Toàn văn dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục
Nội dung chính
Toàn văn dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (sau đây gọi là dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục).
Dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục

Toàn văn dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục (Hình từ Internet)
Một số nội dung dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục
Sau đây là một số nội dung dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục:
(1) Sửa đổi, bổ sung Điều 6 về hệ thống giáo dục quốc dân
- Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông thực hiện giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
- Cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
+ Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;
+ Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;
+ Giáo dục nghề nghiệp gồm trung học nghề và cao đẳng, đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng;
+ Giáo dục đại học gồm đại học và sau đại học, đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
- Thủ tướng Chính phủ quy định Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
(2) Sửa đổi, bổ sung Điều 12 về văn bằng, chứng chỉ
- Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc sau khi hoàn thành chương trình giáo dục, đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng theo quy định của Luật sửa đổi Luật Giáo dục.
- Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung học nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương.
- Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản do người có thẩm quyền cấp để xác nhận kết quả học tập cho người học sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hoặc cấp cho người học khi dự thi để lấy chứng chỉ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.
- Văn bằng, chứng chỉ số là văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng kỹ thuật số từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Văn bằng, chứng chỉ số có giá trị pháp lý như văn bằng, chứng chỉ giấy.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo; quy định cụ thể về văn bằng, chứng chỉ số và lộ trình cấp, sử dụng văn bằng, chứng chỉ số.
(3) Sửa đổi, bổ sung Điều 14 về phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc
- Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 03 đến 05 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
- Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục.
- Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc.
- Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc.
- Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Các nội dung khác xem chi tiết tại Dự thảo Luật sửa đổi Luật Giáo dục.
