Việt Nam;

c) Có khả năng nghiên cứu, làm chủ, cải tiến hoặc nội địa hóa bởi tổ chức, cá nhân trong nước hoặc giữ vai trò nền tảng hình thành ngành sản xuất mới, chuỗi giá trị mới, dịch vụ mới có tiềm năng cạnh tranh quốc tế hoặc có khả năng thu hút đầu tư kèm chuyển giao công nghệ hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội các vùng đặc biệt khó khăn.

2. Công nghệ chiến lược là công nghệ đáp ứng các quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này và một hoặc một số tiêu chí sau đây:

a) Có tác động đột phá đến phát triển kinh tế - xã hội;

b) Tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài;

c) Có khả năng hình thành phương thức sản xuất mới, ngành công nghiệp mới, chuỗi giá trị mới;

d) Có khả năng hình thành từ công nghệ lõi do tổ chức, cá nhân trong nước nghiên cứu, làm chủ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan rà soát, đánh giá định kỳ, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, cập nhật Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục công nghệ chiến lược trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Điều này phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn.

Điều 6. Tiêu chí xác định sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển và sản phẩm công nghệ chiến lược

1. Sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Được tạo ra từ một hoặc nhiều công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển;

b) Có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm;

c) Có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu.

2. Sản phẩm công nghệ chiến lược đáp ứng các tiêu chí quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này và các tiêu chí sau đây:

a) Được tạo ra từ một hoặc nhiều công nghệ thuộc Danh mục công nghệ chiến lược;

b) Có tác động đột phá đến phát triển kinh tế - xã hội hoặc có vai trò quan trọng đối với quốc phòng, an ninh;

c) Tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan rà soát, đánh giá định kỳ, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, cập nhật Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Điều này phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn.

Điều 7. Hợp tác quốc tế về công nghệ cao, công nghệ chiến lược

1. Nhà nước tạo điều kiện và hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong nước hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược; tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo, chuỗi giá trị và dự án hợp tác khu vực, toàn cầu phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; mở rộng hợp tác trong phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược có tiềm năng tạo đột phá, đóng vai trò nền tảng cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

2. Nhà nước có chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao thông qua liên doanh, hợp tác nghiên cứu và phát triển, đồng phát triển và chuyển giao công nghệ có điều kiện; gắn đầu tư với nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hình thành cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo, phát triển chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam; tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài đối với công nghệ và sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược có lợi thế.

3. Việc hợp tác và lựa chọn đối tác quốc tế phải bảo đảm lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh; thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo điều ước quốc tế về khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, an ninh mạng và các hiệp định thương mại tự do mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 8. Đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược

1. Việc đánh giá hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược thực hiện theo nguyên tắc độc lập, trung thực, khách quan, công khai, minh bạch, đúng pháp luật và được triển khai trên cơ sở sau đây:

a) Hệ thống chỉ tiêu thống kê, tiêu chí đo lường, đánh giá kết quả, hiệu quả và mức độ đóng góp của hoạt động công nghệ cao và công nghệ chiến lược về giá trị gia tăng, mức độ cạnh tranh, năng suất lao động cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê, tiêu chí đo lường quy định tại điểm này;

b) Cơ sở dữ liệu thống kê, báo cáo, dữ liệu số từ Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác.

2. Kết quả đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược là căn cứ để thực hiện hoạt động sau đây:

a) Điều chỉnh kế hoạch, phương án bố trí ngân sách nhà nước cho các hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, địa phương và tổ chức liên quan;

b) Cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc tiếp tục, điều chỉnh hoặc chấm dứt chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

3. Kinh phí thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước cho hoạt động quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

4. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược thuộc ngành, lĩnh vực và địa bàn quản lý gửi Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

Điều 9. Trách nhiệm quản lý nhà nước về công nghệ cao, công nghệ chiến lược

1. Chính phủ thống nhất quản lý hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược trên phạm vi cả nước; phân bổ ngân sách, huy động nguồn lực; ban hành cơ chế, chính sách đặc thù; chỉ đạo, điều phối các Bộ, ngành, địa phương; thúc đẩy hợp tác quốc tế.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược theo quy định của Luật này; chủ trì tham mưu xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược; chủ trì, phối hợp xây dựng và trình ban hành chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược; phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng số; tổng hợp kết quả đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược; kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách; lồng ghép các nội dung và kế hoạch phát triển hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong quy hoạch, chiến lược, kế hoạch ngành; chủ trì xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát thuộc phạm vi quản lý.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược tại địa phương; triển khai chính sách phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược; phát triển hạ tầng kỹ thuật; lồng ghép mục tiêu phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; quyết định thành lập, mở rộng, điều chỉnh, quản lý khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại địa phương; hỗ trợ đầu tư, hạ tầng, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược; thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Lợi dụng hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây hậu quả xấu đến quốc phòng, an ninh, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng và môi trường.

2. Sử dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược hoặc sản phẩm, dịch vụ hình thành từ công nghệ đó để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

3. Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ cao, công nghệ chiến lược, sản phẩm và dịch vụ liên quan.

4. Giả mạo, gian dối trong việc đáp ứng tiêu chí, điều kiện để được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi về công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

5. Tiết lộ, mua, bán, chuyển giao trái pháp luật bí mật công nghệ, dữ liệu, thông tin liên quan đến công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

6. Cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Chương II

NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO, CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC

Điều 11. Nghiên cứu và phát triển công nghệ cao

1. Nhà nước thúc đẩy, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, liên kết giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp để tạo nền tảng khoa học, công nghệ cho phát triển công nghệ cao.

2. Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển quy định tại Điều 5 của Luật này bao gồm:

a) Nghiên cứu sáng tạo công nghệ cao, công nghệ lõi;

b) Nghiên cứu giải mã, làm chủ và cải tiến công nghệ cao;

c) Nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ cao.

3. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động quy định tại khoản 2 Điều này được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:

a) Ưu tiên xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ cao và từ các quỹ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

b) Được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

c) Được hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao;

d) Hỗ trợ bảo hộ, khai thác, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ cao;

đ) Được hỗ trợ kinh phí đầu tư, vận hành hoặc thuê sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

e) Việc xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đối với chi phí tài trợ, chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

4. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân thành lập, đầu tư vào trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao quy định tại khoản 2 Điều này.

5. Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao là đối tượng được hưởng ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan nếu đáp ứng tiêu chí về trung tâm nghiên cứu và phát triển theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các tiêu chí sau đây:

a) Công nghệ, sản phẩm được nghiên cứu và phát triển tại trung tâm thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Luật này;

b) Các tiêu chí về nhân lực trình độ cao; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển; cơ sở vật chất, kỹ thuật và hệ thống quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động;

c) Tuân thủ các quy định về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.

6. Việc công nhận trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao quy định tại khoản 5 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 12. Nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược

1. Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5 của Luật này bao gồm:

a) Nghiên cứu giải mã, làm chủ, cải tiến và hoàn thiện công nghệ chiến lược;

b) Nghiên cứu ứng dụng và thử nghiệm công nghệ chiến lược.

2. Tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ quy định tại khoản 3 Điều 11 của Luật này và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:

a) Được xét giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, từ các quỹ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

b) Được hưởng cơ chế đặc biệt trong giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ quy định tại Điều 31 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

3. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân thành lập, đầu tư vào trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược là đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan nếu đáp ứng tiêu chí về trung tâm nghiên cứu và phát triển theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các tiêu chí sau đây:

a) Công nghệ, sản phẩm được nghiên cứu và phát triển tại trung tâm thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Luật này;

b) Các tiêu chí về nhân lực trình độ cao; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển; cơ sở vật chất, kỹ thuật và hệ thống quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động;

c) Tuân thủ các quy định về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.

5. Việc công nhận trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược quy định tại khoản 4 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 13. Thu hút và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao

1. Nhân lực công nghệ cao bao gồm:

a) Người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ năng cao, có năng lực nghiên cứu và phát triển, làm chủ, chuyển giao hoặc thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

b) Tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học có kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

2. Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Nhà nước có chính sách hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư cho hoạt động đào tạo, thu hút và phát triển nhân lực công nghệ cao phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Chương III

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO, CÔNG NGHIỆP CHIẾN LƯỢC VÀ SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO, SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC

Điều 14. Phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược

1. Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện và hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược, tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

a) Đẩy mạnh sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược, cung ứng dịch vụ công nghệ cao và công nghệ chiến lược; xây dựng, phát triển chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành và mở rộng thị trường; thay thế nhập khẩu sản phẩm, linh kiện công nghệ lõi để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;

b) Xây dựng mạng lưới liên kết và hợp tác công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược; thúc đẩy chuyển giao công nghệ cao từ nước ngoài vào Việt Nam kèm theo cam kết nghiên cứu và phát triển nội địa; làm chủ, cải tiến và lan tỏa rộng rãi công nghệ cao trong nước và ra nước ngoài; tăng cường đầu tư các hoạt động nghiên cứu và phát triển để đổi mới, ứng dụng và thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược;

c) Phát triển mạnh mẽ công nghiệp hỗ trợ đáp ứng trực tiếp yêu cầu làm chủ, nội địa hóa phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược;

d) Phát triển nhanh và bền vững doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược;

đ) Có cơ chế đặt hàng, ưu đãi trong đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu; ưu tiên đầu tư, thuê, mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược sử dụng ngân sách nhà nước.

2. Căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch, chiến lược phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược, công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược.

Điều 15. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược

1. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Sản xuất sản phẩm công nghệ cao hoặc cung ứng dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này và thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển quy định tại khoản 3 Điều 6 của Luật này;

b) Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài.

2. Doanh nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này và các tiêu chí sau đây:

a) Sở hữu công nghệ, đồng sở hữu công nghệ, quyền sử dụng hợp pháp công nghệ hoặc có hoạt động chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật để phát triển và ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ công nghệ cao;

b) Đáp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển.

3. Doanh nghiệp công nghệ cao được phân loại thành hai nhóm, bao gồm doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 và doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2.

4. Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 là doanh nghiệp công nghệ cao đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 2 Điều này và một trong các tiêu chí sau đây:

a) Thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao;

b) Sản xuất sản phẩm công nghệ cao đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu do Chính phủ quy định theo ngành, lĩnh vực; đồng thời bảo đảm tổng mức chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hằng năm đạt tối thiểu 1% trên doanh thu thuần sau khi trừ giá trị đầu vào.

5. Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 là doanh nghiệp công nghệ cao quy định tại khoản 2 Điều này.

6. Doanh nghiệp công nghệ chiến lược là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược hoặc cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật này và thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quy định tại khoản 3 Điều 6 của Luật này;

b) Tỷ lệ phần vốn góp hoặc tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư trong nước từ 51% trở lên, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định để thu hút công nghệ chiến lược quan trọng;

c) Sở hữu hoặc đồng sở hữu công nghệ chiến lược, công nghệ lõi phục vụ sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược tại Việt Nam;

d) Đáp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển, tỷ lệ nội địa hóa, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, xác nhận, kiểm tra việc đáp ứng các tiêu chí đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược.

Điều 16. Chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược

1. Sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược và sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư trong Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

2. Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, lao động, nhà ở, xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, cấp giấy phép lao động và được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Doanh nghiệp quy định tại Điều 15 của Luật này được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ như sau:

a) Doanh nghiệp công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai, chính sách quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 12 của Luật này và chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định của pháp luật về đầu tư;

b) Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai và các chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan;

c) Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai và chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan;

d) Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

4. Doanh nghiệp quy định tại Điều 15 của Luật này được áp dụng cơ chế chấp nhận rủi ro theo quy định tại Điều 9 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chương IV

THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO, CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC

Điều 17. Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội

1. Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong ngành kinh tế, quốc phòng và an ninh, đặc biệt tại các vùng kinh tế trọng điểm, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

2. Việc ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược nhằm:

a) Nâng cao năng suất, giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế;

b) Thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức;

c) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội;

d) Thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống.

3. Hoạt động ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5 của Luật này bao gồm:

a) Sử dụng kết quả nghiên cứu về công nghệ để đổi mới công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm;

b) Sản xuất thử nghiệm sản phẩm, hoàn thiện quy trình, tiêu chuẩn chất lượng, kiểm định, chứng nhận phục vụ thương mại hóa;

c) Làm chủ, thích nghi công nghệ cao, công nghệ chiến lược nhận chuyển giao từ nước ngoài.

4. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược quy định tại khoản 3 Điều này được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:

a) Được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo các quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai và chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan;

b) Phát triển thị trường và hệ sinh thái công nghệ cao, công nghệ chiến lược; có cơ chế đặt hàng, ưu đãi trong đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu; ưu tiên đầu tư, thuê, mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược sử dụng ngân sách nhà nước;

c) Được hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực, nâng cao kỹ năng số, quản trị công nghệ cho doanh nghiệp và người lao động theo quy định của pháp luật có liên quan.

5. Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, biện pháp khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược phù hợp với ngành, lĩnh vực, địa bàn trong phạm vi quản lý.

Điều 18. Thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao

1. Hoạt động chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao tuân thủ quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường, an ninh quốc gia, các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Nhà nước hỗ trợ tổ chức, cá nhân nhập khẩu công nghệ cao, máy móc, thiết bị công nghệ cao mà trong nước chưa sản xuất được để thực hiện dự án quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; ưu tiên các hoạt động nhập khẩu gắn liền với mục tiêu giải mã, nội địa hóa và làm chủ công nghệ.

3. Nhà nước khuyến khích thành lập và phát triển các tổ chức trung gian, hạ tầng hỗ trợ chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, bao gồm:

a) Trung tâm xúc tiến, tư vấn, môi giới công nghệ;

b) Sàn giao dịch công nghệ, nền tảng số kết nối cung, cầu trong nước và quốc tế;

c) Cơ sở ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thử nghiệm phục vụ thương mại hóa công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao.

4. Ngoài các ưu đãi, hỗ trợ quy định tại Điều 17 của Luật này, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cụ thể như sau:

a) Hỗ trợ thử nghiệm, chứng nhận, giám định công nghệ và sản phẩm;

b) Hỗ trợ chi phí tìm kiếm, kết nối thị trường và xúc tiến thương mại cho sản phẩm công nghệ cao ở trong nước và quốc tế.

5. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, công nghệ chiến lược tham gia chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Điều 19. Thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược

1. Tổ chức, cá nhân chuyển giao, thương mại hóa công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ quy định tại Điều 18 của Luật này và được hưởng các chính sách đặc thù sau đây:

a) Hỗ trợ một phần chi phí thử nghiệm công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

b) Kết nối cung, cầu công nghệ giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước;

c) Ưu tiên xem xét, bố trí trong chương trình, dự án đầu tư công và các cơ chế kích cầu theo quy định của pháp luật khi đáp ứng yêu cầu về an toàn, hiệu quả.

2. Nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng để hỗ trợ thương mại hóa công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, bao gồm:

a) Hệ thống cơ sở dữ liệu số về công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

b) Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho ứng dụng công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược mới theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

3. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tại Việt Nam thực hiện mua, bán, sáp nhập, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật. Hoạt động này được hưởng chính sách hỗ trợ về thẩm định công nghệ, tư vấn pháp lý và ưu đãi thuế đối với phần giá trị công nghệ tiếp nhận theo quy định của Chính phủ.

Chương V

PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ CAO

Điều 20. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ cao và cơ sở hạ tầng kỹ thuật

1. Hệ sinh thái công nghệ cao là tập hợp các chủ thể có tương tác lẫn nhau phục vụ phát triển công nghệ cao, trong đó doanh nghiệp công nghệ cao giữ vai trò trung tâm, các thành phần chính là cơ quan quản lý, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, tổ chức hỗ trợ, người sử dụng và một số thành phần thiết yếu liên quan.

2. Nhà nước có chính sách thúc đẩy hình thành và phát triển bền vững hệ sinh thái công nghệ cao, bảo đảm liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái; ban hành cơ chế, chính sách kịp thời để hỗ trợ, điều phối và phát triển các thành phần của hệ sinh thái công nghệ cao.

3. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và công nghệ chiến lược, bao gồm:

a) Khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

b) Trung tâm nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm công nghệ cao, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

c) Phòng thí nghiệm dùng chung, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ phục vụ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, thương mại hóa công nghệ cao;

d) Trung tâm nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm công nghệ chiến lược, phòng thí nghiệm quốc gia phục vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược.

4. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tư xây dựng một số khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, phòng thí nghiệm quốc gia về công nghệ chiến lược, trung tâm dữ liệu trong khu công nghệ cao.

5. Tổ chức, cá nhân đầu tư, khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật quy định tại khoản 3 Điều này được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về thuế, pháp luật về đầu tư và chính sách ưu đãi về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhà nước khuyến khích hợp tác công tư trong đầu tư, quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và chia sẻ lợi ích, rủi ro.

6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí quỹ đất, giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng kết nối thiết yếu và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân đầu tư, khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại địa phương để phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

7. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật do Nhà nước đầu tư theo quy định tại khoản 4 Điều này được quản lý, khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Điều 21. Các tổ chức ươm tạo, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược

1. Cơ sở ươm tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược là tổ chức cung cấp hạ tầng, nguồn lực và dịch vụ cần thiết để hoàn thiện công nghệ cao, công nghệ chiến lược hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược trong giai đoạn ươm tạo.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định tiêu chí, điều kiện đối với cơ sở ươm tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược.

2. Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo về công nghệ cao, công nghệ chiến lược được xác định theo tiêu chí quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

3. Doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ chiến lược là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược mới thành lập nhằm phát triển sản phẩm, dịch vụ dựa trên công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, Danh mục công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5 của Luật này, có tiềm năng tăng trưởng nhanh, khả năng đổi mới sáng tạo và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

4. Doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ chiến lược phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Có công nghệ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có quyền sử dụng hợp pháp;

b) Có hoạt động nghiên cứu và phát triển làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo;

c) Có mô hình kinh doanh thể hiện tiềm năng tăng trưởng nhanh, khả năng mở rộng thị trường và hội nhập quốc tế;

d) Thực hiện quản trị doanh nghiệp minh bạch và tuân thủ pháp luật.

5. Nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở ươm tạo, tổ chức và cá nhân thực hiện dự án ươm tạo tại cơ sở ươm tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ chiến lược, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo về công nghệ cao, công nghệ chiến lược được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:

a) Nhận tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn từ các quỹ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

b) Hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng đầu tư và đất đai theo quy định của pháp luật;

c) Được hỗ trợ hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm dùng chung và dịch vụ tư vấn pháp lý, sở hữu trí tuệ;

d) Được hỗ trợ xúc tiến thương mại, phát triển thị trường trong nước và quốc tế, tham gia hội chợ, triển lãm, mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.

6. Nhà nước đầu tư hoặc tham gia đầu tư xây dựng cơ sở ươm tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo về công nghệ cao, công nghệ chiến lược có ý nghĩa quan trọng.

7. Chính phủ quy định chi tiết khoản 4 Điều này.

Điều 22. Khu công nghệ cao

1. Khu công nghệ cao là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược, hình thành hệ sinh thái công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội.

