Luật Đất đai 2024

Nghị định 203-HĐBT năm 1982 về Điều lệ bảo vệ đường bộ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu 203-HĐBT
Cơ quan ban hành Hội đồng Bộ trưởng
Ngày ban hành 21/12/1982
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Xây dựng - Đô thị,Giao thông - Vận tải
Loại văn bản Nghị định
Người ký Tố Hữu
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 203-HĐBT

Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1982

 

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 203-HĐBT NGÀY 21 THÁNG 12 NĂM 1982 VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981.
Căn cứ Nghị định số 35-CP ngày 9-2-1981 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ , quyền hạn, trách nhiệm của bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;
Theo đề nghị của bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

NGHỊ ĐỊNH :

Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ bảo vệ đường bộ.

Điều 2.- Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng bộ trưởng, thủ trưởng các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

 

Tố Hữu

(Đã ký)

 

ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
(Ban hành kèm theo nghị định số 203-HĐBT ngày 21-12-1982 của Hội đồng bộ trưởng)

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Điều lệ này quy định việc bảo vệ đường bộ nhằm bảo đảm cho hệ thống giao thông vận tải đường bộ luôn luôn được trật tự, an toàn, thông suốt và thuận tiện cho việc cải tạo, mở rộng đường sau này.

Điều 2.- Toàn bộ hệ thống đường bộ trong cả nước là tài sản xã hội chủ nghĩa; các ngành, các cấp, các đơn vị kinh tế - quốc phòng và mọi công dân (sau đây gọi tắt là tổ chức và công dân) có nghĩa vụ bảo vệ.

Không một tổ chức, cá nhân nào được xâm phạm hoặc gây hư hại đến các công trình đường bộ.

Điều 3.- Những công trình giao thông đường bộ được bảo vệ gồm có:

- Mái đường, lề đường, nền đường, mặt đường,

- Hệ thống thoát nước của nền, mặt đường,

- Các cầu, cống, công trình ngầm, đường vòng, đường tránh cầu,

- Đường ngầm, đường tràn,

- Bến phà, bến cầu phao; các bến phụ, bến dự phòng; các thiết bị hai đầu bến; nơi cất giấu và triền đà sửa chữa các phương tiện vượt sông,

- Phà, phao, ca-nô lai dắt phà và các thiết bị khác.

- Kè, tường chắn, rãnh đình, lá chắn dòng nước để bảo vệ nền đường, cầu cống, bến phà phao,

- Hệ thống cọc tiêu, biển báo, cột cây số, tín hiệu, đèn chiếu sáng điều khiển giao thông, đảo hướng dẫn giao thông, các dải phân chia đường và biển nhắc nhở luật lệ giao thông,

- Các công trình phụ trợ cho cầu, đường, bến phà phao.

Điều 4.- Điều lệ này áp dụng cho các hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh hiện đang khai thác có đăng ký trong danh bạ đường bộ.

Đối với các hệ thống đường xã, huyện, đô thị, chuyên dùng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương sẽ căn cứ vào các nguyên tắc chung của điều lệ này và sự hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải để quy định hành lang bảo vệ và những điều cần thiết cho phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng hệ thống đường đó.

Những tuyến đường quan trọng cần có hành lang bảo vệ lớn hơn quy định trong điều lệ này, Bộ Giao thông vận tải căn cứ vào kế hoạch mở rộng, cải tạo cầu đường đã được Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn để quy định cụ thể cho từng tuyến đường và thông báo cho các ngành, địa phương thực hiện.

Điều 5.- Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng giao thông trung ương và địa phương thực hiện các công việc:

1. Quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa đường; bảo đảm giao thông an toàn và thông suốt.

2. Tổ chức kiểm tra đường phát hiện những sự cố gây ra không đảm bảo an toàn và đôn đốc, giám sát việc chấp hành điều lệ này.

3. Lập biên bản, xử lý các vụ vi phạm theo luật lệ hiện hành. Đối với những vụ vi phạm nghiêm trọng sẽ đề nghị truy tố trước pháp luật.

4. Quy định tải trọng, tốc độ cho phép chạy trên cầu, đường, cấp giấy phép và hướng dẫn các loại xe xích, xe quá tải trọng và quá khổ giới hạn quy định chạy trên đường bộ công cộng.

Điều 6.- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân các tỉnh) có trách nhiệm:

1. Tổ chức bảo vệ các hệ thống đường bộ trong địa phương mình theo sự phân cấp quản lý của Nhà nước.

2. Huy động mọi lực lượng, vật tư, thiết bị, v.v... nối lại giao thông kịp thời khi bị thiên tai, địch phá hoại.

3. Thường xuyên theo dõi tình hình đường bộ; giám sát và giúp đỡ các cơ quan quản lý đường bộ trong việc bảo vệ, quản lý, sửa chữa cầu đường.

4. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành những quy định về bảo vệ đường.

5. Chỉ đạo chặt chẽ việc cấp đất theo pháp lệnh về đất đai và hướng dẫn việc thực hiện phù hợp với những quy định cụ thể của điều lệ này.

Chương 2:

NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ

Điều 7.- Hành lang bảo vệ các công trình giao thông đường bộ quy định như sau:

1. Đối với đường tỉnh từ mép chân mái đường đắp và từ mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép ngoài rãnh dọc hay rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên, cụ thể.

- Hệ thống đường quốc lộ là 20m.

- Hệ thống đường tỉnh là 10m.

2. Đối với cầu, cống, bến phà, cầu phao.

a) Tính từ đầu cầu, cống trở ra phía đường có bán kính là:

- Cầu dài trên 60m 100m

- Cầu dài từ 30 đến 60m 80m

- Cầu dài dưới 30m 60m

- Cống các loại 30m

b) Tính từ tim dọc cầu, tim bến ra hai bên phía bờ sông, trên mặt sông là:

- Cầu dài trên 60m 150m

- Cầu dài từ 30m đến 60m 100m

- Cầu dài dưới 30m 80m

- Bến phà (phà thường) 100m

- Bến phà (phà tự hành) 150m

- Bến cầu phao 100m

3. Đối với phía trên không, tính từ tim mặt cầu, tim mặt đường trở lên là 4,50m.

Riêng đường dây điện cao thế thì tính từ điểm võng thấp nhất của dây đối với tim mặt cầu, mặt đường là:

- Đường dây có điện áp dưới 110KV 7,00m

- Đường dây có điện áp từ 110KV đến 120 KV 8,00m.

Điều 8.- Trong phạm vi hành lang bảo vệ đường bộ:

1. Nghiêm cấm xây dựng nhà cửa, lều quán, kho tàng, công trình (tạm thời hoặc vĩnh cửu) hay lấy cắp đất, đá, v. v...

2. Những nhà cửa, công trình, kho tàng, v. v.. đã có trước ngày ban hành điều lệ này nếu xét thấy không ảnh hưởng tới sự ổn định, bền vững của cầu đường và an toàn giao thông thì tạm thời được để lại nhưng không được phát triển thêm. Trường hợp cần thiết phải rời bỏ hoặc thu hẹp lại thì giải quyết như sau;

a) Các công trình, nhà cửa, v.v... thuộc địa phương quản lý hay của nhân dân thì Uỷ ban nhân dân tỉnh thông báo cho các cơ quan, xí nghiệp hoặc nhân dân có tài sản đó rời đi trong một thời gian nhất định và cùng Bộ Giao thông vận tải xét bồi thường, nếu có giấy phép xây dựng của cấp có thẩm quyền.

b) Các công trình, nhà cửa, v.v.. thuộc cơ quan trung ương quản lý và trước đây xây dựng có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền thì Bộ Giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân tỉnh bàn với cơ quan có tài sản đó giải quyết hoặc trình Hội đồng bộ trưởng xem xét và quyết định.

3. Các nhà cửa, kho tàng, lò vôi, lò gạch, v.v.. làm mới phải xây dựng ra ngoài hành lang bảo vệ đường bộ là 15 mét. Các trạm vật tư, cửa hàng, v.v.. ở cạnh đường có xe ra vào hoặc đỗ lại thường xuyên phải có bãi đỗ xe riêng để không ảnh hưởng đến giao thông.

4. Trường hợp khó khăn đặc biệt cần xây dựng các công trình, đê điều, kênh mương phải được Bộ Giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ Giao thông vận tải quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý) chấp thuận và thống nhất về các công trình bảo vệ cầu đường thì mới được xây dựng.

5. Được phép trồng hoa màu, cây lương thực, cây công nghiệp, nhưng phải trồng cách mép chân mái đường đào ít nhất là 1 mét và cách mép đỉnh mái đường đắp là 6m. Việc cấp đất để trồng trọt do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo các quy định của Nhà nước về quản lý đất đai và phải được sự thoả thuận của Bộ Giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ Giao thông vận tải quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý).

Điều 9.- Các cột điện tín, điện thoại, v.v... phải đặt cách mép nền đường một khoảng cách ít nhất bằng chiều cao của cột. Trường hợp khó khăn không bảo đảm được thì cơ quan có đường dây phải bàn bạc với ngành hoặc địa phương có trách nhiệm quản lý đường đó giải quyết.

Điều 10.- Các kho chứa chất nổ, chất cháy, chất độc và những mỏ khai thác bằng mìn, v.v... ở gần đường phải bảo đảm an toàn đối với cầu đường, xe cộ và nhân dân đi trên đường theo các quy định của Nhà nước đã ban hành.

Điều 11.- Những đường ngang nối từ đường chính vào cơ quan, xí nghiệp, xóm làng đều phải đào, đắp cao bằng mặt đường chính, không được hạ thấp hoặc bạt xẻ, v.v... vào nền mặt đường chính.

Trường hợp khi xây dựng đường chính cắt ngang đường vào cơ quan, xí nghiệp, xóm làng đã có trước thì phải tôn cao hoặc hạ thấp mặt đường ngang bằng mặt đường chính một đoạn nhất định để bảo đảm sự đi lại trên đường ngang bình thường.

Điều 12.- Những công trình được Hội đồng bộ trưởng cho phép xây dựng như khai khoáng, đê, đập, hồ chứa nước, sân bay, v.v... có thể làm ngập cầu đường, bến phà phao thì cơ quan có công trình phải làm các công trình giao thông khác thay thế.

Việc cắt bỏ cầu, đường, bến phà cũ chỉ được tiến hành sau khi thông xe trên các công trình giao thông thay thế bảo đảm kỹ thuật an toàn và đủ hệ thống báo hiệu.

Điều 13.- Nghiêm cấm việc ngăn cấm đường hoặc làm cản trở giao thông nếu không có giấy phép của cơ quan quản lý giao thông đường bộ có thẩm quyền. Trường hợp do yêu cầu an ninh chính trị, trật tự xã hội, quốc phòng thì cơ quan công an, quân sự có thẩm quyền được phép tạm thời đình chỉ hoặc hạn chế giao thông làm nhiệm vụ, nhưng phải báo ngay cho cơ quan quản lý giao thông đường bộ có thẩm quyền biết phối hợp cộng tác để khỏi ách tắc giao thông.

Điều 14.- Nghiêm cấm việc xâm phạm các công trình giao thông. Trường hợp chống lụt, chống úng, chống hạn cần có phương án trước và trước khi tiến hành nhiệm vụ phải báo cho cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền biết. Khi xong, cơ quan chống lụt, úng, hạn phải sửa lại cầu đường như cũ, bảo đảm kỹ thuật và thời hạn quy định.

Điều 15.- Nghiêm cấm việc lấy cắp làm hư hỏng, sai lệch vị trí hoặc hạn chế tác dụng của hệ thống cọc tiêu, biển báo hiệu, tín hiệu, v.v... ở trên đường và lấy cắp đất, đá, sắt, thép, gỗ của cầu đường phà phao và vật tư dự phòng bên đường.

Điều 16.- Nghiêm cấm dùng mặt đường, lề đường, mái đường làm nơi:

1. Phơi rơm rạ, thóc lúa và các thứ khác.

2. Bốc dỡ, để hàng hoá hay vật liệu.

3. Đỗ xe lấy nước, rửa xe, sửa chữa hoặc để xe hỏng, xe chết.

4. Họp chợ hoặc tụ tập đông người làm cản trở giao thông.

5. Xây dựng các cổng chào, phù điêu, tượng đài, tường kẻ khẩu hiệu, v.v... làm cản trở giao thông.

6. Làm chỗ bốc dỡ gỗ, tre, nứa, đá và các vật liệu khác ở những nơi đường bộ đi sát sông ngòi, đồi núi.

Điều 17.- Những xe máy bánh xích, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn quy định muốn chạy trên đường giao thông công cộng phải có giấy phép của Bộ Giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do tỉnh quản lý) và phải chấp hành các quy định về việc bảo vệ cầu đường, phà, phao. Đối với đê dùng làm đường hoặc ngược lại thì việc đi lại trên đường đó phải theo đúng luật lệ về giao thông và Điều lệ bảo vệ đê điều của Nhà nước.