2. Khu công nghệ cao có các nhiệm vụ sau đây:

a) Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

b) Sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược được hình thành từ kết quả nghiên cứu và phát triển được thực hiện tại khu công nghệ cao;

c) Thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, sản phẩm và chính sách mới về công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

d) Hỗ trợ ươm tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

đ) Tổ chức hoặc liên kết tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp về công nghệ cao, công nghệ chiến lược; thu hút nguồn nhân lực trình độ cao trong nước và nước ngoài phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

e) Tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, triển lãm, kết nối cung cầu công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

g) Cung cấp hạ tầng số, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng công nghệ đồng bộ; cung cấp các dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, dịch vụ tài chính và một số dịch vụ khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động của khu công nghệ cao;

h) Kết nối và hình thành hệ sinh thái công nghệ cao để thúc đẩy và lan tỏa đổi mới sáng tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

3. Điều kiện thành lập khu công nghệ cao bao gồm:

a) Phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của địa phương, vùng và quốc gia;

b) Có khả năng kết nối giao thông, kết nối hạ tầng kỹ thuật; khả năng kết nối với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, sản xuất có trình độ cao về công nghệ và các khu vực lân cận có nhà ở, hạ tầng xã hội chất lượng cao để bảo đảm phục vụ đời sống chuyên gia, người lao động làm việc trong khu công nghệ cao và hình thành hệ sinh thái công nghệ cao, đô thị công nghệ cao;

c) Có phương án khả thi về đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, các hạ tầng công nghệ phục vụ phát triển một số ngành công nghệ cao được ưu tiên và các công trình hạ tầng kết nối khu công nghệ cao với khu vực xung quanh;

d) Có phương án khả thi về nguồn lực để đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong khu công nghệ cao;

đ) Có phương án khả thi về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ chế quản lý linh hoạt, hiệu quả;

e) Có quy mô diện tích phù hợp và bảo đảm các điều kiện về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, cơ sở lưu trú và công trình hạ tầng xã hội phục vụ chuyên gia, nhà khoa học, người lao động làm việc trong khu công nghệ cao với tỷ lệ phù hợp bảo đảm phục vụ nhu cầu người lao động làm việc trong khu công nghệ cao sau khi đã cân đối với khả năng cung cấp hạ tầng xã hội của khu vực lân cận.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, mở rộng, điều chỉnh khu công nghệ cao tại địa phương.

5. Chính sách phát triển khu công nghệ cao bao gồm:

a) Khu công nghệ cao được hưởng ưu đãi đầu tư áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan;

b) Vốn đầu tư xây dựng và phát triển khu công nghệ cao bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân và các nguồn vốn hợp pháp khác;

c) Nhà nước ưu tiên hỗ trợ vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước và khuyến khích nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ tại khu công nghệ cao; nhà ở, công trình hạ tầng xã hội xung quanh khu công nghệ cao và các công trình hạ tầng kết nối khu công nghệ cao với khu vực xung quanh;

d) Nhà đầu tư và các tổ chức, cá nhân hoạt động trong khu công nghệ cao được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư về đất đai, thuế và các chính sách ưu tiên về thủ tục hành chính về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thuế, hải quan và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật;

đ) Nhà đầu tư và các tổ chức, cá nhân hoạt động trong khu công nghệ cao được ưu tiên tham gia các chương trình, dự án thử nghiệm có kiểm soát, tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm và các chương trình hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược, chuyển giao công nghệ.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định về mở rộng, điều chỉnh, đầu tư xây dựng khu công nghệ cao; các hoạt động công nghệ cao và nguyên tắc, tiêu chí đối với các dự án đầu tư thực hiện hoạt động công nghệ cao trong khu công nghệ cao; cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước đối với khu công nghệ cao.

Điều 23. Đô thị công nghệ cao

1. Đô thị công nghệ cao là đô thị được hình thành và phát triển trên cơ sở hệ sinh thái công nghệ cao, trong đó khu công nghệ cao, các tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm.

2. Đô thị công nghệ cao ngoài việc đáp ứng các tiêu chí của đô thị theo quy định của pháp luật còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có khu công nghệ cao và tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm phát triển, được kết nối đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và hạ tầng xã hội với các khu vực phụ cận;

b) Có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và hạ tầng công nghệ phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

c) Có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của tổ chức nghiên cứu, cơ sở ươm tạo, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và trung tâm chuyển giao công nghệ;

d) Có môi trường sống xanh, an toàn và phát triển bền vững; chất lượng sống được nâng cao thông qua hệ thống dịch vụ thông minh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

đ) Có cơ chế, chính sách và khung pháp lý thuận lợi cho phát triển, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược mới, mô hình quản trị đô thị tiên tiến;

e) Đô thị công nghệ cao phải bảo đảm liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu, tổ chức hỗ trợ và doanh nghiệp công nghệ cao; xác định tỷ lệ diện tích đất dành cho các chức năng phù hợp, ưu tiên tập trung cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với phát triển khu công nghệ cao.

3. Ưu tiên đầu tư, hỗ trợ và khuyến khích hợp tác công tư để phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, hạ tầng xã hội và kết nối vùng phục vụ phát triển đô thị công nghệ cao; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển đô thị công nghệ cao.

4. Căn cứ yêu cầu quản lý và điều kiện thực tiễn, Chính phủ quy định về phát triển đô thị công nghệ cao.

Điều 24. Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

1. Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nơi tập trung hoạt động nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử nghiệm, thử nghiệm, trình diễn, chuyển giao, ươm tạo và hỗ trợ đào tạo nhân lực công nghệ cao trong nông nghiệp.

2. Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có các nhiệm vụ sau đây:

a) Thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, phát triển và sản xuất thử nghiệm công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong nông nghiệp;

b) Thử nghiệm có kiểm soát về ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong nông nghiệp và các chính sách về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

c) Thử nghiệm, trình diễn, tổ chức hội chợ, triển lãm các sản phẩm, kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong nông nghiệp, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

d) Hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong nông nghiệp.

3. Điều kiện thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bao gồm:

a) Phù hợp với quy hoạch và định hướng về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

b) Có khả năng kết nối giao thông, kết nối hạ tầng kỹ thuật; khả năng kết nối với cơ sở đào tạo, nghiên cứu, sản xuất có trình độ cao về nông nghiệp; có điều kiện tự nhiên thích hợp với loại hình sản phẩm nông nghiệp nghiên cứu;

c) Có quy mô diện tích phù hợp; có tính khả thi về đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm các điều kiện về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường;

d) Có hạ tầng số, hạ tầng chuyên ngành nông nghiệp, cơ sở lưu trú phục vụ chuyên gia, nhà khoa học, người lao động làm việc trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với tỷ lệ phù hợp bảo đảm phục vụ nhu cầu người lao động làm việc trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

đ) Có phương án khả thi về nguồn lực để đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, đổi mới sáng tạo, ươm tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu;

e) Có phương án khả thi về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ chế quản lý linh hoạt, hiệu quả.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, mở rộng, điều chỉnh khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại địa phương.

5. Chính sách phát triển khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bao gồm:

a) Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi đầu tư áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan;

b) Vốn đầu tư xây dựng và phát triển khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân và các nguồn vốn hợp pháp khác;

c) Các hoạt động tại khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được thực hiện theo cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước tương tự như khu công nghệ cao, trừ các nội dung không phù hợp với đặc thù nông nghiệp;

d) Nhà nước ưu tiên hỗ trợ vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước và khuyến khích nhà đầu tư, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, công trình hạ tầng kết nối khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với khu vực xung quanh và các hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong nông nghiệp;

đ) Nhà đầu tư và tổ chức, cá nhân hoạt động trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư về đất đai, thuế và các chính sách ưu tiên về thủ tục hành chính về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thuế, hải quan và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật;

e) Nhà đầu tư và tổ chức, cá nhân hoạt động trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được ưu tiên tham gia các chương trình, dự án thử nghiệm có kiểm soát, tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm và các chương trình hỗ trợ hoạt động nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định về mở rộng, điều chỉnh, đầu tư xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; hoạt động tại khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tiêu chí đối với dự án đầu tư thực hiện hoạt động công nghệ cao trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước đối với khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 25. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều, khoản của các luật có liên quan

1. Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1 Điều 12 của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 như sau:

“e) Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế;”.

2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 67 như sau:

“1. Sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được sản xuất bởi doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao; sản phẩm, hàng hóa từ kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt; sản phẩm, hàng hóa từ kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước được ưu đãi theo quy định của pháp luật về đấu thầu.”;

b) Bãi bỏ khoản 1 Điều 71.

3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 57/2024/QH15, Luật số 90/2025/QH15Luật số 116/2025/QH15 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 1 Điều 10 như sau:

“g) Nhà thầu là: cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền công nhận; trung tâm đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp khoa học và công nghệ; tổ chức khoa học và công nghệ; trung tâm nghiên cứu và phát triển; doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về công nghệ cao và pháp luật khác có liên quan;”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm i khoản 1 Điều 10 như sau:

“i) Sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được sản xuất bởi doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo pháp luật về công nghệ cao; sản phẩm, hàng hóa từ kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt, sản phẩm, hàng hóa từ kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; sản phẩm, dịch vụ công nghệ số đáp ứng quy định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.”;

c) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 4 Điều 10 như sau:

“c) Nhà đầu tư là: doanh nghiệp khoa học và công nghệ; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền công nhận; trung tâm đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; nhà đầu tư nước ngoài có cam kết chuyển giao công nghệ cho nhà đầu tư, đối tác trong nước.”;

d) Sửa đổi, bổ sung điểm a1 khoản 2 Điều 62 như sau:

“a1) Các nhà đầu tư sau đây không phải chứng minh khả năng thu xếp vốn chủ sở hữu: doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao;”.

4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2022/QH15, Luật số 28/2023/QH15, Luật số 35/2024/QH15, Luật số 57/2024/QH15Luật số 90/2025/QH15 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 3 Điều 11 như sau:

“c) Dự án PPP ứng dụng công nghệ chiến lược, công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; ứng dụng công nghệ mới theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ;”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 21 như sau:

“d) Dự án PPP khoa học, công nghệ, dự án ứng dụng công nghệ chiến lược, công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; ứng dụng công nghệ mới theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 1a Điều 42 như sau:

“1a. Các nhà đầu tư sau đây không phải chứng minh khả năng thu xếp vốn chủ sở hữu: doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.”;

d) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2a Điều 69 như sau:

“c) Dự án PPP khoa học, công nghệ; dự án có yêu cầu tiếp nhận chuyển giao công nghệ chiến lược, công nghệ cao, công nghệ mới, tiên tiến từ nhà đầu tư tư nhân và cần sử dụng vốn nhà nước cao hơn mức quy định tại khoản 2 Điều này để bảo đảm tính khả thi về tài chính của dự án.”.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 42 của Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 71/2014/QH13, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 07/2022/QH15Luật số 90/2025/QH15 như sau:

“2. Doanh nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công bố là doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp trong công nghiệp bán dẫn được công nhận áp dụng chế độ ưu tiên khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này.”.

6. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 21 Điều 16 của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 90/2025/QH15 như sau:

“c) Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất, nghiên cứu của tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 05 năm kể từ khi bắt đầu nghiên cứu, sản xuất;”.

7. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15Luật số 116/2025/QH15 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 12 như sau:

“a) Đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, công nghệ chiến lược; ươm tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược theo quy định của Luật Công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 12 như sau:

“e) Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;”;

c) Bổ sung điểm e1 và điểm e2 vào sau điểm e khoản 2 Điều 12 như sau:

“e1) Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, Doanh nghiệp công nghệ chiến lược, Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 theo quy định của pháp luật về công nghệ cao;

e2) Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao;”;

d) Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 13 như sau:

“1a. Áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm đối với thu nhập của doanh nghiệp quy định tại điểm e1 khoản 2 Điều 12 của Luật này.”;

đ) Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 4 Điều 13 như sau:

“d) Thu nhập của doanh nghiệp quy định tại điểm e2 khoản 2 Điều 12 của Luật này.”;

e) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 13 như sau:

“7. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới của doanh nghiệp quy định tại Điều này (bao gồm cả dự án quy định tại điểm g và điểm h khoản 2 Điều 12 của Luật này) được tính từ năm đầu tiên dự án đầu tư mới của doanh nghiệp có doanh thu.

Trường hợp doanh nghiệp được cấp văn bản xác nhận doanh nghiệp công nghệ chiến lược, văn bản xác nhận doanh nghiệp công nghệ cao, văn bản xác nhận doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Giấy xác nhận ưu đãi dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sau thời điểm phát sinh doanh thu thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính kể từ năm được cấp văn bản xác nhận, Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi.

Trường hợp doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận nhiều lần thì quy định tại khoản này áp dụng đối với Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận được cấp lần đầu tiên.”;

g) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 14 như sau:

“a) Thu nhập của doanh nghiệp quy định tại khoản 1khoản 1a Điều 13 của Luật này;”;

h) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 như sau:

“4. Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư, trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong 03 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ 04.

Trường hợp doanh nghiệp được cấp văn bản xác nhận doanh nghiệp công nghệ chiến lược, văn bản xác nhận doanh nghiệp công nghệ cao, văn bản xác nhận doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Giấy xác nhận ưu đãi dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sau thời điểm phát sinh thu nhập thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính kể từ năm được cấp Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận. Trường hợp tại năm cấp Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận mà chưa có thu nhập thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính kể từ năm đầu tiên có thu nhập, nếu trong 03 năm đầu kể từ năm được cấp Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi mà doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế thì thời gian miễn thuế, giảm thuế tính từ năm thứ 04 kể từ năm cấp Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận.

Trường hợp doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận nhiều lần thì quy định tại khoản này áp dụng đối với Giấy chứng nhận, Giấy xác nhận ưu đãi, văn bản xác nhận được cấp lần đầu tiên.”;

i) Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 20 như sau:

“1a. Tổ chức, doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, Giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc Giấy chứng nhận hoạt động ứng dụng công nghệ cao hoặc Giấy chứng nhận cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận, cho đến khi hết thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận.”;

k) Bỏ cụm từ “doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao,” tại điểm c khoản 4 Điều 12.

Điều 26. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

2. Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật số 67/2014/QH13, Luật số 71/2025/QH15Luật số 93/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm a và điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 27 của Luật này.

Điều 27. Quy định chuyển tiếp

1. Các loại giấy chứng nhận được cấp theo quy định tại Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 còn thời hạn sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục có hiệu lực đến hết thời hạn theo giấy chứng nhận.

2. Đối với hồ sơ hợp lệ đề nghị cấp các loại giấy chứng nhận theo quy định tại Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận từ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

3. Quy định chuyển tiếp đối với các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành:

a) Được tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ đã xác định theo quy định tại Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12, quyết định thành lập và quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng của cấp có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Trường hợp điều chỉnh toàn bộ hoặc một phần theo các nhiệm vụ quy định tại Luật này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định nội dung điều chỉnh theo quy định của Luật này;

b) Nhà đầu tư đã được giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất được tiếp tục sử dụng đất cho mục tiêu sản xuất. Trường hợp có nguyện vọng chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư sang mục tiêu nghiên cứu và phát triển, ươm tạo công nghệ cao hoặc cung ứng dịch vụ công nghệ cao đáp ứng tiêu chí tương ứng tại khu công nghệ cao hoặc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhà đầu tư được tiếp tục sử dụng đất đã được giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư theo mục tiêu chuyển đổi. Chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư thực hiện theo từng mục tiêu của dự án đầu tư sau khi chuyển đổi;

c) Hồ sơ hợp lệ đề nghị thành lập khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì áp dụng theo quy định của Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

4. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

0
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Công nghệ cao 2025
Tải văn bản gốc Luật Công nghệ cao 2025

THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness

Law no.: 133/2025/QH15

Hanoi, December 10, 2025

 

LAW

ON HIGH TECHNOLOGY

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly hereby issues the Law on High technology.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Law provides for hi-tech activities, policies and measures for encouraging and promoting hi-tech activities and activities related to the development of strategic technologies.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Law applies to Vietnamese organizations and individuals, overseas Vietnamese and foreign organizations and individuals participating in or related to hi-tech and strategic technology activities in Vietnam.

Article 3. Term interpretation

For the purpose of this Law, the terms below shall be construed as follows:

1. High technology means technology that has a high scientific research and technological development content; is integrated into advanced scientific achievements that have breakthrough characteristics, create environmental friendly products and services with superior quality and high added value.

2. Strategic technology means breakthrough and diffusive technology determined by the State for focused investment and development to enhance technological autonomy capacity, create national competitive advantages, ensure national defense and security, and promote sustainable socio-economic development.

3. Core technology means foundational technology that determines the formation, development, and mastery of high technology and strategic technology; it determines the features, quality, and added value of hi-tech and strategic technology products.

4. Hi-tech activities refer to research, development, experimentation, transfer, application, commercialization of high technology; attraction and development of hi-tech human resources; incubation of high technology and hi-tech enterprises; production of hi-tech products and provision of hi-tech services; development of hi-tech industry; and development of hi-tech ecosystems.

5. Hi-tech products refer to environmental friendly products or services created by high technology, possessing superior quality and features, high added value.

6. Strategic technology products refer to products or services created from strategic technology, capable of generating breakthroughs and dominating value chains or markets, or having special importance for national defense, security, and technological autonomy of the country.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

8. Hi-tech enterprises refer to enterprises that produce hi-tech products, provide hi-tech services, or conduct hi-tech research and development.

9. Strategic technology enterprises refer to enterprises that produce strategic technology products, provide strategic technology services, and conduct research and development of strategic technology and strategic technology products.

10. Hi-tech industry means the industry that produces hi-tech products and provides hi-tech services.

11. Strategic industry means the industry that produces strategic technology products and provides strategic technology services.

12. Hi-tech incubation means the process of creating, improving, and commercializing a high technology from technological ideas, scientific research results, or an incomplete high technology through support for necessary technical infrastructure, resources, and services.

13. Hi-tech enterprise incubation means a process of supporting the establishment and development of a hi-tech enterprise through support for necessary technical infrastructure, resources, and services.

Article 4. Policies for the development of high technology and strategic technology

1. The State determines that the development of high technology and strategic technology is a strategic breakthrough for rapid and sustainable socio-economic development, ensuring national defense, security, and improving national technological autonomy; and shall apply the most advantageous incentives according to laws on investment, taxation, land use, and related policies for hi-tech and strategic technology activities.

2. The State shall implement focused investment policies; prioritize allocation of state budget for science, technology, and innovation to fund research, development, experimentation, application, and commercialization of high technology and strategic technology; invest in technical infrastructure, digital infrastructure, and technology infrastructure to satisfy the requirements for digital transformation, green transformation, improvement of productivity, quality, added value, and competitiveness of products and services.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. The State shall have preferential policies and special mechanisms to attract and develop hi-tech and strategic technology human resources; ensure the best living and working conditions for hi-tech and strategic technology personnel working in Vietnam.

5. The State shall issue, adjust policies in a timely, transparent, and stable manner to satisfy development requirements, promote public-private partnerships, innovation, and the development of hi-tech and strategic technology ecosystems; apply regulatory sandbox to promote innovation and deployment of hi-tech and strategic technology products and services; intensify dissemination and popularization of policies and laws on high technology and strategic technology.

Article 5. Criteria for determining high technologies prioritized for investment in development and strategic technologies

1. High technology prioritized for investment in development must satisfy the following criteria:

a) Play an important role in achieving national development objectives, improving total factor productivity (TFP), and transforming growth models; ensure national defense and security;

b) Align with the national science, technology, and innovation development orientations and be suitable for practical conditions of Vietnam;

c) Be researched, mastered, improved, or localized by domestic organizations or individuals; play the role of the foundation for new manufacturing industries, new value chains, or new services with international competitive potential, have the ability to attract investment accompanied by technology transfer or contribute to socio-economic development of extremely disadvantaged regions.

2. Strategic technology is technology that meets the requirements in points a and b of Clause 1 of this Article and one or more of the following criteria:

a) Have a breakthrough impact on socio-economic development;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Be used to form new production methods, new industries, or new value chains;

d) Be formed from core technology researched and mastered by domestic organizations or individuals to create strategic technology products.

3. The Ministry of Science and Technology shall take charge and cooperate with relevant ministries and ministerial-level agencies in periodically reviewing, assessing, and submitting to the Prime Minister for issuance and update the List of high technologies prioritized for investment in development and the List of strategic technologies based on the criteria prescribed in this Article, suitable to the socio-economic development situation in each period.

Article 6. Criteria for determining encouraged hi-tech products and strategic technology products

1. Encouraged hi-tech products must satisfy the following criteria:

a) Be created from one or more technologies listed in the List of high technologies prioritized for investment in development;

b) Have a high proportion of added value in the product value structure;

c) Be exportable or able to substitute imports.

2. Strategic technology products must satisfy the criteria in points b and c of Clause 1 of this Article and the following criteria:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Have a breakthrough impact on socio-economic development or play an important role in national defense and security;

b) Create national competitive advantages;

3. The Ministry of Science and Technology shall take charge and cooperate with relevant ministries and ministerial-level agencies in periodically reviewing, assessing, and submitting to the Prime Minister for issuance and update the List of encouraged hi-tech products and the List of strategic technology products based on the criteria prescribed in this Article, suitable to the socio-economic development situation in each period.

Article 7. International cooperation in high technology and strategic technology

1. The State shall enable and support domestic organizations and individuals’ international cooperation in research and development, transfer, application, and commercialization of high technology and strategic technology; participation in innovation networks, value chains, and regional and global cooperation projects in accordance with Vietnamese law and international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory; expansion of cooperation in developing high technology and strategic technology with breakthrough potential, serving as a foundation for digital transformation, green transformation, sustainable development, ensuring national defense, security, and improving national technological autonomy.

2. The State shall have preferential policies to attract high-quality foreign investment through joint ventures, cooperation in research and development, co-development, and transfer of conditional technology; link investment with improvement of localization rates, establishment of  research and development facilities, training, development of supply chains, and improvement of Vietnamese enterprises’ technology mastery capacity; enable Vietnamese enterprise' export and outward investment in technologies and hi-tech and strategic technology products with advantages.

3. International cooperation and partner selection must ensure national interests, defense, and security; fully comply with rights and obligations under international treaties on science, technology, intellectual property, technology transfer, cybersecurity, and free trade agreements to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

Article 8. Assessment of the effectiveness of hi-tech and strategic technology activities

1. The assessment of state budget investment effectiveness for hi-tech and strategic technology activities shall be conducted in an independent, honest, objective, public, transparent, lawful, and in accordance with the following grounds:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The Ministry of Science and Technology shall issue the system of statistical indicators and measurement criteria mentioned in this clause;

b) Statistical databases, reports, digital data from the National science, technology and innovation management digital platform, the National information system of science, technology and innovation, and other lawful data sources.

2. The results of the assessment of the effectiveness of hi-tech and strategic technology activities shall be used as grounds for the following activities:

a) Adjusting plans and state budget allocations for hi-tech and strategic technology activities of ministries, ministerial agencies, government agencies, other central and local agencies, and related organizations;

b) Competent authorities shall consider, decide to continue, adjust, or terminate support and incentive policies for organizations and individuals participating in hi-tech and strategic technology activities.

3. The funding for assessment the effectiveness of hi-tech and strategic technology activities shall be allocated in the state budget estimate for science, technology, and innovation management activities.

4. Based on socio-economic development conditions in each period, ministries, ministerial agencies, government agencies, and provincial People's Committees shall assess the effectiveness of hi-tech and strategic technology activities under their management and submit reports to the Ministry of Science and Technology for submission of consolidated reports to the Government.

Article 9. Responsibilities for state management of hi-tech and strategic technology

1. The Government shall have unified management of hi-tech and strategic technology activities nationwide; allocate budgets, mobilize resources; issue special mechanisms and policies; direct and coordinate ministries, central and local authorities; and promote international cooperation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Ministries and ministerial agencies, within their jurisdiction, are responsible for state management of hi-tech and strategic technology activities in their assigned fields; integrate content and plans for development of hi-tech and strategic technology activities into sectoral planning, strategies, and plans; take charge in development of regulatory sandbox under their management.

4. Provincial People's Committees, within their jurisdiction are responsible for state management of hi-tech and strategic technology activities in the provinces/cities; implement policies for hi-tech and strategic technology development; develop technical infrastructure; integrate hi-tech and strategic technology development objectives into local socio-economic development strategies; decide the establishment, expansion, adjustment, and management of hi-tech parks and hi-tech agricultural zones in the provinces/cities; support investment, infrastructure, enterprises, organizations, and individuals participating in hi-tech and strategic technology activities; carry out inspection, assessment, and submit reports on implementation results as prescribed by law.

Article 10. Prohibited acts

1. Taking advantage of hi-tech and strategic technology activities to infringe on national interests, legitimate rights and interests of organizations and individuals; causing adverse consequences to national defense, security, social ethics, public health, and the environment.

2. Using high technology, strategic technology, or products and services derived from such technology to commit acts against the law.

3. Infringing on intellectual property rights related to high technology, strategic technology, relevant products and services.

4. Committing fraudulent or deceitful acts to be considered as meeting criteria and conditions for support and preferential policies for high technology and strategic technology.

5. Illegally disclosing, buying, selling, or transferring technological secrets, data, or information related to high technology or strategic technology.

6. Illegally obstructing or interfering with hi-tech and strategic technology activities.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

RESEARCH AND DEVELOPMENT OF HIGH TECHNOLOGY AND STRATEGIC TECHNOLOGY

Article 11. Research and development of high technology

1. The State shall promote and support hi-tech research and development (R&D); establish strong research groups and connections between research institutes, higher education institutions, and enterprises to create a scientific and technological foundation for the development of high technology.

2. Hi-tech R&D activities included in the List of high technologies prioritized for investment in development specified in Article 5 hereof shall include:

a) Creative research on high technology and core technology;

b) Research to decode, master, and improve high technology;

c) Research on application, experimentation, and completion of high technology.

3. Organizations and individuals conducting activities specified in Clause 2 of this Article shall be entitled to preferential policies and support according to laws on science, technology, and innovation, and the following preferential policies and support:

a) Receive priority when being considered for funding and support from hi-tech science, technology, and innovation programs and funds regulated by law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Receive training to improve hi-tech R&D capacity;

d) Receive support in protection, use, and commercialization of intellectual property rights related to high technology;

dd) Receive financial support for investment, operation, or renting of shared laboratories and hi-tech research facilities in accordance with the law on science, technology, and innovation;

e) Determination of taxable income of enterprises regarding expenditures for financial support and expenditures for hi-tech R&D shall comply with laws on corporate income tax.

4. The State shall have policies to support organizations and individuals in establishing and investing in hi-tech R&D centers to carry out hi-tech R&D activities as specified in Clause 2 of this Article.

5. Hi-tech R&D centers shall be entitled to the most advantageous incentives and support under laws on investment, tax, land, and other relevant laws if they satisfy the criteria for R&D centers specified in laws on science, technology, and innovation and the following criteria:

a) Technologies and products researched and developed at the center under the List of high technologies prioritized for investment in development and the List of encouraged hi-tech products specified in Articles 5 and 6 hereof;

b) Criteria regarding highly qualified human resources; proportion of expenditure for R&D activities; facilities, technical infrastructure, and quality management systems according to national technical standards; in cases where Vietnamese standards have not been issued, regional or foreign standards appropriate to each field shall apply;

c) Compliance with regulations on national defense, security, and environmental protection.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

7. The Government shall elaborate this Article.

Article 12. Strategic technology research and development

1. Strategic technology R&D activities included in the List of high technologies prioritized for investment in development specified in Article 5 hereof shall include:

a) Research to decode, master, improve, and complete strategic technology;

b) Research on application and experimentation of strategic technology.

2. Organizations and individuals conducting activities specified in Clause 1 of this Article shall be entitled to preferential policies and support specified in Clause 3 of Article 11 of this Law and the following preferential policies and support:

a) Be directly assigned with science, technology, and innovation tasks from the national special science, technology, and innovation program on strategic technology and from funds specified in laws on science, technology, and innovation;

b) Be entitled to special mechanisms in technology decoding and purchase of technological know-how as prescribed in Article 31 of the Law on Science, Technology, and Innovation.

3. The State shall have policies to support organizations and individuals in establishing and investing in strategic technology R&D centers to carry out strategic technology R&D activities as specified in Clause 1 of this Article.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Technologies and products researched and developed at the center under the List of strategic technologies and the List of strategic technology products specified in Articles 5 and 6 hereof;

b) Criteria regarding highly qualified human resources; proportion of expenditure for R&D activities; facilities, technical infrastructure, and quality management systems according to national technical standards; in cases where no Vietnamese standards or technical regulations are available, regional or foreign standards appropriate to each field shall apply;

c) Compliance with regulations on national defense, security, and environmental protection.

5. Recognition of strategic technology R&D centers as prescribed in Clause 4 of this Article shall be conducted in accordance with laws on science, technology, and innovation.

6. The Government shall elaborate this Article.

Article 13. Attraction and development of hi-tech human resources

1. Hi-tech human resources include:

a) Vietnamese citizens, overseas Vietnamese, and foreigners with high expertise and skills, capable of researching, mastering, transferring, or commercializing high technology and strategic technology;

b) Chief engineers, experts, and scientists with practical experience in developing high technology, hi-tech products, strategic technology, and strategic technology products.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The State shall have policies to support organizations and individuals investing in training, attracting, and developing hi-tech human resources to serve the development of high technology and strategic technology.

Chapter III

DEVELOPMENT OF HI-TECH INDUSTRIES, STRATEGIC INDUSTRIES, AND HI-TECH PRODUCTS, STRATEGIC TECHNOLOGY PRODUCTS

Article 14. Development of hi-tech industries, strategic industries

1. The State shall prioritize, enable, and support organizations and individuals to invest in the development of hi-tech industries and strategic industries, focusing on the following main tasks:

a) Promote the production of hi-tech products, strategic technology products, providing hi-tech and strategic technology services; develop value chains, industry clusters, and expand markets; replace imports of core technology products and components to promote socio-economic development, ensure national defense and security;

b) Develop networks of technology cooperation and connection serving the development of hi-tech industries and strategic industries; promote high technology transfer from abroad to Vietnam, accompanied by commitments to domestic R&D; master, improve, and widely disseminate high technology domestically and abroad; intensify investment in R&D activities for innovation, application, and testing of hi-tech and strategic technology products;

c) Strongly develop supporting industries that directly satisfy requirements for mastery and localization to serve the development of hi-tech and strategic industries;

d) Make rapid and sustainable development of enterprises producing hi-tech products, hi-tech enterprises, and strategic technology enterprises;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Based on socio-economic development conditions in each period, the Prime Minister shall approve plans and strategies to develop certain hi-tech industries, strategic industries, and supporting industries serving the development of hi-tech and strategic industries.