Điều 18.- Cấm neo đậu các tàu, thuyền, ca-nô, sà- lan, v.v... trong hành lang bảo vệ cầu cống, bến phà, cầu phao.

- Cấm đốt lửa, phơi các thứ trên mặt cầu, dưới gầm cầu.

- Cấm dùng chất nổ để đánh cá, phá đá, v.v... trong hành lang bảo vệ cầu cống, bến phà, cầu phao, đường ngầm, đường tràn.

- Khi có tàu, thuyền, v.v... bị trôi vướng vào mố trụ cầu hoặc chìm đắm trong phạm vi hành lang bảo vệ cầu, cống, bến phà, phao, tiêu đường chạy phà và bắc cầu phao thì phải gỡ hoặc trục vớt ngay.

Điều 19.- Không được thả rông chăn dắt súc vật ở mái đường, lề đường và buộc vào hàng cây hai bên đường hoặc hệ thống cọc tiêu biển báo trên đường.

Không được tuỳ tiện chặt, phá hàng cây hai bên đường, cây chắn sóng, chắn cát trong hành lang bảo vệ đường.

Không được đào mương, phá rừng ở sát dọc hai bên đường, ở gầm cầu.

Điều 20.- Cán bộ, nhân viên chuyên trách việc bảo vệ các công trình giao thông; nhân viên cảnh sát nhân dân đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên đường có quyền:

1. Kiểm tra, lập biên bản và xử lý các vụ vi phạm điều lệ này theo luật lệ hiện hành hoặc đề nghị truy tố trước pháp luật.

2. Tạm thời đình chỉ những công việc đang làm xét thấy có thể gây tổn hại đến các công trình giao thông hoặc đe doạ đến sự an toàn đối với xe cộ, người đi trên đường và báo ngay cho thủ trưởng cơ quan , xí nghiệp quản lý công việc đó giải quyết kịp thời.

Chương 3:

THƯỞNG PHẠT VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 21.- Cá nhân hoặc tổ chức nào có thành tích trong việc bảo vệ đường bộ, ngăn chặn hay phát hiện những vụ vi phạm điều lệ này sẽ được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

Cá nhân hoặc tổ chức nào vi phạm điều lệ này sẽ tuỳ theo mức độ vi phạm, bị xử lý theo các hình thức sau đây:

- Phạt tiền theo điều lệ xử phạt vi cảnh đối với những vi phạm đơn giản, mức độ thiệt hại không đáng kể.

- Bắt bồi thường thiệt hại đối với những vi phạm nghiêm trọng.

- Truy tố trước pháp luật đối với những vi phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 22.- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm quy định cụ thể viếc thi hành điều lệ này.

Điều 23.- Điều lệ này có hiệu lực kể từ ngày ký và bãi bỏ các quy định trước đây trái với điều lệ này.

Điều 24.- Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng bộ trưởng, thủ trưởng các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm thi hành điều lệ này.

65
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị định 203-HĐBT năm 1982 về Điều lệ bảo vệ đường bộ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Tải văn bản gốc Nghị định 203-HĐBT năm 1982 về Điều lệ bảo vệ đường bộ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Chưa có văn bản song ngữ
Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị định 203-HĐBT năm 1982 về Điều lệ bảo vệ đường bộ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Số hiệu: 203-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Lĩnh vực, ngành: Xây dựng - Đô thị,Giao thông - Vận tải
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Tố Hữu
Ngày ban hành: 21/12/1982
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Tổ chức kiểm tra, quản lý, xử lý vi phạm Điều lệ bảo vệ đường bộ tại Nghị định này được hướng dẫn bởi Quyết định 06-CT năm 1990 có hiệu lực từ ngày 03/01/1990
Do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội đối với các quốc lộ, nhất là quốc lộ I (từ biên giới tỉnh Lạng Sơn đến Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải, dài 2.300 kilômét) đang từng bước cải tạo, củng cố nhằm đáp ứng sự lưu thông Bắc - Nam;
Để bảo đảm an toàn trên các quốc lộ hiện nay và để tránh gây thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân khi mở rộng đường,
...
I- TỔ CHỨC KIỂM TRA, XỬ LÝ CÁC VI PHẠM ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ TRÊN QUỐC LỘ I VÀ CÁC QUỐC LỘ KHÁC

1- Theo Điều lệ đường bộ ban hành kèm theo Nghị định số 203-HĐBT ngày 21-12-1982 của Hội đồng Bộ trưởng, phạm vi đường bộ và hành lang bảo vệ đường bộ là lưu không, thuộc tuyến đường để bảo vệ, bảo đảm an toàn giao thông và dự phòng khi mở rộng. Đất đai thuộc hành lang bảo vệ đường chỉ được sử dụng trồng lương thực, hoa màu và trồng cây xanh theo chỉ dẫn của Bộ Giao thông vận tải.

2- Trên các quốc lộ, đặc biệt đối với quốc lộ I, kể từ ngày ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ, tất cả các công trình như đường điện, đường bưu điện, mương máng thuỷ lợi, các công sở, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhà ở, lều quán của tư nhân, v.v... đã làm trong lưu thông do các cấp chính quyền, phường, xã, quận, huyện hoặc tỉnh, thành phố cấp đất hoặc tự ý xây dựng là vi phạm luật lệ. Trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày ký Quyết định này, các cơ quan và tư nhân vi phạm phải di chuyển các công trình nói trên ra khỏi hành lang của lưu không (từ chân mái đường đắp hoặc đỉnh mái đường đào ra mỗi bên 20 mét). Nhà nước miễn phạt và không đền bù. Những đoạn quốc lộ đi trùng với đường đô thị sau khi đã được nâng cấp đúng với quy hoạch được duyệt, thì hành lang bảo vệ đường là bề rộng của vỉa hè.

3- Các công trình đã có trong phạm vi lưu không, từ trước ngày ban hành Nghị định số 203-HĐBT ngày 21-12-1982, nếu chưa di chuyển phải tiếp tục di chuyển. Sau khi chính quyền địa phương, xã, huyện, hoặc tỉnh, thành phố, đặc khu đã xác minh rõ ràng, Nhà nước sẽ tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để đền bù theo quy định hiện hành. Trường hợp công trình nằm trên hành lang bảo vệ, không ảnh hưởng trực tiếp nhiều đến việc bảo vệ đường, việc di chuyển gây tốn kém, lãng phí lớn, thì Bộ Giao thông vận tải xét cho tạm thời chưa di chuyển nhưng phải cam kết thực hiện theo Điều lệ bảo vệ đường bộ và di chuyển ngay khi mở rộng đường.

4- Tất cả các công trình vĩnh cửu, tạm thời hoặc lều lán của bất kỳ đối tượng nào, kể cả trong ngành giao thông vận tải nằm trong khu vực của đường, tức là mặt đường, lề đường, rãnh đến chân mái đường, xây dựng trước hoặc sau ngày ban hành Điều lệ nếu đang trực tiếp tác động đến an toàn, bảo vệ đường bộ thì phải kiên quyết dỡ bỏ ngay.

5- Quốc lộ I đi qua nhiều thành phố, thị xã, các điểm dân cư, các chợ đều phải theo đúng các quy định của Điều lệ bảo vệ đường bộ và những quy định về xây dựng đô thị. Tuỳ theo từng nơi, để bố trí mặt đường, lề đường rộng hơn, thích ứng với lưu lượng đi lại; các ngã tư, điểm rẽ phải bảo đảm tầm nhìn, v.v...

6- Lưu không của đường mở rộng xây dựng trong tương lai sẽ do Bộ Giao thông vận tải cắm mốc sau khi quy hoạch tổng thể được duyệt. Để không gây ra thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân khi mở rộng đường, các địa phương khi cấp đất xây dựng phải quy hoạch lại, tránh đất dành để mở rộng quốc lộ.

II- TĂNG CƯỜNG VIỆC QUẢN LÝ, THỰC HIỆN NGHIÊM CHỈNH ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ

- Các xí nghiệp quản lý đường bộ:

1- Phải liên tục sửa chữa, bảo đảm mặt đường, cầu cống êm thuận, không ổ gà, không đọng nước, không có các vật chướng ngại trên mặt đường. Kết hợp chặt chẽ với cảnh sát giao thông tại chỗ để giữ gìn trật tự giao thông.

2- Phải bảo vệ cọc tiêu, biển báo, cột mốc lưu không; ngăn chặn việc phá hoại, lấy cắp cọc tiêu, biển báo, đất, đá, sắt thép, gỗ của cầu, đường, không bảo đảm an toàn giao thông.

3- Phải quản lý các quốc lộ theo nguyên tắc mặt đường, lề đường luôn thông suốt cho xe cộ, người đi lại. Cấm mọi xe cộ, các vật chướng ngại khác chiếm, để ở lòng đường, lề đường, nhất là đường qua các thành phố, thị xã, khu dân cư. Cấm sử dụng lòng đường, lề đường làm nơi phơi rơm rạ, sản xuất kinh doanh, chắn đường để tụ họp, họp chợ làm cản trở giao thông. ở trong thành phố các cửa hiệu, lều quán không được mở ra trên lề đường. Mọi việc kiểm tra, kiểm soát đối với xe cộ không được làm cản trở giao thông như bắt xe dừng ở lòng đường để kiểm soát, xe cộ bị hỏng ở trên đường phải tìm cách giải phóng ngay. Các xe không đủ thiết bị an toàn, gây ô nhiễm, quá tải trọng đi lại trên đường, gây ách tắc giao thông, làm hư hại đường sá, v.v... thì phải chịu phạt theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

- Các địa phương phải thu đủ phí giao thông để duy tu cầu, đường, không được điều sang làm việc khác.

- Mọi vi phạm phải xử lý nghiêm theo pháp luật.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục Quyết định này.

2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương giao nhiệm vụ cho các quận, huyện, xã, phường tiến hành một đợt kiểm tra, phân loại, xác minh thời gian xây dựng các công trình của Nhà nước và tư nhân, xử lý trong thời gian quy định nói ở điểm 2, phần I của Quyết định này; chỉ đạo chặt chẽ việc cấp đất xây dựng hai bên đường theo đúng quy định của Điều lệ bảo vệ đường bộ.

3- Các Bộ Thông tin, Văn hoá tổ chức tuyên truyền, giáo dục để nhân dân làm chủ việc bảo vệ trật tư giao thông, kịp thời biểu dương những nơi làm tốt, phê phán những nơi làm kém.

Xem nội dung VB
NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 203-HĐBT NGÀY 21 THÁNG 12 NĂM 1982 VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
Tổ chức kiểm tra, quản lý, xử lý vi phạm Điều lệ bảo vệ đường bộ tại Nghị định này được hướng dẫn bởi Quyết định 06-CT năm 1990 có hiệu lực từ ngày 03/01/1990
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG.

1. Trách nhiệm bảo vệ (điều 1,2).

Các hệ thống đường bộ là tài sản xã hội chủ nghĩa và chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nên mọi tổ chức và công dân có nghĩa vụ bảo vệ - mà không chỉ riêng thuộc trách nhiệm ngành giao thông vận tải, để bảo đảm giao thông đường bộ luôn được trật tự, an toàn, thông suốt và thuận tiện cho việc cải tạo, mở rộng đường sá sau này.

Tuy vậy các Sở giao thông vận tải, liên hiệp các xí nghiệp và xí nghiệp liên hợp xây dựng giao thông khu vực (sau đây gọi tắt là các cơ quan quản lý đường bộ) phải là nòng cốt trong việc giữ gìn, bảo vệ đường sá; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan để tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong cán bộ, công nhân viên , lực lượng vũ trang và nhân dân quán triệt để thực hiện điều lệ nghiêm chỉnh. Tất cả các tổ chức, cá nhân xâm phạm hoặc gây hư hại đến các công trình giao thông đều bị xử lý thích đáng.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 2.- Toàn bộ hệ thống đường bộ trong cả nước là tài sản xã hội chủ nghĩa; các ngành, các cấp, các đơn vị kinh tế - quốc phòng và mọi công dân (sau đây gọi tắt là tổ chức và công dân) có nghĩa vụ bảo vệ.