Article 15. Enterprises producing hi-tech products, hi-tech enterprises, and strategic technology enterprises

1. Enterprises producing hi-tech products are enterprises that satisfy the following criteria:

a) Produce hi-tech products or provide services as specified in Clause 1 of Article 6 hereof and under the List of encouraged hi-tech products specified in Clause 3 of Article 6 hereof;

b) Apply environmentally friendly and energy-saving measures, quality management systems that satisfy Vietnamese technical standards; if no Vietnamese standards or technical regulations are available, apply regional or foreign standards.

2. Hi-tech enterprises are enterprises satisfying the criteria in Clause 1 of this Article and the following criteria:

a) Own technology, co-own technology, lawful right to use technology, or conduct technology transfer according to law to develop and apply high technology, produce hi-tech products or services;

b) Satisfy criteria regarding revenue, R&D expenditure in Vietnam, and personnel directly conducting R&D.

3. Hi-tech enterprises are classified into two groups: Group 1 and Group 2.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Conduct R&D of high technology and hi-tech products;

b) Produce hi-tech products with a minimum localization ratio prescribed by the Government by sector and field; and ensure total annual R&D expenditure in Vietnam is at least 1% of net revenue after deducting input value.

5. Group-2 hi-tech enterprises are those satisfying the criteria in Clause 2 of this Article.

6. Strategic technology enterprises must satisfy the following criteria:

a) Produce strategic technology products or provide strategic technology services as prescribed in Clause 2 of Article 6 hereof and under the List of strategic technology products specified in Clause 3 of Article 6 hereof;

b) Have domestic investors’ stakes or holdings of 51% or more, except in special cases decided by the Prime Minister to attract important strategic technologies;

c) Own or co-own strategic technology, core technology serving production of strategic technology products in Vietnam;

d) Satisfy criteria regarding revenue, R&D expenditure in Vietnam, localization ratio, and personnel directly conducting R&D.

7. The Government shall elaborate this Article; prescribe authority, procedures for registration, confirmation, and inspection of compliance with criteria of enterprises producing hi-tech products, hi-tech enterprises, and strategic technology enterprises.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Production of hi-tech products, strategic technology products, and production of hi-tech supporting industry products in business lines under the List of business lines eligible for investment incentives under investment laws.

2. Individuals directly performing hi-tech/strategic technology R&D of hi-tech/strategic technology enterprises shall enjoy preferential policies and support related to training, scientific research, technology development, labor, housing, exit and entry, residence, work permits, and personal income tax exemption or reduction according to laws on science, technology, innovation, and other relevant laws.

3. Enterprises specified in Article 15 hereof shall enjoy the following preferential policies and support:

a) Strategic technology enterprises shall be entitled to the most advantageous incentives and support under laws on investment, tax, land, and policies specified in points a and b of Clause 2 of Article 12 hereof and other relevant laws.

Investment projects producing strategic technology products under the List of strategic technology products shall be entitled to special investment incentives and support under investment laws;

b) Group-1 hi-tech enterprises shall be entitled to the most advantageous incentives and support under laws on investment, tax, land, and other policies specified in relevant laws.

c) Group-2 hi-tech enterprises shall be entitled to the most advantageous incentives and support under laws on investment, tax, land, and other policies specified in relevant laws.

d) Enterprises producing hi-tech products shall be entitled to incentives and support under corporate income tax laws.

4. Enterprises specified in Article 15 hereof shall apply the risk acceptance mechanism as prescribed in Article 9 of the Law on Science, Technology, and Innovation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

PROMOTION OF APPLICATION OF HIGH TECHNOLOGY AND STRATEGIC TECHNOLOGY

Article 17. Application of high technology and strategic technology in socio-economic development

1. The State shall have policies to encourage and enable organizations, enterprises, and individuals to apply high technology and strategic technology in economic sectors, national defense, and security, especially in key economic regions, rural areas, ethnic minority regions, border and island areas, and regions with disadvantaged or extremely disadvantaged socio-economic conditions.

2. The application of high technology and strategic technology aims to:

a) Improve productivity, added value, operational efficiency, and competitiveness of the economy;

b) Promote digital transformation, development of digital economy, green economy, circular economy, and knowledge economy;

c) Ensure national defense, security, and social safety;

d) Achieve objectives of sustainable development, environmental protection, and improve quality of life.

3. Activities applying high technology and strategic technology under the List of high technologies prioritized for investment in development and List of strategic technologies specified in Article 5 hereof includes:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Conducting trial production of products, completing processes, quality standards, conducting assessment, and certification for commercialization;

c) Mastering and adapting high technology and strategic technology transferred from abroad.

4. Organizations and individuals conducting activities applying high technology and strategic technology described in Clause 3 of this Article shall be entitled to the following incentives and support:

a) Be entitled to incentives and support under laws on investment, tax, land, and other policies specified in relevant laws.

b) Develop markets and ecosystems for high technology and strategic technology; have mechanisms for commission placement and incentives in bidding as prescribed by bidding laws; prioritize investment, renting, procurement of hi-tech and strategic technology products and services using the state budget.

c) Receive support in training, human resource development, enhancement of digital skills, and technology management for enterprises and workers as prescribed by relevant laws.

5. Ministries, ministerial agencies, and provincial People’s Committees shall take charge and cooperate with the Ministry of Science and Technology in formulating, issuing, and implementing policies, programs, and measures encouraging the application of high technology and strategic technology appropriate to the sectors, fields, and provinces/cities under management.

Article 18. Promotion of transfer and commercialization of high technology and hi-tech products

1. Transfer and commercialization of high technology and hi-tech products must comply with laws on technology transfer, intellectual property, standards, technical regulations, environmental protection, national security, international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory, and other relevant laws.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The State encourages the establishment and development of intermediary organizations and infrastructure supporting the transfer and commercialization of high technology and hi-tech products, including:

a) Technology promotion, consultancy, and brokerage centers;

b) Technology exchanges and digital platforms connecting domestic and international supply and demand;

c) Incubators, innovation centers, and testing laboratories serving the commercialization of high technology and hi-tech products.

4. In addition to incentives and support prescribed in Article 17 hereof, organizations and individuals conducting transfer and commercialization of high technology and hi-tech products under List of high technologies prioritized for investment in development and List of strategic technologies shall be entitled to incentives and support as prescribed by laws on science, technology, and innovation. To be specific:

a) Support for technology and product testing, certification, and inspection;

b) Financial supports for market searching, connection, and trade promotion for hi-tech products domestically and internationally.

5. The State shall prioritize support for small and medium-sized enterprises and hi-tech and strategic technology startups participating in the transfer and commercialization of high technology and hi-tech products according to laws on science, technology, and innovation.

Article 19. Promotion of transfer and commercialization of strategic technology and strategic technology products

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Financial supports for part of the testing of strategic technology and strategic technology products according to laws on science, technology, and innovation;

b) Connecting technology supply and demand among research institutes, enterprises, and state authorities;

c) Prioritizing consideration and allocation of resources in public investment programs and projects and stimulus mechanisms under law when meeting safety and effectiveness requirements.

2. The State shall invest in infrastructure to support the commercialization of strategic technology and strategic technology products, including:

a) Digital database systems on strategic technology and strategic technology products, connected to the national database on science, technology, and innovation;

b) Regulatory sandbox for applications of new strategic technology and strategic technology products as prescribed by laws on science, technology, and innovation.

3. The State shall encourage organizations and individuals in Vietnam to buy, sell, merge, form joint ventures, and establish partnerships with foreign enterprises that possess core technologies and strategic technologies in accordance with the law. These activities are entitled to policies to support technology appraisal, legal consultancy, and tax incentives on the value of accepted technology as prescribed by the Government.

Chapter V

DEVELOPMENT OF THE HI-TECHNOLOGY ECOSYSTEM

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. The hi-technology ecosystem is a collection of interacting entities serving the development of high technology, in which hi-tech enterprises play a central role; the main components include managing agencies, scientific and technological organizations, higher education institutions, startup and innovation support organizations, support organizations, users, and several other essential related components.

2. The State shall have policies to promote the formation and sustainable development of the hi-technology ecosystem, ensuring connection among entities within the ecosystem; promptly issue mechanisms and policies to support, coordinate, and develop the components of the hi-technology ecosystem.

3. The State encourages and enable organizations and individuals to invest in developing technical infrastructure serving research, development, testing, incubation, and commercialization of high technology prioritized for investment in development and strategic technology, including:

a) Hi-tech parks, hi-tech agricultural parks;

b) Centers for research, development, and testing of high technology, centers supporting startups, innovation centers in the fields of high technology and strategic technology, hi-tech incubator or hi-tech/strategic technology enterprise incubator;

c) Shared laboratories, digital infrastructure, technology infrastructure serving research, development, testing, and commercialization of high technology;

d) Centers for research, development, and testing of strategic technology, national laboratories serving strategic technology R&D.

4. Based on socio-economic development requirements and tasks of hi-tech and strategic technology development, the State shall prioritize budget allocation to invest in constructing some hi-tech parks, hi-tech agricultural parks, hi-tech R&D centers, strategic technology R&D centers, national strategic technology laboratories, and data centers within hi-tech parks.

5. Organizations and individuals investing in and operating technical infrastructure specified in Clause 3 of this Article shall be entitled to incentives and support in accordance with laws on land, tax, investment, and preferential policies on science, technology, and innovation. The State encourages public-private partnerships in investment, management, and operation of technical infrastructure, ensuring transparency, efficiency, and the sharing of benefits and risks.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

7. Technical infrastructure invested by the State as prescribed in Clause 4 of this Article shall be managed, operated, and used in accordance with laws on management and use of public property.

Article 21. Incubation, startup, and innovation organizations in high technology and strategic technology

1. Hi-tech and strategic technology incubators and hi-tech and strategic technology enterprise incubators are organizations providing infrastructure, resources, and necessary services to complete high technology and strategic technology and to form and develop hi-tech and strategic technology enterprises in the incubation stage.

The Minister of Science and Technology shall provide for criteria and conditions for hi-tech and strategic technology incubators and hi-tech and strategic technology enterprise incubators.

2. Startup support centers and innovation centers in high technology and strategic technology are determined according to criteria prescribed by laws on science, technology, and innovation.

3. Hi-tech startup enterprises and strategic technology startup enterprises are newly established startup enterprises in the fields of high technology and strategic technology that aimed at developing products and services based on high technology or strategic technology under the List of high technologies prioritized for investment in development and the List of strategic technologies under Article 5 hereof, with potential for rapid growth, innovation capacity, and contributions to socio-economic development.

4. Hi-tech startup enterprises and strategic technology startup enterprises must satisfy the following criteria:

a) Own technology protected by intellectual property rights or have lawful rights to use it;

b) Conduct research and development activities as a foundation for innovation;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Implement transparent corporate governance and comply with the law.

5. Investors constructing and operating incubation facilities, organizations and individuals implementing incubation projects at incubation facilities, hi-tech startup enterprises, strategic technology startup enterprises, startup support centers, and innovation centers in high technology and strategic technology shall be entitled to the following incentives and supports:

a) Receive funding and financial support from science, technology, and innovation programs; access to capital funds as prescribed by laws on science, technology, and innovation;

b) Be entitled to tax, investment credit, and land incentives as prescribed by law;

c) Receive support for research infrastructure, shared laboratories, and legal and intellectual property consulting services;

d) Receive support for trade promotion and market development domestically and internationally, participation in fairs, exhibitions, and global innovation networks.

6. The State shall invest or participate in investing in building incubation facilities, startup support centers, and innovation centers in high technology and strategic technology of significant importance.

7. The Government shall elaborate clause 4 of this Article.

Article 22. Hi-tech parks

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Hi-tech parks have the following tasks:

a) Conduct scientific research, development of high technology and strategic technology;

b) Conduct trial production of hi-tech products and strategic technology products formed from results of research and development conducted with the hi-tech park;

c) Implement regulatory sandbox of new technologies, products, and policies related to high technology and strategic technology;

d) Support incubation of high technology, strategic technology, hi-tech enterprises, strategic technology enterprises, and startups in hi-tech and strategic technology fields;

dd) Organize or collaborate with other organizations to provide training, refresher training, and skills improvement programs in high technology and strategic technology; attract highly qualified domestic and foreign human resources to serve the development of high technology and strategic technology;

e) Organize trade promotion, exhibitions, and connect supply and demand in high technology and strategic technology;

g) Provide synchronized digital infrastructure, technical infrastructure, and technological infrastructure; provide scientific, technological, and innovation services, financial services, and other services directly supporting hi-tech park operations;

h) Connect and form a hi-tech ecosystem to promote and spread innovation in high technology and strategic technology.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Align with the planning and orientation of development of high technology, strategic technology, and the science, technology, and innovation development orientation of administrative divisions, regions, and the nation;

b) Have traffic and technical infrastructure connectivity; the ability to connect with hi-tech training, research, and production institutions and neighboring areas with high-quality housing and social infrastructure to ensure the well-being of experts and workers in the hi-tech park and to form a hi-tech ecosystem and hi-tech city;

c) Have a feasible plan for investment in building technical infrastructure, digital infrastructure, technology infrastructure to serve the development of prioritized hi-tech industries and infrastructure work connecting the hi-tech park with surrounding areas;

d) Have a feasible plan for resources for investment in scientific research, technological development, innovation, incubation, and commercialization of high technology and strategic technology within the hi-tech park;

dd) Have a feasible plan to attract high-quality human resources and a flexible, effective management mechanism;

e) Have a suitable scale and ensure conditions regarding national defense, security, environmental protection, accommodation facilities, and social infrastructure to serve experts, scientists, and workers in the hi-tech park with an appropriate ratio to meet the needs of workers after balancing with the capacity of social infrastructure supply in neighboring areas.

4. Provincial People’s Committees shall decide the establishment, expansion, and adjustment of hi-tech parks in the provinces/cities.

5. Policies for the development of hi-tech parks include:

a) Hi-tech parks shall be entitled to investment incentives applicable to areas with especially disadvantaged socio-economic conditions according to investment laws and other relevant laws;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) The State shall prioritize supporting investment capital from the state budget and encourage investors, organizations, and individuals to invest in building technical infrastructure, digital infrastructure, and technology infrastructure within hi-tech parks; housing and social infrastructure surrounding hi-tech parks; and infrastructure works connecting the hi-tech park with surrounding areas;

d) Investors and organizations, individuals operating in the hi-tech park shall be entitled to investment incentives and support related to land, tax, and priority policies regarding administrative procedures in investment, enterprises, land, construction, environment, labor, tax, customs, and other fields as prescribed by law;

dd) Investors and organizations, individuals operating in the hi-tech park are prioritized to participate in regulatory sandbox programs and projects, access venture capital funds, and programs supporting research, application of high technology, strategic technology, and technology transfer.

6. The Government shall elaborate this Article; regulations on expansion, adjustment, and investment in the construction of hi-tech parks; hi-tech activities and principles, criteria for investment projects implementing hi-tech activities within hi-tech parks; mechanisms, policies, and state management of hi-tech urban areas.

Article 23. Hi-tech urban areas

1. A hi-tech urban area is an urban area formed and developed based on a hi-tech ecosystem, in which the hi-tech park and scientific and technological organizations play a central role.

2. Besides meeting the criteria for urban areas as prescribed by law, a hi-tech urban area must also satisfy the following conditions:

a) Have a hi-tech park and scientific and technological organizations playing a central role in development, and synchronous connection regarding technical infrastructure, digital infrastructure, and social infrastructure with surrounding areas;

b) Have technical infrastructure, digital infrastructure, and technological infrastructure serving research, development, and application of high technology and strategic technology;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Have a green, safe, and sustainable living environment; improve quality of life through smart service systems, enable activities related to science, technology and innovation;

dd) Have favorable mechanisms, policies, and legal frameworks for development, testing, and application of new high technology and strategic technology, as well as advanced urban governance models;

e) Ensure close connection between educational institutions, research institutions, support organizations, and hi-tech enterprises; determine appropriate land area ratios for different functions, prioritize activities related to science, technology and innovation associated with the development of the hi-tech park.

3. Priority is given to investing in, supporting, and encouraging public-private partnerships to develop technical infrastructure, digital infrastructure, technological infrastructure, social infrastructure, and regional connectivity serving the development of hi-tech urban areas; organizations and individuals are encouraged to invest in hi-tech urban development.

4. Based on management requirements and practical conditions, the Government shall provide for the development of hi-tech urban areas.

Article 24. Hi-tech agricultural parks

1. A hi-tech agricultural park is a concentrated area for activities including applied research, trial production, testing, demonstration, technology transfer, incubation, and hi-tech human resource training in agriculture.

2. Hi-tech agricultural parks have the following tasks:

a) Conduct applied research, development, and trial production of high technology and strategic technology in agriculture;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Conduct testing, demonstration, organize fairs, exhibitions of products and results of research on application of high technology and strategic technology in agriculture, and hi-tech agricultural models;

d) Support incubation of enterprises and transfer of high technology and strategic technology in agriculture.

3. Conditions for establishing a hi-tech agricultural park include:

a) Comply with planning and orientation for developing agriculture applying high technology and strategic technology;

b) Have traffic and technical infrastructure connectivity; the ability to connect with high-level agricultural training, research, and production facilities; suitable natural conditions for the types of agricultural products researched;

c) Have appropriate land scale; be feasible in terms of investment in technical infrastructure construction and ensure national defense, security, and environmental protection conditions;

d) Have digital infrastructure, agricultural infrastructure, accommodation facilities for experts, scientists, and workers in the hi-tech agricultural park with an appropriate ratio to ensure that the needs of workers in the hi-tech agricultural park are satisfied;

d) Have a feasible plan for resources for investment in applied research, innovation, incubation, and commercialization of research results;

e) Have a feasible plan to attract high-quality human resources and a flexible, effective management mechanism.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. Policies for the development of hi-tech agricultural parks include:

a) Hi-tech agricultural parks shall be entitled to investment incentives applicable to areas with especially disadvantaged socio-economic conditions according to investment laws and other relevant laws;

b) Investment capital for construction and development of hi-tech agricultural parks includes state budget capital; investment capital from organizations, individuals, and other lawful sources;

c) Activities in the hi-tech agricultural park are conducted under mechanisms, policies, and state management similar to those of hi-tech parks, except for contents unsuitable to agricultural characteristics;

d) The State shall prioritize supporting investment capital from the state budget and encourage investors, organizations, and individuals to invest in building technical infrastructure, digital infrastructure, and infrastructure connecting the hi-tech agricultural park with surrounding areas, and technical infrastructure serving research on application of high technology and strategic technology in agriculture;

dd) Investors and organizations, individuals operating in the hi-tech agricultural park shall be entitled to investment incentives and support related to land, tax, and priority policies regarding administrative procedures in investment, enterprises, land, construction, environment, labor, tax, customs, and other fields as prescribed by law;

e) Investors and organizations, individuals operating in the hi-tech agricultural park are prioritized to participate in regulatory sandbox programs and projects, access venture capital funds, and programs supporting research, application of high technology, strategic technology, and technology transfer in agriculture.

6. The Government shall elaborate this Article; regulations on expansion, adjustment, and investment in the construction of hi-tech agricultural parks; activities in hi-tech agricultural parks and criteria for investment projects implementing hi-tech activities within hi-tech agricultural parks; mechanisms, policies, and state management of hi-tech agricultural parks.

Chapter VI

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 25. Amendments, annulment of some articles, clauses of relevant laws

1. Amendment to point e of clause 1 of Article 12 of the Law on management and investment of state capital in enterprises No. 68/2025/QH15:

“e) Enterprises producing hi-tech products, hi-tech enterprises, strategic technology enterprises as prescribed by laws on high technology, making large-scale investments, creating rapid development drivers for other sectors and the economy;”.