Không một tổ chức, cá nhân nào được xâm phạm hoặc gây hư hại đến các công trình đường bộ.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG.
...
2. Những công trình phải bảo vệ (điều 3).

Điều lệ quy định những công trình giao thông đường bộ phải được bảo vệ. Trong đó cần phải chú ý tới các công trình, cầu lớn vì có những công trình phụ ở xa công trình chính như hố neo - cầu cáp, cầu treo, cầu phao, trụ chống va trôi... cũng phải được bải vệ chu đáo và các công trình sau đây:

a) Đường vòng, đường tránh cầu, bến phà phụ và bến dự phòng.

Tại một số cầu, bến phà giao quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước có xây thêm các đường vòng, đường tránh cầu, bến phà phao dự phòng để bảo đảm giao thông liên tục, kịp thời trong mọi tình huống. Trong tình hình vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu hiện nay, các công trình này vẫn phát huy tác dụng; các cơ quan quản lý đường bộ trên phương án bảo đảm giao thông (kể cả khi phải phục vụ xe quá tải, quá khổ...) kiểm tra lại các đường vòng tránh cầu, bến phà dự phòng đã có và lựa chọn giữ lại ở mỗi cầu lớn một đường vòng tránh - ở mỗi bến phà phao một hay hai bến phà dự phòng còn tốt sau đó thông báo cho chính quyền sở tại biết để cùng phối hợp bảo vệ chu đáo bảo vệ khi cần thiết sử dụng được ngay.

b) Rãnh đỉnh, lá chắn dòng nước,

Những công trình này có tác dụng ngăn cản và vướng dòng nước trong mùa mưa lũ chảy theo hướng quy định để bảo vệ cầu, đường, bến phà phao, tường kè chắn đất... không bị sụp lở, xói mòn hay trôi đổ.

Rãnh đỉnh, lá chắn dòng nước ở xa công trình cần được bảo vệ, lại phát huy tác dụng theo mùa nên phải kiểm tra khơi rãnh sửa chữa trước mùa mưa lũ và phổ biến cho nhân dân xung quanh biết rõ tác dụng để không san lấp rãnh hoặc lấy đá của lá chắn.

c) Các công trình phụ trợ.

Những công trình này nhằm bảo đảm cho việc lưu thông, quản lý, khai thác đạt hiệu quả cao và an toàn cho xe cộ, bộ hành trên đường. Bao gồm:

- Trạm kiểm soát giao thông, trạm phân luồng hướng dẫn giao thông

- Những nhà chờ xe ở dọc đường,

- Những đoạn tránh xe chỗ nền mặt đường hẹp.

- Bãi để vật liệu, xe máy thi công sau mỗi ngày làm việc (tránh để trên lề mặt đường làm cản trở giao thông),

Các ụ đất đắp hai bên đường (ở ngoài nền đường) để trồng cây, vườn ươm cây của đơn vị quản lý đường...

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 3.- Những công trình giao thông đường bộ được bảo vệ gồm có:

- Mái đường, lề đường, nền đường, mặt đường,

- Hệ thống thoát nước của nền, mặt đường,

- Các cầu, cống, công trình ngầm, đường vòng, đường tránh cầu,

- Đường ngầm, đường tràn,

- Bến phà, bến cầu phao; các bến phụ, bến dự phòng; các thiết bị hai đầu bến; nơi cất giấu và triền đà sửa chữa các phương tiện vượt sông,

- Phà, phao, ca-nô lai dắt phà và các thiết bị khác.

- Kè, tường chắn, rãnh đình, lá chắn dòng nước để bảo vệ nền đường, cầu cống, bến phà phao,

- Hệ thống cọc tiêu, biển báo, cột cây số, tín hiệu, đèn chiếu sáng điều khiển giao thông, đảo hướng dẫn giao thông, các dải phân chia đường và biển nhắc nhở luật lệ giao thông,

- Các công trình phụ trợ cho cầu, đường, bến phà phao.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG.
...
3. Phạm vi áp dụng điều lệ (điều 4)

Điều lệ quy định áp dụng cho các hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh và đó là những tuyến đường quan trọng của quốc gia và địa phương cần phải được bảo vệ với mức độ cao nhất bảo đảm luôn luôn thông suốt và an toàn.

Đối với các hệ thống đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng các Sở giao thông vận tải tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân tỉnh) quy định cụ thể về phạm vi hành lang bảo vệ và các biện pháp bảo vệ trên nguyên tắc chung của điều lệ này, như sau:

a) Về phạm vi hành lang bảo vệ:

- Đối với đường, nói chung là dưới 10 mét tính từ chân mái đường đắp và từ mép đỉnh mái đường đào trở ra hai bên. Khoảng cách cụ thể sẽ căn cứ vào tình hình địa chất thuỷ văn và yêu cầu an toàn giao thông dể quy định nhưng không được nhỏ dưới 5 mét.

Tuyến đường nào địa phương đã có kế hoạch mở rộng được cấp trên phê chuẩn sẽ quy định hành lang bảo vệ cho thích hợp nhưng tối đa là 10 mét.

Đối với hệ thống đường đô thị thì những phố, đường giao thông có vỉa hè thì hành lang bảo vệ là bề rộng của vỉa hè, còn những đường mà hai bên chưa xây dựng nhà cửa xẽ căn cứ vào quy hoạch đô thị để quy định phạm vi hành lang bảo vệ cho phù hợp với loại đường đô thị sau này.

- Đối với cầu, sẽ căn cứ vào mức độ yêu cầu về kỹ thuật của công trình cần phải được bảo vệ để quy định cho thích hợp.

- Đối với phía trên không: Nói chung theo như điểm 3, điều 7 của điều lệ đã quy định.

b) Về các quy định khác: Có thể vận dụng các quy định của điều lệ để áp dụng cho các hệ thống đường này.

Riêng đối với hệ thống đường đô thị thì cần quy định chặt chẽ hơn, đặc biệt chú ý nghiêm cấm việc đào bới mặt đường vỉa hè một cách tuỳ tiện; chiếm dụng vỉa hè, lòng đường làm nơi để vật liệu hàng hoá, phơi các thứ, họp chợ, bán hàng, đậu xe bừa bãi... Cần quy định cụ thể việc đi lại trên từng đường phố với các loại xe để bảo đảm giao thông được trật tự, an toàn, không xảy ra ách tắc và mất vệ sinh mỹ quan thành phố.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 4.- Điều lệ này áp dụng cho các hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh hiện đang khai thác có đăng ký trong danh bạ đường bộ.

Đối với các hệ thống đường xã, huyện, đô thị, chuyên dùng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương sẽ căn cứ vào các nguyên tắc chung của điều lệ này và sự hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải để quy định hành lang bảo vệ và những điều cần thiết cho phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng hệ thống đường đó.

Những tuyến đường quan trọng cần có hành lang bảo vệ lớn hơn quy định trong điều lệ này, Bộ Giao thông vận tải căn cứ vào kế hoạch mở rộng, cải tạo cầu đường đã được Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn để quy định cụ thể cho từng tuyến đường và thông báo cho các ngành, địa phương thực hiện.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG.
...
4. Trách nhiệm giữa Bộ giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân các tỉnh về việc bảo vệ đường bộ (điều 5 và 6).

Với trách nhiệm quản lý chuyên ngành và quản lý theo lãnh thổ, đối với việc bảo vệ các công trình giao thông đường bộ, Hội đồng Bộ trưởng đã quy định nhiệm vụ cơ bản giữa Bộ giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân các tỉnh.

Để bảo đảm việc thi hành điều lệ được nghiêm chỉnh, các cơ quan quản lý đường bộ ngoài việc quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa cầu đường... thường xuyên, bảo đảm giao thông an toàn, cần triển khai một số nhiệm vụ như sau:

- Tổ chức lực lượng tuần tra thường xuyên trên đường để phát hiện sớm những hư hỏng kịp thời sửa chữa và giám sát việc chấp hành các quy định của điều lệ này.

- Để lực lượng tuần tra có hiệu lực khi thi hành nhiệm vụ, mỗi cán bộ, nhân viên phải có giấy uỷ nhiệm kiểm tra an toàn giao thông vận tải và phạt vi cảnh, băng đeo theo mẫu thống nhất của Bộ (trong thông tư số 175-PC ngày 21-9-1978 của Bộ hướng dẫn thi hành điều lệ phạt vi cảnh) và được phép lập biên bản xử lý các vi phạm đến các công trình giao thông đường bộ theo pháp luật hiện hành (tại điều 21 điều lệ).

- Phối hợp với các ngành có liên quan như công an, quân sự, văn hoá thông tin, các đoàn thể và chính quyền các cấp huyện, xã ở ven đường quốc lộ, đường tỉnh hoặc trong thành phố, thị xã mở các đợt tuyên truyền với mọi hình thức, phổ biến rộng rãi những quy định của điều lệ bảo vệ đường bộ. Đôn đốc nhắc nhở, giám sát việc thực hiện của các cơ quan, xí nghiệp, mọi người và xử lý kịp thời những vụ vi phạm để đề cao pháp luật xã hội chủ nghĩa.

- Kiểm tra, xác định trọng tải, khổ, giới hạn của từng tuyến đường, cầu cống, phà phao... để phục vụ cho các loại xe cơ giới qua trọng tải, qua khổ và xe xích đi lại an toàn, nhanh chóng để bảo vệ các công trình đường bộ. hàng năm các cơ quan quản lý đường bọ phải tổng hợp tình hình đường xá do mình quản lý báo cáo về Bộ. - Hàng năm có kế hoạch phòng chống thiên tai, địch phá hoại, bảo vệ các công trình giao thông, báo cáo Uỷ ban nhân dân các tỉnh để giao nhiệm vụ cho các ngành, các đoàn thể, các cấp chính quyền hỗ trợ tích cực ngành giao thông vận tải khi cần thiết nhằm huy động lực lượng, vật tư, thiết bị. .. được nhanh chóng, lập lại giao thông trong thời gian ngắn nhất.

Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh giao cho các ngành, các cấp chính quyền phải quán triệt và nghiêm chỉnh thực hiện điều lệ này, nhất là những huyện, xã ở ven đường có trách nhiệm bảo vệ các công trình đường bộ, coi như là một trong những nhiệm vụ chính của Uỷ ban. Trường hợp đặc biệt cần cấp đất đai để xây dựng công trình gì trong hành lang bảo vệ, trước khi duyệt cấp đất phải thống nhất với ngành giao thông vận tải.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 5.- Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng giao thông trung ương và địa phương thực hiện các công việc:

1. Quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa đường; bảo đảm giao thông an toàn và thông suốt.

2. Tổ chức kiểm tra đường phát hiện những sự cố gây ra không đảm bảo an toàn và đôn đốc, giám sát việc chấp hành điều lệ này.

3. Lập biên bản, xử lý các vụ vi phạm theo luật lệ hiện hành. Đối với những vụ vi phạm nghiêm trọng sẽ đề nghị truy tố trước pháp luật.

4. Quy định tải trọng, tốc độ cho phép chạy trên cầu, đường, cấp giấy phép và hướng dẫn các loại xe xích, xe quá tải trọng và quá khổ giới hạn quy định chạy trên đường bộ công cộng.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG.
...
4. Trách nhiệm giữa Bộ giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân các tỉnh về việc bảo vệ đường bộ (điều 5 và 6).

Với trách nhiệm quản lý chuyên ngành và quản lý theo lãnh thổ, đối với việc bảo vệ các công trình giao thông đường bộ, Hội đồng Bộ trưởng đã quy định nhiệm vụ cơ bản giữa Bộ giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân các tỉnh.

Để bảo đảm việc thi hành điều lệ được nghiêm chỉnh, các cơ quan quản lý đường bộ ngoài việc quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa cầu đường... thường xuyên, bảo đảm giao thông an toàn, cần triển khai một số nhiệm vụ như sau:

- Tổ chức lực lượng tuần tra thường xuyên trên đường để phát hiện sớm những hư hỏng kịp thời sửa chữa và giám sát việc chấp hành các quy định của điều lệ này.

- Để lực lượng tuần tra có hiệu lực khi thi hành nhiệm vụ, mỗi cán bộ, nhân viên phải có giấy uỷ nhiệm kiểm tra an toàn giao thông vận tải và phạt vi cảnh, băng đeo theo mẫu thống nhất của Bộ (trong thông tư số 175-PC ngày 21-9-1978 của Bộ hướng dẫn thi hành điều lệ phạt vi cảnh) và được phép lập biên bản xử lý các vi phạm đến các công trình giao thông đường bộ theo pháp luật hiện hành (tại điều 21 điều lệ).

- Phối hợp với các ngành có liên quan như công an, quân sự, văn hoá thông tin, các đoàn thể và chính quyền các cấp huyện, xã ở ven đường quốc lộ, đường tỉnh hoặc trong thành phố, thị xã mở các đợt tuyên truyền với mọi hình thức, phổ biến rộng rãi những quy định của điều lệ bảo vệ đường bộ. Đôn đốc nhắc nhở, giám sát việc thực hiện của các cơ quan, xí nghiệp, mọi người và xử lý kịp thời những vụ vi phạm để đề cao pháp luật xã hội chủ nghĩa.

- Kiểm tra, xác định trọng tải, khổ, giới hạn của từng tuyến đường, cầu cống, phà phao... để phục vụ cho các loại xe cơ giới qua trọng tải, qua khổ và xe xích đi lại an toàn, nhanh chóng để bảo vệ các công trình đường bộ. hàng năm các cơ quan quản lý đường bọ phải tổng hợp tình hình đường xá do mình quản lý báo cáo về Bộ. - Hàng năm có kế hoạch phòng chống thiên tai, địch phá hoại, bảo vệ các công trình giao thông, báo cáo Uỷ ban nhân dân các tỉnh để giao nhiệm vụ cho các ngành, các đoàn thể, các cấp chính quyền hỗ trợ tích cực ngành giao thông vận tải khi cần thiết nhằm huy động lực lượng, vật tư, thiết bị. .. được nhanh chóng, lập lại giao thông trong thời gian ngắn nhất.

Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh giao cho các ngành, các cấp chính quyền phải quán triệt và nghiêm chỉnh thực hiện điều lệ này, nhất là những huyện, xã ở ven đường có trách nhiệm bảo vệ các công trình đường bộ, coi như là một trong những nhiệm vụ chính của Uỷ ban. Trường hợp đặc biệt cần cấp đất đai để xây dựng công trình gì trong hành lang bảo vệ, trước khi duyệt cấp đất phải thống nhất với ngành giao thông vận tải.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 6.- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân các tỉnh) có trách nhiệm:

1. Tổ chức bảo vệ các hệ thống đường bộ trong địa phương mình theo sự phân cấp quản lý của Nhà nước.

2. Huy động mọi lực lượng, vật tư, thiết bị, v.v... nối lại giao thông kịp thời khi bị thiên tai, địch phá hoại.

3. Thường xuyên theo dõi tình hình đường bộ; giám sát và giúp đỡ các cơ quan quản lý đường bộ trong việc bảo vệ, quản lý, sửa chữa cầu đường.

4. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành những quy định về bảo vệ đường.

5. Chỉ đạo chặt chẽ việc cấp đất theo pháp lệnh về đất đai và hướng dẫn việc thực hiện phù hợp với những quy định cụ thể của điều lệ này.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ

1. Phạm vi hành lang bảo vệ (điều 7).

Hành lang bảo vệ là phạm vi giới hạn khu vực không dược xâm phạm để giữ gìn cho các công trình được ổn định; Để bảo vệ cho việc đi lại trên cầu, đường... được an toàn và thuận lợi cho việc mở rộng đường xá sau này.

Khoảng cách ghi trong điều này đã được xác định cụ thể cho từng loại công trình và là mức tối thiểu, vì vậy không được châm chước là đặc biệt là đối với phía trên không để bảo đảm an toàn cho các loại xe chở hàng trên mui xe hay xe cần cẩu... đi lại trên đường vừa không làm hư hỏng đường dây vừa tránh nguy hiểm cho phương tiện (nhất là đối với đường dây điện cao thế).

Các cơ quan quản lý đường bộ cần cắm mốc (vĩnh cửu) giới hạn hành lang bảo vệ đối với cầu, đường bến phà phao... Để các cơ quan, xí nghiệp, nhân dân biết không xây dựng nhà cửa, công trình hoặc làm bất cứ việc gì dù có tạm thời (trừ trồng cây lương thực, hoa màu đã quy định trong nhiều năm, điều 8 của điều lệ này) hay lấy cắp đất, đá... Trước mắt cần nắm mốc ngay ở những khu vực đông dân cư, các đầu mối giao thông và những khu vực đã có quy hoạch cho phép xây dựng ở ven đường của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 7.- Hành lang bảo vệ các công trình giao thông đường bộ quy định như sau:

1. Đối với đường tỉnh từ mép chân mái đường đắp và từ mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép ngoài rãnh dọc hay rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên, cụ thể.

- Hệ thống đường quốc lộ là 20m.

- Hệ thống đường tỉnh là 10m.

2. Đối với cầu, cống, bến phà, cầu phao.

a) Tính từ đầu cầu, cống trở ra phía đường có bán kính là:

- Cầu dài trên 60m 100m

- Cầu dài từ 30 đến 60m 80m

- Cầu dài dưới 30m 60m

- Cống các loại 30m

b) Tính từ tim dọc cầu, tim bến ra hai bên phía bờ sông, trên mặt sông là:

- Cầu dài trên 60m 150m

- Cầu dài từ 30m đến 60m 100m

- Cầu dài dưới 30m 80m

- Bến phà (phà thường) 100m

- Bến phà (phà tự hành) 150m

- Bến cầu phao 100m

3. Đối với phía trên không, tính từ tim mặt cầu, tim mặt đường trở lên là 4,50m.

Riêng đường dây điện cao thế thì tính từ điểm võng thấp nhất của dây đối với tim mặt cầu, mặt đường là:

- Đường dây có điện áp dưới 110KV 7,00m

- Đường dây có điện áp từ 110KV đến 120 KV 8,00m.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ
...
2. Giải quyết những trường hợp xây dựng trong hành lang bảo vệ (điều 8).

a) Kể từ ngày ban hành điều lệ này, mọi việc xây dựng mới như nhà cửa, kho tàng, công trình... dù nhỏ hay lớn, dù tạm thời hay vĩnh cửu trong phạm vi hành lang bảo vệ mà không được phép của cấp có thẩm quyền đều là vi phạm điều lệ này.

b) Do trước đây việc chấp hành các luật lệ giao thông vận tải không được nghiêm túc, nhiều cơ quan, xí nghiệp, nhân dân đã tuỳ tiện xây dựng nhà cửa, công trình... sát đường, có nơi vào cả mặt đường ảnh hưởng lớn tới sự đi lại trên đường và sự mở rộng đường sá. Để giải quyết những điều này, điều lệ đã quy định rõ:

Chỉ tạm thời cho phép những công trình, nhà cửa... xét thấy mức độ ảnh hưởng tới sự ổn định của công trình giao thông và sự an toàn giao thông không lớn lắm, nhưng cấm phát triển thêm. Tuy vậy khi cần thiết mở rộng đường xá hoặc yêu cầu bảo đảm an toàn giao thông cao hơn vẫn phải thu hẹp lại hay dỡ bỏ toàn bộ ngay.

- Trường hợp những nhà cửa, công trình có nguy hại đến sự ổn định của công trình giao thông (như gây lún, sụt lở, đổ vỡ dần đến huỷ hoại) thì dứt khoát phải bỏ dỡ. Nếu chỉ ảnh hưởng đến tầm nhìn người lái xe hoặc cản trở sự lưu thông của các phương tiện trên đường, tạo thành các tụ điểm mất an toàn giao thông thì dỡ bỏ những phần gây trở ngại dối với những công trình xây vĩnh cửu và dỡ bỏ toàn bộ đối với lều quán, nhà cửa tạm thời.

Việc bồi thường cho các công trình; nhà cửa nếu phải dỡ bỏ (toàn bộ hoặc một phần) chỉ giải quyết cho các trường hợp có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp trước đây và theo đúng quy định của nhà nước về việc quản lý đất đai.

Việc di chuyển những công trình, nhà cửa... và xét bồi thường rất phức tạp quá trình nhiều năm trước đây để lại cần phải xem xét cụ thể để giải quyết đúng với các chính sách của Đảng và Nhà nước. Các cơ quan quản lý dường bộ phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, các ngành có liên quan như công an, quân sự, tài chính, quản lý công trình công cộng, quản lý nhà đất... Dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh tiến hành khảo sát, lập danh mục các công trình nhà cửa... nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ cần giải quyết , lên kế hoạch cụ thể công trình, nhà cửa nào phải dỡ bỏ ngay hay tạm thời cho phép để lại hoặc thu hẹp lại và có giấy phép xây dựng hay không báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh (phần có liên quan đến Bộ thì giử báo cáo về Bộ) xem xét giải quyết được nhanh , gọn, đúng chính sách đã quy định.

Trước mắt giải quyết những công trình , nhà cửa... Nằm trong phạm vi 5 mét (tính từ chân mái đường đắp hoặc mép đỉnh mái đường đào trở ra) nếu có ảnh hưởng đến sự ổn định của cầu dường hoặc làm cản trở giao thông thì tùy theo mức độ phải di chuyển:

- Đối với lều quán thì dỡ bỏ ngay.

- Đối với nhà cửa, công trình... làm tạm thời thì thời gian di chuyển không quá 1 năm.

- Đối với nhà cửa, công trình... xây dựng vĩnh cửu thì thời gian di chuyển không quá 3 năm.

Nếu do yêu cầu cấp bách cần phải thu hẹp công trình, nhà cửa... thì dù tạm thời hay vĩnh cửu đều phải tiến hành ngay.

Từ 5 mét trở ra cho đến hết phạm vi hành lang bảo vệ. Bộ Giao thông vận tải sẽ cùng Uỷ ban nhân dân các tỉnh xem xét kết hợp với việc mở rộng, cải tạo nâng cấp đường của từng tuyến, từng khu vực để ấn định thời gian di chuyển cho thích hợp.

c) Hiện nay hầu hết các tuyến đường còn quá hẹp chưa vào cấp kỹ thuật, nên Điều lệ đã quy định tất cả công trình, nhà cửa kho tàng, lò vôi, lò gạch... làm mới phải xây dựng ra ngoài hành lang bảo vệ đường bộ 15 mét để sau này việc cải tạo mở rộng đường xã được thuận tiện không gây thiệt hại cho các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân; mặt khác khi cần mở rộng công trình, nhà cửa... cũng không vi phạm hành lang bảo vệ.

Một vấn đề thực tế cần đặc biệt quan tâm là các trạm vật tư, kho tàng, của hàng ăn uống, hoặc bách hoá, ... ở cạnh đường có xe ra vào hoặc đỗ lại thường xuyên phải có bãi để xe riêng hay quy định nơi đậu có trật tự ngoài lề mặt đường để không ảnh hưởng tới giao thông. Đối với một số trạm vật tư, kho tàng, cửa hàng... đã xây dựng cũng phải cố gắng tìm vị trí đỗ xe, còn đối với xây dựng mới nhất thiết phải làm bãi đỗ xe. Cơ quan xây dựng cũng như cơ quan cấp giấy phép xây dựng cần phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định này. Các cơ quan quản lý đường bộ đôn đốc nhắc nhở khi thấy cơ quan nào xây dựng mà chưa đề cập đên bãi đỗ xe thì báo cáo với Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết.

d) Để phục vụ lợi ích chung, những trường hợp khó khăn đặc biệt cần phải xây dựng các công trình, đê điều, kênh mương... trong hoặc sát hành lang bảo vệ đường bộ thì cơ quan xây dựng công trình phải được Bộ Giao thông vận tải quản lý (nếu là đường do Bộ Giao thông vận tải quản lý) Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý) chấp thuận và chỉ được tiến hành thi công sau khi đã thống nhất các biện pháp bảo vệ cầu, đường...

Về nguyên tắc thì trường hợp này là vi phạm Điều lệ nhưng do quá khó khăn nếu phải khắc phục xây dựng ra xa hành lang bảo vệ sẽ tốn kém lớn, thì Bộ Giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ vào đề án thiết kế công trình, đến đặc điểm yêu cầu bảo đảm tối thiểu sự ổn định của công trình đường bộ và an toàn giao thông để xét duyệt và kinh phí tăng cường công trình giao thông do công trình khác vi phạm vào hành lang bảo vệ phải đài thọ.

e) Để tận dụng đất đai trong hành lang bảo vệ. Điều lệ có cho phép trồng cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp. Tuy vậy chỉ được trồng những loại cây thu hoạch trong thời gian ngắn, không trồng cây lưu niên loại lớn có bộ rễ đâm ngang, tán lá rộng để bảo đảm ổn định của nền mặt đường, không ảnh hưởng tới tầm nhìn của lái xe và mùa gió bão không đổ ra đường làm ách tắc giao thông hoặc gây tai nạn trên đường. Khi có yêu cầu mở rộng, cải tạo đường sá phải trả lại đất cho ngành giao thông vận tải trong thời gian ngắn nhất.

Khi trồng bất kỳ loại cây nào cũng phải theo đúng quy định cách 1 mét đối với chân mái đường đắp và 6 mét đối với đỉnh mái đường đào để khỏi sạt lở mái đường.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 8.- Trong phạm vi hành lang bảo vệ đường bộ:

1. Nghiêm cấm xây dựng nhà cửa, lều quán, kho tàng, công trình (tạm thời hoặc vĩnh cửu) hay lấy cắp đất, đá, v. v...

2. Những nhà cửa, công trình, kho tàng, v. v.. đã có trước ngày ban hành điều lệ này nếu xét thấy không ảnh hưởng tới sự ổn định, bền vững của cầu đường và an toàn giao thông thì tạm thời được để lại nhưng không được phát triển thêm. Trường hợp cần thiết phải rời bỏ hoặc thu hẹp lại thì giải quyết như sau;

a) Các công trình, nhà cửa, v.v... thuộc địa phương quản lý hay của nhân dân thì Uỷ ban nhân dân tỉnh thông báo cho các cơ quan, xí nghiệp hoặc nhân dân có tài sản đó rời đi trong một thời gian nhất định và cùng Bộ Giao thông vận tải xét bồi thường, nếu có giấy phép xây dựng của cấp có thẩm quyền.

b) Các công trình, nhà cửa, v.v.. thuộc cơ quan trung ương quản lý và trước đây xây dựng có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền thì Bộ Giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân tỉnh bàn với cơ quan có tài sản đó giải quyết hoặc trình Hội đồng bộ trưởng xem xét và quyết định.

3. Các nhà cửa, kho tàng, lò vôi, lò gạch, v.v.. làm mới phải xây dựng ra ngoài hành lang bảo vệ đường bộ là 15 mét. Các trạm vật tư, cửa hàng, v.v.. ở cạnh đường có xe ra vào hoặc đỗ lại thường xuyên phải có bãi đỗ xe riêng để không ảnh hưởng đến giao thông.

4. Trường hợp khó khăn đặc biệt cần xây dựng các công trình, đê điều, kênh mương phải được Bộ Giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ Giao thông vận tải quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý) chấp thuận và thống nhất về các công trình bảo vệ cầu đường thì mới được xây dựng.

5. Được phép trồng hoa màu, cây lương thực, cây công nghiệp, nhưng phải trồng cách mép chân mái đường đào ít nhất là 1 mét và cách mép đỉnh mái đường đắp là 6m. Việc cấp đất để trồng trọt do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo các quy định của Nhà nước về quản lý đất đai và phải được sự thoả thuận của Bộ Giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ Giao thông vận tải quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý).
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ
...
3. Những đường ngang nối từ đường chính (điều 11).

Trên các tuyến đường bộ, có nhiều đường ngang nối từ đường chính vào các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, xóm làng... Phần lớn những đường ngang thấp hơn đường chính, nên chỗ tiếp giáp đường chính thường bị đào xẻ làm sạt lở mái đường, lề đường, nhiều chỗ đã lấn tới vào tới mép đường gây nguy hiểm cho xe cộ, bộ hành qua lại. Do vậy, nghiêm cấm việc hạ thấp hoặc bạt xẻ... vào nền mặt đường chính để bảo đảm sự ổn định của đường chính, mặt khác Điều lệ còn quy định chỗ tiếp giáp đường ngang phải có một đoạn bằng đường chính mục đích để nhằm bảo đảm sự đi lại được bình thường trên đường ngang.

Đối với những đường ngang hiện có nếu thấp hơn đường chính thì cơ quan, xí nghiệp... sử dụng đường ngang phải tôn cao bằng đường chính chỗ tiếp giáp một đoạn (ít nhấy là 2 mét) rồi mới vuốt dốc, Nếu đường ngang cao hơn (ở vùng đồi, núi) không được để đường vượt cao hơn lề mặt đường chính, đoạn tiếp giáp phải làm bằng hoặc có độ dốc rất nhỏ (tối đo là 2,%) và phải có công trình thoát nước không để nước xói vào đường chính.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 11.- Những đường ngang nối từ đường chính vào cơ quan, xí nghiệp, xóm làng đều phải đào, đắp cao bằng mặt đường chính, không được hạ thấp hoặc bạt xẻ, v.v... vào nền mặt đường chính.

Trường hợp khi xây dựng đường chính cắt ngang đường vào cơ quan, xí nghiệp, xóm làng đã có trước thì phải tôn cao hoặc hạ thấp mặt đường ngang bằng mặt đường chính một đoạn nhất định để bảo đảm sự đi lại trên đường ngang bình thường.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ
...
4. Những công trình được phép xây dựng có ảnh hưởng lớn tới cầu đường (điều 12).

Những công trình như khai khoáng; đê đập chắn nước; sân bay... có ảnh hưởng tới một phạm vi rộng đến các công trình giao thông như làm ngập lụt hoặc không an toàn đối với cầu đường, bến phà phao. Khi đã được Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn thì cơ quan có công trình phải làm các công trình giao thông thay thế. Việc thiết kế các công trình giao thông thay thế phải được Bộ Giao thông vận tải hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh thống nhất để bảo đảm đúng chuẩn tắc kỹ thuật như công trình cũ.

Để bảo đảm thông liên tục, an toàn, việc cắt bổ cầu, đường, bến phà cũ chỉ được tiến hành sau khi công trình giao thông mới là thay thế đã hoàn chỉnh, bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật như thiết kế và có đầy đủ hệ thống cọc tiêu, biển báo. Khi bàn giao phải có biên bản cụ thể và đầy đủ hồ sơ của công trình để tiện cho việc quản lý sau này.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 12.- Những công trình được Hội đồng bộ trưởng cho phép xây dựng như khai khoáng, đê, đập, hồ chứa nước, sân bay, v.v... có thể làm ngập cầu đường, bến phà phao thì cơ quan có công trình phải làm các công trình giao thông khác thay thế.

Việc cắt bỏ cầu, đường, bến phà cũ chỉ được tiến hành sau khi thông xe trên các công trình giao thông thay thế bảo đảm kỹ thuật an toàn và đủ hệ thống báo hiệu.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ
...
5. Việc ngăn cấm, hạn chế giao thông (điều 13).

Việc ngăn cấm đường một cách tuỳ tiện sẽ gây ách tắc giao thông, làm mất trật tự trên đường hoặc không an toàn nếu hướng dẫn xe đi vào những tuyến đường khác chưa đủ hệ thống an toàn, mặt khác rất ảnh hưởng tới kế hoạch vận chuyển và sự đi lại của nhân dân. Do vậy việc ngăn cấm đường phải hết sức thận trọng, chỉ trường hợp cấp bách do yêu cầu an ninh chính trị, trật tự xã hội, chiến đấu thì mới ngăn cấm đường và cố gắng hạn chế trong thời gian ngắn nhất cũng như thời gian thích hợp nhất để ít ảnh hưởng tới sự giao thông bình thường. Khi cần thiết, thủ trưởng cơ quan công an cấp tỉnh ra lệnh ngăn cấm đường hoặc hạn chế giao thông phải báo cáo các cơ quan quản lý đường bộ biết trong một thời gian cần thiết để có điều kiện chuẩn bị phối hợp, điều khiển phân luồng để khỏi ùn tắc giao thông gây mất trật tự trên đường và bảo đảm an toàn trên tuyến phân luồng.

Các trạm kiểm soát giao thông (của đơn vị giao thông, công an) cần làm cố định ở những địa điểm cần thiết trên tuyến đường, không gây trở ngại cho các xe cộ. Các cơ quan thuế quan, kiểm lâm nhân dân khi cần kiểm soát trên đường trên đường giao thông công cộng để được thực hiện nhiệm vụ của mình thì chỉ được tổ chức kết hợp kiểm soát ở các trạm kiểm soát giao thông hay ở các bến xe.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 13.- Nghiêm cấm việc ngăn cấm đường hoặc làm cản trở giao thông nếu không có giấy phép của cơ quan quản lý giao thông đường bộ có thẩm quyền. Trường hợp do yêu cầu an ninh chính trị, trật tự xã hội, quốc phòng thì cơ quan công an, quân sự có thẩm quyền được phép tạm thời đình chỉ hoặc hạn chế giao thông làm nhiệm vụ, nhưng phải báo ngay cho cơ quan quản lý giao thông đường bộ có thẩm quyền biết phối hợp cộng tác để khỏi ách tắc giao thông.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ
...
6. Nghiêm cấm mọi việc xâm phạm đến công trình giao thông (điều 14).

Về nguyên tắc mọi việc xâm phạm vào công trình giao thông đường bộ đều là vi phạm điều lệ này.

Tuy vậy trong thực tế cần phải phục vụ lợi ích chung, nhất là nông nghiệp, thì tạm thời phải cho phép như đắp con chạch trên lề mặt đường để chống lụt; xẻ đường, bơm nước qua đường để chống hạn, chống úng cứu lúa... Nhưng phải thi hành đúng quy định là có phương án phòng chống lụt, úng... trước do Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt; thống nhất với ngành giao thông vận tải về vị trí, mức độ xâm phạm vào công trình giao thông. Trước khi tiến hành phải báo cáo cho cơ quan quản lý đường biết để phân luồng hoặc hạn chế giao thông. Khi làm xong nhiệm vụ cơ quan chống lụt, úng, hạn có trách nhiệm sửa chữa, thu dọn trả lại đường sá như cũ, hoặc có thể hợp đồng với ngành giao thông vận tải sửa chữa cho bảo đảm kỹ thuật và chất lượng.

Nếu cơ quan chống lụt, úng, hạn không thu dọn, sửa chữa hoặc sửa chữa không bảo đảm chất lượng kỹ thuật như cũ thì sau một tháng cơ quan quản lý đường bộ phải thu dọn, sửa chữa lại và mọi phí tổn cơ quan chống lụt, úng, hạn phải đài thọ.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 14.- Nghiêm cấm việc xâm phạm các công trình giao thông. Trường hợp chống lụt, chống úng, chống hạn cần có phương án trước và trước khi tiến hành nhiệm vụ phải báo cho cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền biết. Khi xong, cơ quan chống lụt, úng, hạn phải sửa lại cầu đường như cũ, bảo đảm kỹ thuật và thời hạn quy định.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ
...
7. Trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ, nhân viên giao thông, cảnh sát giao thông làm nhiệm cụ bảo vệ đường sá (điều 20).

Để việc chấp hành điều lệ này được nghiêm túc và có hiệu quả, Hội đồng Bộ trưởng đã quy định trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ, nhân viên chuyên trách bảo vệ các công trình giao thông đường bộ, nhân viên cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên đường nhằm nâng cao pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Những cán bộ, nhân viên được giao chuyên trách bảo vệ cầu, đường... cần nghiên cứu, học tập để nắm vững tinh thần, nội dung của điều lệ này cùng các luật khác như Luật đường bộ; Điều lệ phạt vi cảnh; quy tắc bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường ô tô; Quy định việc đi lại trên đường ô-tô công cộng đối với các loại xe có trọng tải lớn, xe có bánh xích; Báo hiệu đường bộ; các quy định về lưu thông trong thành phố của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương v.v..., thể thức lập biên bản và xử lý vi phạm. Riêng việc tạm thời định chỉ những công trình đang làm cần hết sức quan trọng, chính xác để khỏi gây trở ngại, lãng phí cho đơn vị đang xây dựng. Trường hợp thật cụ thể xét không đình ngay sẽ dẫn tới tai nạn giao thông, ách tắc giao thông và hư hỏng công trình đường bộ như đào xẻ ngang dọc đường, dẫn nước qua đường; dựng tường khẩu hiệu, lều quán bán hàng, nhà cửa che mất tầm nhìn... Mỗi khi tạm đình chỉ công trình đang thi công phải lập biên bản gửi ngay lên cấp trên và thủ trưởng đơn vị công trình để giải quyết. Đồng thời có thể liên hệ với lực lượng cảnh sát nhân dân, quân cảnh (nếu công trình đó của lực lượng vũ trang) để cùng phối hợp giải quyết cho có hiệu quả.

Khi làm nhiệm vụ, cán bộ, nhân viên giao thông cần có giấy uỷ nhiệm, băng đeo, biên lai như đã hướng dẫn ở điểm 4, phần I trong thông tư này.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 20.- Cán bộ, nhân viên chuyên trách việc bảo vệ các công trình giao thông; nhân viên cảnh sát nhân dân đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên đường có quyền:

1. Kiểm tra, lập biên bản và xử lý các vụ vi phạm điều lệ này theo luật lệ hiện hành hoặc đề nghị truy tố trước pháp luật.

2. Tạm thời đình chỉ những công việc đang làm xét thấy có thể gây tổn hại đến các công trình giao thông hoặc đe doạ đến sự an toàn đối với xe cộ, người đi trên đường và báo ngay cho thủ trưởng cơ quan , xí nghiệp quản lý công việc đó giải quyết kịp thời.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Mục II Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ
...
III. THƯỞNG, PHẠT

Điều lệ đã quy định thưởng cho những tổ chức, cá nhân có thành tích bảo vệ các công trình đường bộ, ngăn chặn được những tai nạn giao thông, phát hiện những tổ chức , cá nhân đã vi phạm cầu, đường phà phao... Việc khen thưởng cần chính xác, kịp thời để động viên những tổ chức, cá nhân có thành tích, kể cả địa phương, có phong trào bảo vệ đường tốt. Trường hợp đã ngăn chặn được những vụ việc vi phạm lớn bảo vệ an toàn cho công trình và sự đi lại trên cầu, đường phà phao cần thưởng vật chất thích đáng. Hàng năm các cơ quan quản lý đường bộ cần tổng kết phong trào bảo vệ đường bộ, phối hợp với các cấp chính quyền ven đường và các ngành có liên quan phát động phong trào bảo vệ đường bộ trong các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân.

Về các hình thức xử lý, điều lệ quy định cụ thể:

- Phạt tiền theo Điều lệ phạt vi cảnh (ban hành kèm theo nghị định số 143-CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ) đối với những vi phạm có tính chất đơn giản, rõ ràng và mức độ thiệt hại không nghiêm trọng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc các biện pháp hành chính khác như làm xiêu ngả cọc tiêu, biển báo hiệu, chăn trâu bò trên đường; buộc trâu bò vào cọc tiêu, hàng cây hai bên đường, cột biển báo; phơi rơm rạ, để vật tư hàng hoá trên đường...

- Bắt bồi thường thiệt hại đối với những vi phạm nghiêm trọng hoặc những vi phạm đã cố tình không chấp hành điều lệ làm hư hỏng đến công trình đường bộ như tuỳ tiện cho xe bánh xích chạy trên đường làm hỏng mặt đường; xe quá khổ, quá tải làm hư hỏng lan can, ván mặt cầu, đổ gẫy cọc tiêu, biển báo; đào đường, vỉa hè... thì ngoài việc phạt vi cảnh còn lập biên bản xác định mức độ hư hỏng buộc người hoặc cơ quan vi phạm phải bồi thường.

- Truy tố trước pháp luật đối với những vi phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng gây tổn thất lớn đến công trình đường bộ như xe quá tải đi không có giấy phép làm sập cầu, lấy cắp sắt thép, ván cầu, đào xẻ đường không có giấy phép gây đổ xe..., thì tuỳ theo tính chất vi phạm và mức độ thiệt hại mà đưa ra truy tố trước pháp luật.

Các điều trong điều lệ đã quy định rõ ràng, đầy đủ thì thông tư không đề cập tới nữa.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Trong quá trình thực hiện các ngành, các địa phương, các đơn vị có liên quan phản ánh cho Bộ giao thông vận tải biết những vướng mắc để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 21.- Cá nhân hoặc tổ chức nào có thành tích trong việc bảo vệ đường bộ, ngăn chặn hay phát hiện những vụ vi phạm điều lệ này sẽ được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

Cá nhân hoặc tổ chức nào vi phạm điều lệ này sẽ tuỳ theo mức độ vi phạm, bị xử lý theo các hình thức sau đây:

- Phạt tiền theo điều lệ xử phạt vi cảnh đối với những vi phạm đơn giản, mức độ thiệt hại không đáng kể.

- Bắt bồi thường thiệt hại đối với những vi phạm nghiêm trọng.

- Truy tố trước pháp luật đối với những vi phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Việc đẩy mạnh trồng cây và quản lý cây hai bên đường giao thông được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 16-TT/LB năm 1985 có hiệu lực từ ngày 13/06/1985
Thi hành quyết định 184 - HĐBT ngày 6-11-1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc "Đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng" và Nghị định 203-HĐBT ngày 21-12-1982 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành "Điều lệ bảo vệ đường bộ", liên Bộ Lâm nghiệp và Giao thông vận tải ban hành Thông tư hướng dẫn các địa phương đẩy mạnh công tác trồng cây và bảo vệ cây hai bên đường giao thông.

I. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC TRỒNG CÂY TRONG CÁC NĂM QUA:

Trong hơn 20 năm qua, kể từ khi Bác Hồ phát động toàn dân thực hiện "Tết trồng cây" được sự quan tâm lãnh đạo của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và sự chỉ đạo của 2 Bộ: Giao thông vận tải và Lâm nghiệp, cho đến nay việc trồng cây trên các đường giao thông, từ các quốc lộ cho đến các đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường chuyên dùng.... đã được trồng cây và đã mang lại nhiều kết quả về các mặt: kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng. Nhiều hàng cây hai bên đường đã phát triển xanh tốt, góp phần vào việc tăng cường cơ sở vật chất cho xã hội, đã làm cho các con đường thêm đẹp, tạo bóng mát, giữ độ ẩm bảo vệ mặt đường, chống sạt lở nền đường, chắn gió, cát, điều hòa khí hậu... và trong cuộc chiến tranh bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta, hàng cây đã có tác dụng rất lớn trong việc ngụy trang, nghi trang các công trình giao thông, phương tiện vượt sông, phương tiện vận tải.

Tuy nhiên, việc trồng cây còn tồn tại một số khuyết nhược điểm như:

- Do chưa làm tốt công tác quy hoạch và yêu cầu kỹ thuật trồng cây hai bên đường, đồng thời do nhu cầu phát triển giao thông mở rộng các tuyến đường nên rất nhiều hàng cây, đặc biệt là những hàng cây trồng cách đây 20 - 25 năm đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng đường sá và tầm nhìn của lái xe.

- Việc quản lý các hàng cây do cơ quan quản lý đường phụ trách đã có nhiều cố gắng, nhưng vẫn còn để xẩy ra tình trạng chặt phá bừa bãi, tranh chấp cây cối... gây ra nhiều tổn thất.

II. NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chỉ đạo 2 ngành Giao thông vận tải, Lâm nghiệp và các ngành có liên quan ở địa phương và chính quyền các cấp tổ chức tốt việc trồng, cải tạo, quản lý, bảo vệ, khắc phục các tồn tại do cây trồng gây ra và chủ trì giải quyết các khó khăn mắc mứu ở địa phương đối với hàng cây 2 bên đường giao thông, trên tất các hệ thống đường nằm trong tỉnh.

2. Hàng cây hai bên đường giao thông là một bộ phận cấu trúc của con đường, do đó việc trồng cây và chăm sóc bảo vệ cây phải theo quy hoạch và quy định kỹ thuật trồng cây hai bên đường (kèm theo Thông tư này).

3. Đường quốc lộ là đường có yêu cầu kỹ thuật cao, lưu lượng xe qua lại trên đường nhiều, yêu cầu công tác xây dựng, quản lý, sửa chữa đường phức tạp hơn, vì vậy việc trồng cây hai bên đường giao thông phải tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn và phải có hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý đường. Đồng thời phải nhanh chóng khắc phục các hậu quả do cây trồng gây ra có ảnh hưởng đến giao thông trên đường.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Các Sở giao thông vận tải, Sở lâm nghiệp, liên hiệp xí nghiệp giao thông phối hợp chặt chẽ làm tốt chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và cùng phối hợp chỉ đạo tốt công tác trồng cây ở địa phương, trước mắt cần xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xét duyệt quy hoạch trồng cây mới và cải tạo hàng cây cũ trên toàn bộ tuyến đường (kể cả quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường chuyên dùng). Trong phương án bao gồm cả việc phân phối đất ven đường cho hợp tác xã, cơ quan, trường học, lực lượng vũ trang.... trồng cây và quản lý bảo vệ cây.

2. Căn cứ vào quy hoạch trồng cây đã được duyệt, ngành Giao thông vận tải phối hợp với ngành Lâm nghiệp, tổ chức triển khai việc giao đất trồng cây ven đường, xác định vị trí trồng cây, loại cây trồng cho các đơn vị quốc doanh (bao gồm các đơn vị quản lý đường thuộc Liên hiệp xí nghiệp giao thông Trung ương và địa phương, Liên hiệp Lâm công nghiệp, lâm trường, các đơn vị trực tiếp quản lý đường chuyên dùng...) và các tập thể cơ quan trường học, lực lượng vũ trang, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất... để trồng cây theo quy hoạch và kế hoạch.

3. Các đơn vị quốc doanh và tập thể sau khi nhận đất trồng cây phải có trách nhiệm: trong vòng 2 năm kể từ ngày nhận nhiệm vụ phải tổ chức trồng xong, trường hợp có khó khăn cũng không quá 3 năm.

4. Tổ chức trồng và bảo vệ cây:

4.1. Ngành Giao thông vận tải có trách nhiệm cùng với ngành Lâm nghiệp hướng dẫn kỹ thuật trồng cây theo đúng quy định hướng dẫn chăm sóc, tu bổ, bảo vệ, quản lý khai thác và cải tạo hàng cây trên những đoạn đường đã có cây, kể cả việc tỉa cành, tạo tán cây, đồng thời phát hiện, uốn nắn kịp thời những thiếu sót trái với quy trình, quy tắc trồng cây.

Ngành Lâm nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn việc xây dựng vườn ươm, giúp đỡ về giống và tạo cây con đủ tiêu chuẩn chất lượng theo chủng loại cây trồng trên đường.

4.2. Trên đường đã trồng cây từ trước, đến nay vẫn chưa xác định được quyền sở hữu về cây trồng, nếu ở trên địa bàn tỉnh nào thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương giải quyết dứt điểm để tạo điều kiện tổ chức quản lý, chăm sóc, bảo vệ được tốt; đồng thời vận dụng và xác định chính sách hưởng thụ cho phù hợp, thoả đáng cho các cá nhân, đơn vị trước đây đã trồng và thường xuyên chăm sóc bảo vệ. Tuyệt đối không được để xẩy ra tình trạng chặt phá bừa bãi, ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng cây trồng cũng như ảnh hưởng đến giao thông trên đường.

4.3. Ủy ban nhân dân các địa phương chỉ đạo hai ngành Giao thông vận tải và Lâm nghiệp tổ chức tốt việc thu dọn cây bị nghiêng ngả, xiêu vẹo, cây bị đổ gẫy bất thường để nhanh chóng giải phóng mặt đường, đảm bảo giao thông nếu không thực hiện kịp thời, các đơn vị quản lý đường có thể đưa người ra thu dọn và người sở hữu cây trồng phải thanh toán các chi phí.

5. Việc chặt hàng loạt cây để cải tạo hàng cây hoặc các cây đã đến tuổi khai thác, chặt các hàng cây để mở rộng mặt đường v.v... đều phải lập thành phương án thuyết minh cụ thể, trên nguyên tắc là phải đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn và không làm ảnh hưởng các công trình giao thông. Việc xét các phương án quy định như sau:

- Nếu là đường quốc lộ do Trung ương quản lý được Liên hiệp các xí nghiệp giao thông cùng với Sở Giao thông vận tải, Sở Lâm nghiệp xét quyết định, đồng thời phải có văn bản báo cáo về Bộ Giao thông vận tải (Vụ Quản lý tài chính - Giao thông) và Bộ Lâm nghiệp (Cục kiểm lâm nhân dân).

- Nếu là đường quốc lộ đã phân cấp cho địa phương quản lý, đường tỉnh, đường chuyên dùng phải được Sở Giao thông vận tải và Sở Lâm nghiệp xét quyết định.

- Nếu là đường huyện, đường xã do tổ chức Giao thông vận tải và Lâm nghiệp huyện xét quyết định. Khi thi công phải hết sức khẩn trương, tránh gây cản trở giao thông, đào gốc cây phải đắp phụ trả lại nền đường.

Tuyệt đối nghiêm cấm việc tuỳ tiện chặt cây, xén cành, tỉa cây, tỉa cảnh làm hư hại hàng cây, đường cây. Ai vi phạm phải bồi thường thiệt hại hoặc xử lý theo pháp luật hiện hành.

6. Việc sử dụng gỗ, củi và các sản phẩm khác:

6.1. Tất cả các cây trồng bằng vốn đầu tư của Nhà nước do bất kỳ cơ quan nào quản lý thì toàn bộ sản phẩm thu hoạch được đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.

- Các hoa quả, cành nhánh hoặc tỉa thưa khi cây còn nhỏ chỉ có thể làm củi thì cơ quan quản lý cây trồng được sử dụng cho nhu cầu của mình.

- Đối với gỗ, cơ quan trồng cây được ưu tiên sử dụng và sẽ trừ vào chỉ tiêu kế hoạch gỗ hàng năm. Trường hợp sử dụng không hết thì chuyển cho ngành Lâm nghiệp phân phối theo kế hoạch Nhà nước. Tiền thu được phải nộp ngân sách Nhà nước sau khi đã trừ các khoản chi phí chặt hạ, vận chuyển, bảo quản v.v...

Nghiêm cấm việc tuỳ tiện sử dụng cho tập thể, cá nhân hay phân phối nội bộ làm thiệt hại công quỹ.

6.2. Cây trồng của tập thể (Hợp tác xã, cơ quan ...)

Toàn bộ sản phẩm thu hoạch được cả chính và phụ của các đơn vị có công trồng, chăm sóc, bảo vệ đều được tự do sử dụng. Nếu dùng không hết được bán ra (kể cả bán cho Nhà nước) theo giá thoả thuận. Trường hợp chỉ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ cây thì chỉ được hưởng một tỷ lệ nhất định do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.

7. Để thông tư triển khai có kết quả, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chỉ đạo 2 ngành Lâm nghiệp và Giao thông vận tải, các ngành liên quan cùng chính quyền các cấp ở địa phương hoàn thành tốt việc trồng cây hai bên đường giao thông, chủ trì giải quyết những khó khăn, mắc mứu ở địa phương và các ngành liên quan, có biện pháp nhanh chóng và hiệu quả chấm dứt nạn chặt phá cây cối bừa bãi hai bên đường giao thông.

Do yêu cầu cấp bách và tầm quan trọng của công tác trồng cây gây rừng nói chung và trồng cây ở 2 bên đường giao thông nói riêng, Liên Bộ Lâm nghiệp và Giao thông vận tải đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương hết sức quan tâm đến công tác trồng cây, bảo vệ cây trên các đường giao thông.

Thông tư liên Bộ này có hiệu lực kể từ ngày ký. Bãi bỏ các văn bản trước đây trái với nội dung của Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện Thông tư nếu gặp khó khăn cần phản ánh kịp thời để liên Bộ nghiên cứu giải quyết.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 19.- Không được thả rông chăn dắt súc vật ở mái đường, lề đường và buộc vào hàng cây hai bên đường hoặc hệ thống cọc tiêu biển báo trên đường.

Không được tuỳ tiện chặt, phá hàng cây hai bên đường, cây chắn sóng, chắn cát trong hành lang bảo vệ đường.

Không được đào mương, phá rừng ở sát dọc hai bên đường, ở gầm cầu.
Việc đẩy mạnh trồng cây và quản lý cây hai bên đường giao thông được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 16-TT/LB năm 1985 có hiệu lực từ ngày 13/06/1985
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 21-TT/PC-1984 có hiệu lực từ ngày 07/02/1984 (VB hết hiệu lực: 20/04/2000)
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Điều 17 trong điều lệ của Hội đồng Bộ trưởng đã ghi: "Những xe máy, xe bánh xích, xe quá trong tải, quá khổ giới hạn qui định muốn chạy trên đường giao thông công cộng phải có giấy phép của Bộ giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ quản lý) hoặc của Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do tỉnh quản lý) và phải chấp hành các quy định về việc bảo vệ cầu đường, phà, phao v.v...".
Điều 22 của điều lệ quy định: "Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải có trách nhiệm quy định cụ thể việc thi hành điều lệ này".
Căn cứ vào nghị định và điều lệ của Hội đồng Bộ trưởng trên đây, Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn việc thi hành như sau:

I. TÌNH HÌNH LƯU THÔNG CỦA CÁC LOẠI XE BÁNH XÍCH,XE CÓ TRỌNG TẢI LỚN, XE QUÁ KHỔ GIỚI HẠN CỦA CẦU ĐƯỜNG.

Hệ thống cầu đường của ta nói chung là xấu, yếu chưa vào cấp quy định, lại bị địch đánh phá trong những năm chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và chiến đấu để giải phóng miền Nam.

Hiện nay tuy đã sửa chữa, hoàn chỉnh, nâng cấp nhiều đoạn đường nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu vận tải ngày càng phát triển để phục vụ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ xây dựng kinh tế.

Nhiều xe bánh xích, xe nặng vượt quá trọng tải thiết kế của cầu đường, xe quá khổ hoạt động trên đường đã không xin giấy phép hoặc tuy có giấy phép nhưng chấp hành không đúng các luật lệ giao thông và sự hướng dẫn việc đi lại đối với các loại xe này của cơ quan quản lý cầu đường bộ.

Do đó, đã làm cho cầu đường vốn đã xấu từ trước nay càng phát sinh biến dạng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động của vận tải ô tô, gây lãng phí nhiều tiền của của Nhà nước. Thậm chí còn gây ra những tai nạn giao thông đáng tiếc.

Để thi hành nghiêm chỉnh Nghị định số 203-HĐBT ngày 21-12-1982 của Hội đồng Bộ trưởng nhằm ngăn ngừa các hiện tượng làm hư hại cầu đường, kéo dài tuổi thọ các công trình bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.

Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể như sau.

II. CÁC LOẠI XE THUỘC ĐỐI TƯỢNG PHẢI CÓ GIẤY PHÉP ĐI LẠI TRÊN ĐƯỜNG GIAO THÔNG CÔNG CỘNG.

A. XE VƯỢT QUÁ TRỌNG TẢI QUI ĐỊNH.

1. Các loại xe có tổng trọng tải (xe và hàng) trên 13 tấn hoặc các xe kéo theo sơ-mi rơ-moóc (đầu kéo kéo theo sơ-mi rơ-moóc) hay kéo theo moóc bàn có từ 3 trục bánh trở lên nặng trên 16 tấn chạy trên các đoạn đường nêu trong phụ lục 1 của thông tư này (1).

2. Các loại xe có tổng trọng tải trên 10 tấn không kéo theo rơ-moóc hoặc có kéo theo rơ-moóc thì tổng cộng (xe, moóc, hàng) quá 15 tấn chạy trên các tuyến giao thông công cộng khác ngoài những đoạn đường nêu ở phụ lục 1 của các thông tư này (1).

3. Các loại xe có tổng trọng tải dưới mức qui định ở điểm 1 và 2 trên đây được chạy bình thường trên các đường giao thông thuộc trung ương quản lý và không phải xin giấy phép của cơ quan giao thông vận tải.

Nhưng các loại xe này khi chạy trên các đường thuộc địa phương quản lý thì phải tuân theo qui định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu về trọng tải cho phép đối với từng đường đó. Trường hợp xe vượt quá trọng tải qui định thì đều phải có giấy phép như các loại xe qui định ở điểm 1 và 2 trong mục A này.

B. XE BÁNH XÍCH BAO GỒM:

- Xe có bánh xích nhọn như xe ủi đất loại C100, C300, DT75, máy xúc vợt v.v...

- Xe có bánh xích gai như các loại xe kéo pháo ATC, ATL, xe tăng, xe thuyền, máy ủi DT.54, Đông phương hồng v.v...

- Xe có bánh xích bằng như xe đào đất, xe máy xúc, xe cần cẩu.

C. XE CÓ KÍCH THƯỚC VƯỢT QUÁ QUI ĐỊNH (QUÁ KHỔ):

1. Các loại xe có kích thước dài quá 8 mét (nếu kéo theo moóc thì dài quá 14 mét) rộng quá 2,60 mét chạy trên các đường nêu trong phụ lục 1 của thông tư này.(1)

2. Các xe có kích thước dài quá 7 mét (nếu kéo theo moóc thì dài quá 13 mét) rộng quá 2,50 mét - chạy trên các đường do trung ương và địa phương quản lý ngoài những đoạn đường nêu trong phụ lục 1 của thông tư này (1).

3. Các xe có cấu trúc các thiết bị chuyên dùng như dàn khoan, gầu đào, cần cẩu v.v... hoặc trên xe có chở hàng nếu thiết bị chuyên dùng hoặc hàng hoá trên xe chờm ra khỏi bề ngang thùng xe, chờm ra khỏi thân xe phía trước và phía sau xe quá 2,50 mét, cao quá 3,50 mét (từ mạt đất trở lên). Riêng hàng hoá nếu xếp chờm ra phía trước thân xe đều phải xin phép.

III. QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CẤP GIẤY PHÉP

1. Các xe có trọng tải lớn, xe có kích thước vượt quá qui định và xe có bánh xích của tất cả các cơ quan, các ngành (kể cả quân đội) nêu ở phần II trên đây khi chạy trên đường giao thông công cộng do trung ương hoặc địa phương quản lý đều phải có giấy phép của cơ quan giao thông vận tải có thẩm quyền dưới đây cấp:

a) Các xe chỉ chạy trên các đường địa phương hoặc đường trung ương quản lý nằm trong phạm vi một tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương do sở giao thông vận tải nơi đó cấp.

b) Các xe chạy trên các đường trung ương hoặc địa phương quản lý qua từ 2 tỉnh trở lên do vụ quản lý thi công và giao thông thuộc Bộ giao thông vận tải cấp.

c) Các cơ quan, đơn vị có các loại xe trên khi cần cho xe chạy trên đường phải có công văn yêu cầu cấp giấy phép gửi tới cơ quan giao thông vận tải có thẩm quyền qui định ở điểm 1 trên đây.

Giấy phép cấp theo mẫu thống nhất, khi cấp giấy phép, cơ quan cấp giấy phép được thu một khoản tiền lệ phí là 10 đồng cho mỗi giấy phép (trừ các xe thuộc lực lượng vũ trang).

IV. ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN

Các loại xe nêu trong phần II khi được phép chạy trên đường giao thông công cộng phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1. Xe có trọng tải lớn:

Các loại xe có trọng tải lớn khi hoạt động trên đường thường gây hư hỏng cầu đường và có thể xảy ra tai nạn nên đối với các thiết bị nặng cần phải tận dụng phương tiện vận tải thuỷ hoặc đường sắt để chuyên chở.

Trường hợp không có điều kiện mới được vận chuyển bằng đường bộ. Tinh thần chung là các loại xe có trọng tải lớn chỉ dùng để chở các thiết bị lớn hoặc cồng kềnh mà các loại xe nhẹ không thể chuyên chở được. Không dùng các loại xe này để chở các loại hàng rời như cát, đá, sỏi, gạch, ngói, vôi, than, xi măng, nhựa đường, tre, nứa lá, thóc gạo, v.v...

Trừ trường hợp kết hợp vận chuyển hai chiều có ghi trong giấy phép, các xe được cấp giấy phép phải trở đúng hàng và trọng tải đã ghi trong giấy phép.

- Khi qua các cầu, xe phải đi từng chiếc một, đi chậm, đúng tim cầu. Cự ly của xe đối với xe khác tối thiểu 30 mét. Cấm vượt xe khác trên cầu.

- Trường hợp nếu cầu đường bị hư hỏng bất ngờ, người lái xe phải bằng biện pháp nhanh nhất báo cho đơn vị quản lý đường sở tại biết đến giải quyết.

- Trường hợp do yêu cầu cấp thiết của Nhà nước phải vận chuyển các kiện hàng quá nặng trên các đường mà khả năng chịu lực của cầu đường, phà không thể đáp ứng được thì các cơ quan chủ hàng, chủ xe phải có kế hoạch trước với Bộ Giao thông vận tải, Sở giao thông vận tải hoặc Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông khu vực để bàn bạc các kế hoạch tăng cường cầu đường.

2. Đối với xe bánh xích. Xe bánh xích khi chạy trên đường thường gây hư hại lớn cho mặt đường, mặt cầu, phà, gây trở ngại và dễ gây tai nạn cho xe và người qua lại trên đường. Do đó, tinh thần chung là hạn chế các loại xe xích tự hành trên các đường giao thông.

a) Đối với tất cả các loại xe bánh xích bằng:

- Trường hợp đi từ kho đến các nơi nếu có đường sắt thì phải chuyển bằng đường sắt, nếu không có đường sắt phải trở bằng moóc bàn.

- Trường hợp phải tự hành thì chỉ được tự hành trên các đoạn đường dài tối đa là 2 kilô mét. Hạn chế hết mức loại xe này đi trên đường đã trải nhựa, đã đổ bê tông nhựa.

- Các xe bánh xích khi tự hành trên đường phải thực hiện các biện pháp bảo vệ qui định dưới đây:

Phải tranh thủ đi qua đêm, không đi lúc trưa nắng, không được chạy nhanh quá 10km/h, không được rẽ ngoặt bất ngờ hoặc quay đầu xe, máy ngay trên mặt đường.

Khi đi trên đường cố gắng điều khiển để một bánh xích đi trên lề đường.

Người điều khiển xe phải có ý thức bảo vệ cầu đường, bảo vệ an toàn giao thông.

Trường hợp nếu xe bánh xích làm hư hỏng cầu, đường, phà đơn vị quản lý đường có thể đình chỉ tại chỗ không cho xe tiếp tục chạy, lập biên bản, chủ xe và người lái xe phải chịu trách nhiệm.

b) Đối với các loại xe bánh xích nhọn:

Các loại xe bánh xích nhọn khi được phép đi trên đường, cầu, phà (kể cả các xe xích trở trên moóc bàn khi xuống đường tự hành) ngoài việc thực hiện các quy định nêu trong điểm a trên đây, xích của xe phải có guốc bằng cao su hoặc bằng gỗ hay phải lót tôn, lót ván ở hai vệt bánh xích.

Nếu lắp guốc phải được cơ quan quản lý đường sở tại kiểm tra trước khi cho xe chạy.

3. Đối với xe quá khổ:

Các xe quá khổ giới hạn khi chạy trên đường phải chạy với tốc độ quy định ghi trong giấy phép và hết sức thận trọng để tránh tại nạn xảy ra.

- Các xe chở hàng cao hoặc thiết bị có sẵn trên xe cao hơn mức quy định khi chạy trên đường phải có người quan sát và có sẵn dây và các dụng cụ nâng dây điện để hàng hoá hoặc thiết bị của xe khỏi vướng phải.

Khi có gió cấp 5 trở lên các xe quá khổ không được qua phà, cầu phao. - Các xe chở hàng dài chờm ra phía trước, phía sau xe hoặc chờm ra khỏi bề ngang của xe phải có người quan sát để kịp thời thông báo cho mọi người qua lại trên đường biết tránh nguy hiểm.

Riêng đối với các xe chở hàng dài chờm ra phía sau xe hoặc phía sau moóc từ 1 mét trở lên phải có tín hiệu bằng cờ đỏ (ban ngày) đèn đỏ (ban đêm) ở đoạn cuối của hàng hoá. Tuyệt đối không được để kéo lê hàng trên mặt đường.

Trường hợp cần vận chuyển các kiện hàng hoặc các xe có kích thước lớn mà việc đi lại trên đường sẽ gây cản trở giao thông, cơ quan chủ hàng, chủ xe phải có kế hoạch trước với Bộ Giao thông vận tải. Sở giao thông vận tải hoặc liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông khu vực để bàn bạc về kế hoạch cho xe đi.

V. XỬ LÝ:

Những hành động vi phạm thông tư này tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà bị xử lý bàng các hình thức sau đây:

a) Phê bình, cảnh cáo và xử phạt theo điều lệ xử phạt vi cảnh (ban hành kèm Nghị định số 143-CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ.

b) Tạm giữ bằng lái xe chuyển sang cơ quan công an xử lý hoặc cắt ô phiếu kiểm soát.

c) Bồi thường mọi thiệt hại đã gây cho cầu, đường, phà.

Trường hợp vi phạm gây thiệt hại nghiêm trọng cho cầu, đường, phà thì có thể bị truy tố trước pháp luật.

d) Các cán bộ quản lý giao thông được quyền xử lý tại chỗ, lập biên bản và đề nghị truy tố trước pháp luật như quy định trong thông tư số 175-TT/PC ngày 21-9-1978 của Bộ Giao thông vận tải về việc hướng dẫn thi hành điều lệ xử phạt vi cảnh.

VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

1. Các cơ quan, đơn vị có các loại xe nêu trên đây phải thực hiện nghiêm chỉnh việc xin giấy phép và chấp hành các quy định của cơ quan quản lý cầu đường, quản lý chặt chẽ hoạt động của xe, thường xuyên giáo dục lái xe nêu cao ý thức bảo vệ cầu đường, bảo đảm trật tự an toàn giao thông vận tải.

2. Cơ quan quản lý cầu đường: Vụ Quản lý thi công và giao thông phải thường xuyên nắm vững tình hình cầu đường trên tất cả các tuyến đường, kể cả các tuyến đường do địa phương quản lý. Đồng thời hướng dẫn các Sở giao thông vận tải trong việc xét cấp giấy phép cho các loại xe bánh xích, xe quá khổ, xe trọng tải lớn đi lại trên các đường trong phạm vi tỉnh, thành phố, đặc khu.

3. Các sở giao thông vận tải, Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông khu vực có trách nhiệm báo cáo ngay tình hình và khả năng trọng tải của cầu, đường, phà thuộc địa phương mình, đơn vị mình quản lý (kể cả đường địa phương, đô thị chuyên dùng) cho Vụ quản lý thi công và giao thông. Mỗi khi có sự thay đổi về cầu, đường trong địa phương phải kịp thời báo cáo về Vụ quản lý thi công giao thông để tiện việc cấp giấy phép cho các loại xe qua lại.

4. Trong khi cấp giấy phép cho xe có trọng tải lớn đi lại, nếu gặp trường hợp có những loại xe nặng, vượt quá trọng tải cầu, đường mà khả năng của Sở giao thông vận tải không có đủ điều kiện để giải quyết cho xe qua lại an toàn thì phải báo cáo về Bộ giao thông vận tải (qua vụ quản lý thi công giao thông) để giải quyết.

5. Vụ trưởng Vụ quản lý thi công giao thông, Tổng giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông khu vực, giám đốc các sở giao thông vận tải có trách nhiệm theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thi hành thông tư này.

Phải tăng cường công tác kiểm tra an toàn giao thông và có kế hoạch hướng dẫn các đơn vị bảo dưỡng đường bộ, các bến phà, cầu phao phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an và chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ an toàn cầu, đường thường xuyên kiểm tra xe cộ đi lại trên đường, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những hiện tượng vi phạm các qui định bảo vệ an toàn cầu, đường, phà, an toàn giao thông vận tải.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày ký và bãi bỏ Thông tư số 2-TT/PC ngày 22-1-1970 của Bộ giao thông vận tải và các quy định của từng địa phương trái với thông tư này. Đề nghị các Bộ, các ngành và Uỷ ban nhân dân các địa phương phổ biến rộng rãi thông tư này cho các cấp, các đơn vị thuộc quyền biết và thực hiện.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 17.- Những xe máy bánh xích, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn quy định muốn chạy trên đường giao thông công cộng phải có giấy phép của Bộ Giao thông vận tải (nếu là đường do Bộ quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đường do tỉnh quản lý) và phải chấp hành các quy định về việc bảo vệ cầu đường, phà, phao. Đối với đê dùng làm đường hoặc ngược lại thì việc đi lại trên đường đó phải theo đúng luật lệ về giao thông và Điều lệ bảo vệ đê điều của Nhà nước.
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 21-TT/PC-1984 có hiệu lực từ ngày 07/02/1984 (VB hết hiệu lực: 20/04/2000)
Việc quản lý các loại xe quá khổ, xe quá tải trọng giới hạn của cầu đường, các loại xe bánh xích chạy trên đường giao thông công cộng được hướng dẫn bởi Chỉ thị 152-CT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 28/05/1991
Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định số 203-HĐBT ngày 21 tháng 12 năm 1982 ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ, Quyết định số 6-CT ngày 3 tháng 1 năm 1990 nhằm tăng cường tổ chức kiểm tra, xử lý các vi phạm Điều lệ bảo vệ đường bộ.

Tuy nhiên, hiện nay tình trạng ngày càng có nhiều xe bánh xích, xe quá khổ, xe có tải trọng vượt quá giới hạn cho phép của cầu đường vẫn chạy trên đường giao thông công cộng, làm cho đường sá càng bị hư hỏng nặng nề, cầu cống bị sập đổ, thiệt hại tài sản của Nhà nước và nhân dân, làm ách tắc giao thông và gây tai nạn trên đường.

Trước tình hình đó, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện, Bộ Nội vụ, phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, các ngành có liên quan tiến hành ngay những việc sau đây:

1. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành luật lệ giao thông, đặc biệt là việc chấp hành các quy định đối với các loại xe bánh xích, xe quá khổ, xe có tải trọng quá giới hạn của cầu đường, không được hoạt động trên đường giao thông công cộng. Trường hợp đặc biệt thì phải có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền của ngành giao thông vận tải cấp và chủ phương tiện phải chịu mọi chi phí để tăng cường cầu đường và bảo đảm an toàn giao thông.

Trên các trục giao thông có các loại xe nói trên, nhất là các xe chở gỗ thường xuyên hoạt động, ngành giao thông vận tải và bưu điện và cảnh sát giao thông phối hợp với chính quyền địa phương để kiểm tra chặt chẽ các loại xe nói trên và được phép tổ chức cân kiểm tra trọng tải xe.

2. Việc xử lý các vi phạm phải thật nghiêm để bảo đảm việc chấp hành luật lệ có hiệu lực cao. Tuỳ theo mức độ vi phạm để áp dụng các hình thức xử phạt sau:

Phạt tiền, bồi thường thiệt hại đối với cầu đường và buộc phải dỡ phần hàng quá trọng tải giới hạn cho phép của cầu đường. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì phải xử phạt theo luật pháp.

3. Ngành giao thông vận tải có trách nhiệm tăng cường duy tu sửa chữa cầu đường, bảo đảm an toàn giao thông thông suốt.

- Các ngành, các địa phương nhập các loại xe lưu hành trên các đường giao thông công cộng phải căn cứ vào năng lực chịu tải của cầu đường do Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện quy định để tránh lãng phí và không làm mất an toàn cầu đường.

4. Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các ngành có liên quan căn cứ chức năng, quyền hạn được Nhà nước giao có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn, các quy định cụ thể cho sát hợp tình hình, và tổ chức việc thực hiện ngay Chỉ thị này.

5. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh Chỉ thị này.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 5.- Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng giao thông trung ương và địa phương thực hiện các công việc:
...
4. Quy định tải trọng, tốc độ cho phép chạy trên cầu, đường, cấp giấy phép và hướng dẫn các loại xe xích, xe quá tải trọng và quá khổ giới hạn quy định chạy trên đường bộ công cộng.
Việc quản lý các loại xe quá khổ, xe quá tải trọng giới hạn của cầu đường, các loại xe bánh xích chạy trên đường giao thông công cộng được hướng dẫn bởi Chỉ thị 152-CT năm 1991 có hiệu lực từ ngày 28/05/1991
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983
Ngày 21-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 203-HĐBT ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Căn cứ vào điều 22 của Điều lệ , Bộ giao thông vận tải ban hành thông tư hướng dẫn và giải thích thêm để các ngành, các cấp, các đơn vị và mọi công dân thi hành đúng tinh thần nội dung của Điều lệ.
...
B) HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI THÍCH MỘT SỐ ĐIỂM CỦA ĐIỀU LỆ

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG.

1. Trách nhiệm bảo vệ (điều 1,2).

Các hệ thống đường bộ là tài sản xã hội chủ nghĩa và chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nên mọi tổ chức và công dân có nghĩa vụ bảo vệ - mà không chỉ riêng thuộc trách nhiệm ngành giao thông vận tải, để bảo đảm giao thông đường bộ luôn được trật tự, an toàn, thông suốt và thuận tiện cho việc cải tạo, mở rộng đường sá sau này.

Tuy vậy các Sở giao thông vận tải, liên hiệp các xí nghiệp và xí nghiệp liên hợp xây dựng giao thông khu vực (sau đây gọi tắt là các cơ quan quản lý đường bộ) phải là nòng cốt trong việc giữ gìn, bảo vệ đường sá; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan để tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong cán bộ, công nhân viên , lực lượng vũ trang và nhân dân quán triệt để thực hiện điều lệ nghiêm chỉnh. Tất cả các tổ chức, cá nhân xâm phạm hoặc gây hư hại đến các công trình giao thông đều bị xử lý thích đáng.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỘ
...
Điều 1.- Điều lệ này quy định việc bảo vệ đường bộ nhằm bảo đảm cho hệ thống giao thông vận tải đường bộ luôn luôn được trật tự, an toàn, thông suốt và thuận tiện cho việc cải tạo, mở rộng đường sau này.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Phần B Thông tư 185-TT/PC-1983 có hiệu lực từ ngày 26/09/1983