2. Amendments to some articles of the Law on science, technology, and innovation No. 93/2025/QH15:

a) Amendment to clause 1 of Article 67:

“1. Strategic technology products under the List of strategic technology product and hi-tech products under the List of encouraged hi-tech products that are produced by strategic technology enterprises, hi-tech enterprises, and enterprises producing hi-tech products; products and goods resulting from special science, technology, and innovation tasks; products and goods from domestic science, technology, and innovation tasks shall be given preferential treatment according to the bidding laws.”;

b) Clause 1 of Article 71 is annulled.

3. Amendments to some articles of the Law on Bidding No. 22/2023/QH15 amended by Law No. 57/2024/QH15, Law No. 90/2025/QH15, and Law No. 116/2025/QH15:

a) Amendment to point g of clause 1 of Article 10:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Amendment to point i of clause 1 of Article 10:

“i) Strategic technology products under the List of strategic technology product and hi-tech products under the List of encouraged hi-tech products that are produced by strategic technology enterprises, hi-tech enterprises, and enterprises producing hi-tech products according to laws on high technology; products and goods resulting from special science, technology, and innovation tasks; products and goods from domestic science, technology, and innovation tasks according to laws on science, technology and innovation; digital technology products and services meeting criteria issued by the Minister of Science and Technology.”;

c) Amendment to point c of clause 4 of Article 10:

 “c) Investors that are startup individuals, startup enterprises, startup support organizations recognized by competent authorities; innovation centers; science and technology enterprises; science and technology organizations; research and development centers; strategic technology enterprises, hi-tech enterprises, enterprises producing hi-tech products, hi-tech incubation facilities, and hi-tech startup incubators as prescribed by laws on high technology; foreign investors that have made commitment to transfer technologies to domestic investors or partners.”;

d) Amendment to point a1 of clause 2 of Article 62:

a1) The following investors are not required to demonstrate their equity arrangement capacity: science and technology enterprises, startup enterprises, innovation centers, startup support organizations as prescribed by law on science, technology and innovation; hi-tech incubators, hi-tech enterprise incubators, strategic technology enterprises, hi-tech enterprises, enterprises producing hi-tech products as prescribed by the law on high technology;”.

4. Amendments to some articles of the Law on Public-Private Partnership Investment No. 64/2020/QH14 amended by Laws No. 03/2022/QH15, No. 28/2023/QH15, No. 35/2024/QH15, No. 57/2024/QH15, and No. 90/2025/QH15:

a) Amendment to point c of clause 3 of Article 11:

“c) PPP projects applying strategic technology, high technology as prescribed by laws on high technology; applying new technology as prescribed by the laws on technology transfer;”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“d) PPP projects on science, technology and innovation; PPP projects applying strategic technology, high technology as prescribed by laws on high technology; applying new technology as prescribed by the laws on technology transfer;”;

c) Amendment to clause 1a of Article 42:

“1a. The following investors are not required to demonstrate their equity arrangement capacity: science and technology enterprises, startup enterprises, innovation centers, startup support organizations as prescribed by law on science, technology and innovation; hi-tech incubators, hi-tech enterprise incubators, strategic technology enterprises, hi-tech enterprises, enterprises producing hi-tech products as prescribed by the law on high technology.”;

d) Amendment to point c of clause 2a of Article 69:

c) It's a science and technology PPP project; project receives transfer of high, strategic, new or advanced technology from a private investor and thus needs to use an amount of state capital higher than that prescribed in clause 2 of this Article for the purpose of ensuring feasibility of the project’s financial plan.”.

5. Amendment to Clause 2 of Article 42 of the Customs Law No. 54/2014/QH13 amended by Law No. 71/2014/QH13, Law No. 35/2018/QH14, Law No. 07/2022/QH15, and Law No. 90/2025/QH15:

“2. Enterprises that have been announced by the Ministry of Science and Technology of Vietnam to be strategic technology/hi-tech enterprises; new enterprises established from investment projects on production of hi-tech products; enterprises executing strategic technology projects; enterprises executing projects on production of key digital technology products, projects on research and development, design, production, packaging and testing of microchips, projects on construction of AI data centers; enterprises executing projects on production of auxiliary products directly used in semiconductor industry are eligible for priorities upon their fulfillment of the requirements laid down in points c, d, dd and e clause 1 of this Article.”.

6. Amendment to point c of clause 21 of Article 16 of the Law on Export and Import Duties No. 21 amended by and Law No. 90/2025/QH15:

c) Raw materials, supplies and components imported to serve production and research activities of science and technology organizations, strategic technology/hi-tech enterprises and new enterprises established from investment projects on production of hi-tech products as prescribed by the law on high technology; science and technology enterprises, and innovation centers that are exempt from import duties within 05 years from the date of commencement of such production and research activities;”.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Amendment to point a of clause 2 of Article 12:

“a) Venture capital investing for the development of high technology prioritized for investment in development, strategic technology; incubation of high technology and strategic technology, incubation of hi-tech enterprises and strategic technology enterprises; investment in the construction and operation of hi-tech incubators, hi-tech enterprise incubators;

b) Amendment to point e of clause 2 of Article 12:

“e) Group-2 hi-tech enterprises as prescribed by laws on high technology, and science and technology enterprises as prescribed by laws on science, technology and innovation;”;

c) Addition of points e1 and e2 after point e of clause 2 of Article 12:

“e1) Strategic technology research and development centers, strategic technology enterprises, hi-tech research and development centers, group-1 hi-tech enterprises as prescribed by the law on high technology;

e2) Enterprises producing hi-tech products as prescribed by laws on high technology;”;

d) Addition of clause 1a after clause 1 of Article 13:

“1a. The tax rate of 10% shall apply for 25 years to income of enterprises as stipulated in point e1 of clause 2 of Article 12 of this Law.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“d) Income of enterprises as stipulated in point e2 of clause 2 of Article 12 of this Law.”;

c) Amendment to clause 7 of Article 13:

“7. The preferential tax period applicable to the income generated from the execution of a new investment project by an enterprise stipulated in this Article (including projects specified in point g and point h of clause 2 of Article 12 of this Law) shall begin from the first year in which the new investment project of the enterprise generates revenue.

In cases where the enterprise is granted a Certificate of strategic technology enterprise, a Certificate of hi-tech enterprise, a Certificate of enterprise producing hi-tech products, a Certificate of science and technology enterprise, or a Confirmation of incentives for supporting industry product manufacturing projects after the time of revenue generation, the preferential tax period shall begin from the year of issuance of the Certificate or Confirmation of incentives.

In cases where an enterprise or investment project is granted multiple Certificates or Confirmations of incentives, or confirmation documents, the provisions of this clause shall apply to the first Certificate or Confirmation of incentives, or confirmation document issued.”;

g) Amendment to point a of clause 1 of Article 14:

“a) Income of enterprises as stipulated in clause 1 and clause 1a of Article 13 of this Law.”;

h) Amendment to clause 4 of Article 14:

“4. The tax exemption or reduction period shall begin from the first year in which taxable income is generated from the investment project. In cases where the project does not generate any taxable income during the three years starting from the first year in which the project generates revenue, the tax exemption or reduction period shall begin from the fourth year.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In cases where an enterprise or investment project is granted multiple Certificates or Confirmations of incentives, or confirmation documents, the provisions of this clause shall apply to the first Certificate or Confirmation of incentives, or confirmation document issued.”;

i) Addition of clause 1a after clause 1 of Article 20:

“1a. Organizations and businesses that have been granted a Certificate of hi-tech enterprise, a Certificate of Hi-tech agricultural enterprise, a Certificate of hi-tech application, or a Certificate of hi-tech incubator, or a Certificate of hi-tech enterprise incubator as prescribed by the Law on High technology No. 21/2008/QH12, shall continue to be entitled to corporate income tax incentives as prescribed by laws on corporate income tax at the time of issuance of the Certificate until the expiration date stated on the Certificate.”;

k) The phrase "hi-tech agricultural enterprises" is removed from point c of clause 4 of Article 12.

Article 26. Effect

1. This Law comes into force from July 01, 2026.

2. The Law on High Technology No. 21/2008/QH12 amended by Law No. 32/2013/QH13, Law No. 67/2014/QH13, Law No. 71/2025/QH15 and Law No. 93/2025/QH15 (hereinafter referred to as the Law on High Technology No. 21/2008/QH12), shall cease to be effective from the date this Law comes into force, except cases specified in Clause 1, Clause 2, Point a and Point c of Clause 3, and Clause 4 of Article 27 of this Law.

Article 27. Transitional clauses

1. Unexpired certificates issued under the Law on High Technology No. 21/2008/QH12 after the effective date of this Law shall continue to be valid until the expiration date specified in the certificate.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Transitional provisions for hi-tech parks and hi-tech agricultural parks established before the effective date of this Law:

a) Shall continue carrying out the tasks determined in accordance with the Law on High Technology No. 21/2008/QH12, the establishment decision, and the construction planning approval decision of the competent authority before the effective date of this Law.

In cases where adjustments are made in whole or in part to the tasks stipulated in this Law, the provincial People's Committee shall decide the content of the adjustments in accordance with this Law;

b) Investors who have been allocated or leased out land to implement a production investment project may continue to use the land for production purposes. In cases where investors wish to repurpose part or all of their investment project to research and development, hi-tech incubation, or hi-tech service provision that satisfies the corresponding criteria within a hi-tech park or hi-tech agricultural park, they may continue to use the land already allocated or leased out to them to implement the repurposed investment project. Preferential policies for investment projects shall correspond to each objective of the investment project after repurposing;

a) Valid applications for the establishment of hi-tech parks and hi-tech agricultural parks received before the effective date of this Law shall comply with the Law on High Technology No. 21/2008/QH12 and its guiding documents.

4. Scientific and technological tasks under the National hi-tech development program shall continue to comply with the Law on Science, Technology and Innovation.

This Law was ratified by the 15th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 10th session on December 10, 2025.

 

 

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Công nghệ cao 2025
Số hiệu: 133/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Lĩnh vực khác
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 10/12/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản