CHÍNH
PHỦ
********
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
Số:
88-CP
|
Hà
Nội, ngày 31 tháng 12 năm 1996
|
NGHỊ QUYẾT
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 88-CP NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 1996 VỀCHƯƠNG
TRÌNH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VẬT LIỆUỞ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010
Khoa học và công nghệ vật liệu
là một tập hợp các ngành khoa học trong việc nghiên cứu thành phần, cấu trúc và
quy trình gia công vật liệu để tạo ra vật liệu có các tính năng kỹ thuật cần
thiết và sản xuất trên quy mô công nghiệp.
Công nghệ tiên tiến trong công
nghiệp vật liệu đóng góp một phần quan trọng không thể thiếu được đối với sự
tăng trưởng kinh tế, là cơ sở phát triển của nhiều ngành mới và sản phẩm mới, tạo
điều kiện khai thác tối ưu các nguồn lực phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao
chất lượng cuộc sống nhân dân và đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Nghị quyết này khái quát tình
hình công nghiệp vật liệu ở nước ta hiện nay, xác định mục tiêu, phương hướng,
nội dung phát triển khoa học và công nghệ vật liệu đến năm 2010 và các chủ
trương, biện pháp chính nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra.
I. TÌNH HÌNH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VẬT LIỆU Ở VIỆT NAM
1. Cho đến nay, Việt Nam phát
triển công nghiệp vật liệu chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên và khoáng sản trong
nước, tuy khá phong phú về chủng loại nhưng phức tạp về phương diện khai thác
và chế biến. Nhìn chung, các mỏ khoáng sản đều có quy mô vừa và nhỏ, hàm lượng
không cao, trữ lượng khai thác thấp và công nghệ tuyển còn lạc hậu.
2. Từ đầu những năm 60 ở miền Bắc
và sau năm 1975 trên cả nước, Chính phủ đã chú trọng xây dựng nền công nghiệp
nước nhà, đã hình thành một số ngành cùng với các khu, cụm công nghiệp vật liệu,
trong đó có một số công trình lớn quan trọng và cải tạo một số công trình kết cấu
hạ tầng, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật bước đầu để công nghiệp hoá đất nước.
Trong các ngành công nghiệp vật
liệu, ngành thép Việt Nam đã được hình thành tương đối sớm. Trong hơn hai chục
năm qua do không có điều kiện đổi mới thiết bị, cho nên công nghệ sản xuất khá
lạc hậu. Những năm gần đây mới chỉ xây dựng thêm một số nhà máy cán thép, đưa sản
lượng thép từ 100.000 tấn/năm 1990 lên 1.000.000 tấn/năm trong năm 1995 nhưng
chủ yếu là thép xây dựng.
Ngành vật liệu xây dựng đặt được
những kết quả nhất định. Hiện nay có 5 nhà máy xi măng lớn: Hải Phòng, Bỉm Sơn,
Hoàng Thạch, Hà Tiên 1 và Hà Tiên 2. Tổng sản lượng của 5 nhà máy trên là 4,6
triệu tấn/năm và của các nhà máy xi măng nhỏ còn lại khác khoảng 2 triệu tấn/năm.
Những nhà máy mới xây dựng trong những năm gần đây đã có công nghệ sản xuất
tương đối hiện đại.
Ngành gốm, sứ, thuỷ tinh chưa được
đầu tư một cách đáng kể, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu do đó sản lượng và chất
lượng còn thấp. Cho đến nay mới chỉ có nhà máy kính Đáp Cầu sản xuất kính xây dựng
là có quy mô tương đối lớn với sản lượng khoảng 2.000 tấn/năm.
Ngành công nghiệp chất dẻo và
sơn đã bắt đầu hình thành trong những năm gần đây. Các loại vật liệu thông dụng
khác được sản xuất với quy mô nhỏ, trên các dây chuyền lạc hậu hoặc thủ công.
Nhìn chung, năng lực công nghiệp
vật liệu nước ta còn nhỏ bé và chưa đủ sức tự đầu tư phát triển, dây chuyền sản
xuất còn lạc hậu và chậm được đổi mới, năng suất và chất lượng còn thấp chưa
đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước, nhiều sản phẩm quan trọng chủ yếu vẫn phải
nhập khẩu.
3. Đảng và Chính phủ đã sớm chăm
lo đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật. Trong nhiều ngành vật liệu, đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đã có khả năng tiếp thu công nghệ mới, thực hiện
việc lắp đặt, vận hành, bảo trì và bước đầu cải tiến công nghệ nhập khẩu cho
phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy nhiên năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học -
kỹ thuật còn hạn chế chưa đủ sức để tạo ra các công nghệ mới, vật liệu mới.
Công tác nghiên cứu triển khai và áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật và
công nghệ về vật liệu đã có những tiến bộ bước đầu, góp phần vào phát triển
kinh tế - xã hội.
Song trình độ trang bị lạc hậu của
các cơ sở nghiên cứu, mức đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển công nghệ
còn thấp và dàn trải, không đồng bộ, thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu với sản xuất
đang là những cản trở đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật hỗ trợ đắc lực cho sự
phát triển của ngành công nghiệp vật liệu.
4. Hiện nay khoa học và công nghệ
đã trở thành yếu tố quan trọng trong phát triển quốc gia. Điều này đòi hỏi nước
ta phải tăng cường đầu tư, đổi mới nhanh chóng và cơ bản ngành công nghiệp vật
liệu nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
Bối cảnh và tình hình quốc tế
trong những năm tới sẽ có những chuyển biến sâu sắc, vừa thuận lợi cho sự phát
triển ngành công nghiệp vật liệu nước ta, vừa có những thách thức đòi hỏi chúng
ta phải tính toán và lựa chọn những bước đi và mô hình thích hợp nhằm nhanh
chóng thoát khỏi nguy cơ bị tụt hậu so với các nước trong khu vực.
Tất cả các yếu tố này yêu cầu
chúng ta phải tăng cường phát triển ngành công nghiệp vật liệu theo chiến lược
phát triển riêng của mình.
II. PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010
1. Mục tiêu phát triển công nghệ
vật liệu
a) Đến năm 2000 ngoài việc thoả
mãn phần lớn nhu cầu về các loại vật liệu thông dụng từ tài nguyên trong nước,
chúng ta phải đưa một số lĩnh vực của ngành công nghiệp vật liệu tiếp cận trình
độ công nghệ của các nước phát triển trong khu vực, và đến năm 2010 một số lĩnh
vực phải đạt trình độ trung bình tiên tiến trên thế giới.
b) Xây dựng nền công nghiệp vật
liệu Việt Nam có cơ sở vững chắc và cơ cấu đồng bộ, có đủ năng lực để đáp ứng
nhu cầu sản xuất những vật liệu phục vụ những ngành then chốt của nền kinh tế
quốc dân như: năng lượng, xây dựng hạ tầng cơ sở, cơ khí chế tạo, điện tử... và
có khả năng sản xuất được các loại vật liệu có tính năng kỹ thuật mới, vật liệu
mới đáp ứng nhu cầu sử dụng đa dạng của các ngành kinh tế.
c) Xây dựng hệ thống các cơ quan
nghiên cứu và triển khai thuộc lĩnh vực công nghệ vật liệu có năng lực tiến
hành nghiên cứu ở trình độ cao, có khả năng tạo ra các công nghệ mới, vật liệu
mới phục vụ nền kinh tế quốc dân.
2. Phương hướng phát triển công
nghệ vật liệu
a) Coi trọng việc tìm hiểu, tiếp
thu và chuyển giao công nghệ vật liệu thích hợp, tiên tiến nhằm phát triển nền
công nghiệp vật liệu bền vững, rút ngắn khoảng cách về trình độ công nghệ giữa
nước ta và các nước khác. Đồng thời nâng cao năng lực khoa học và công nghệ nội
sinh để tiếp thu, đồng hoá và cải tiến công nghệ nhập nội cho phù hợp với điều
kiện và yêu cầu thực tế sản xuất, nhằm khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng
công nghệ.
b) Chú trọng phát triển các công
nghệ sử dụng tài nguyên khoáng sản sẵn có trong nước, tiến hành nghiên cứu và
triển khai các công nghệ tiên tiến sản xuất vật liệu truyền thống và các vật liệu
mới.
c) Đầu tư chiều sâu, cải tiến
công nghệ hiện có để nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, tập
trung vào các khâu quyết định các tính năng kỹ thuật của vật liệu và khả năng cạnh
tranh của sản phẩm.
d) Phát triển các ngành công
nghiệp vật liệu ở những nơi có điều kiện thuận lợi. Chú trọng các quy mô nhỏ và
vừa để khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế từng vùng, hạn chế sự mất cân đối
trong vận chuyển. Chú ý phương châm lấy ngắn nuôi dài, kết hợp công nghê truyền
thống với công nghệ cao có chọn lọc, đồng thời xây dựng một số công trình quy
mô lớn cần thiết và có hiệu quả.
đ) Phát triển công nghệ mới và
cao phải tiến hành theo nguyên tắc tập trung vào các hướng ưu tiên đã lựa chọn.
Nhà nước hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, triển khai và khuyến khích các ngành
công nghiệp vật liệu đưa vào ứng dụng các công nghệ mới và cao.
III. NỘI DUNG
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010
Căn cứ vào tiềm năng tài nguyên
khoáng sản Việt Nam, vào tiềm lực khoa học, công nghệ vật liệu của các cơ quan
nghiên cứu - triển khai, vào nhu cầu vật liệu của nước ta hiện nay và trong một
tương lai gần, trên cơ sở mục tiêu và phương hướng đã lựa chọn, cần tập trung
thực hiện những nội dung trọng điểm sau đây cho chương trình phát triển Khoa học
và Công nghệ vật liệu đến năm 2010.
a) Vật liệu kim loại
Công nghiệp sản xuất vật liệu
kim loại là lĩnh vực quan trọng có tác dụng quyết định đối với sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước cũng như đối với việc bảo vệ an ninh quốc
gia. Nước ta có những điều kiện thuận lợi để phát triển có hiệu quả nền công
nghiệp luyện kim: tài nguyên khoáng sản đa dạng, giàu tiềm năng thuỷ điện, có vị
trí địa lý thuận lợi và lực lượng lao động dồi dào. Trong việc xây dựng ngành
công nghiệp luyện kim Việt Nam cần chú trọng phát triển các lĩnh vực công nghệ
sau đây:
1. Những công nghệ luyện lim phù
hợp để sản xuất các loại thép và vật liệu kim loại cơ bản, đáp ứng được nhu cầu
chủ yếu của nền kinh tế và góp phần xuất khẩu. Đặc biệt chú trọng công nghệ luyện
kim không dùng than cốc.
2. Công nghệ luyện thép chất lượng
cao, thép hợp kim và hợp kim cho cơ khí chế tạo máy, công nghệ hoá chất, xi
măng, dầu khí, cho nhu cầu quốc phòng. Các công nghệ đúc tiên tiến, công nghệ
gia công, xử lý, phân tích kiểm nghiệm tương ứng.
3. Công nghệ luyện kim bột, vật
liệu cho công nghệ hàn và phun phủ, công nghệ sản xuất vật liệu tổ hợp kim loại.
4. Công nghệ luyện đồng, nhôm và
các hợp kim của chúng.
5. Công nghệ tìm kiếm thăm dò
khoáng sản và công nghệ xử lý tổng hợp tài nguyên khoáng sản.
6. Công nghệ sản xuất các hợp
kim ferro và các ô xít kim loại chất lượng cao từ tài nguyên khoáng sản Việt
Nam.
7. Công nghệ sản xuất các kim loại
sạch và siêu sạch, các kim loại quý hiếm, công nghệ sản xuất các vật liệu kỹ
thuật tiên tiến trên cơ sở đất hiếm.
8. Công nghệ sản xuất các hợp
kim đặc biệt dùng trong ngành kỹ thuật điện, điện tử và các ngành kinh tế khác.
b) Vật liệu xây dựng
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đề
ra những yêu cầu lớn đối với ngành xi măng. Nước ta lại có nhiều tiềm năng về
nguyên, nhiên liệu và điều kiện thuận lợi để phát triển lĩnh vực công nghệ này:
1. Về công nghệ sản xuất xi
măng: phải lựa chọn phương pháp khô với công nghệ tiên tiến tự động hoá cao; cải
tạo và đổi mới công nghệ của các nhà máy xi măng sản xuất theo phương pháp ướt,
xây dựng các nhà máy mới theo công nghệ tiên tiến.
2. Về các chủng loại xi măng:
ngoài xi măng pooclăng thông dụng, cần sản xuất các loại xi măng đặc biệt như
xi măng bền sunphát để sử dụng trong môi trường biển, xi măng dùng trong các giếng
khoan dầu khí, xi măng cường độ cao, xi măng pooclăng-puzôlan,... để sử dụng
cho các công trình đặc biệt.
c) Vật liệu gốm, sứ, thuỷ tinh
Gốm, sứ, thuỷ tinh là vật liệu
được dùng để sản xuất ra các loại sản phẩm dân dụng và kỹ thuật có nhu cầu sử dụng
lớn. Nước ta lại có nguồn nguyên liệu phân bố trên tất cả các vùng của đất nước
với trữ lượng lớn và chất lượng tốt. Các xí nghiệp không đòi hỏi vốn đầu tư quá
lớn và lại tạo ra việc làm cho lao động địa phương. Để đảm bảo khả năng cạnh
tranh với hàng ngoại và đẩy mạnh xuất khẩu cần phải đưa vào ứng dụng những công
nghệ tiên tiến:
1. Trong lĩnh vực vật liệu gốm,
sứ chú trọng phát triển công nghệ sản xuất vật liệu có tính năng kỹ thuật cao để
thay thế một số loại thép và hợp kim, công nghệ sản xuất gốm, sứ mỹ nghệ để xuất
khẩu, công nghệ sản xuất vật liệu chịu lửa với khối lượng và chất lượng thoả
mãn phần lớn nhu cầu của công nghiệp luyện kim, thuỷ tinh và xi măng, công nghệ
sản xuất gốm xốp và màng xúc tác, sứ cách điện dùng trong các thiết bị điện và
đường dây truyền tải điện cao thế, các vật liệu gốm sử dụng trong việc xử lý ô
nhiễm môi trường.
2. Trong lĩnh vực vật liệu thuỷ
tinh, chú trọng phát triển công nghệ sản xuất kính xây dựng, thuỷ tinh y tế,
thuỷ tinh cho thí nghiệm khoa học, thuỷ tinh cho kỹ thuật chiếu sáng, thuỷ tinh
trang trí cao cấp, thuỷ tinh cách điện, sợi thuỷ tinh cách nhiệt, sợi thuỷ tinh
làm cốt cho vật liệu tổ hợp và sợi thuỷ tinh dẫn quang.
d) Vật liệu cao phân tử
Nước ta có những nguồn tài
nguyên phong phú cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp vật liệu cao phân tử: Dầu
khí, cao su thiên nhiên, các loại nhựa thực vật và các loại dầu thực vật. Vật
liệu cao phân tử được sử dụng không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng mà còn được
sử dụng để chế tạo nhiều bộ phận không thể thay thế của các thiết bị công nghiệp,
các phương tiện giao thông cũng như để thay thế cho những vật liệu truyền thống
khác như sắt, thép, bê tông,... Về vật liệu cao phân tử cần chú trọng các hướng
công nghệ sau đây:
1. Công nghệ sản xuất các vật liệu
tổ hợp trên cơ sở các chất cao phân tử nhiệt dẻo và nhiệt rắn tăng cường bằng sợi
thuỷ tinh, sợi badan, sợi các bon và biến tính gỗ bằng các chất cao phân tử.
2. Công nghệ sản xuất các sản phẩm
cao cấp và các vật liệu tổ hợp từ nguyên liệu là cao su thiên nhiên, các loại
nhựa thực vật và các loại dầu thực vật.
3. Công nghệ sản xuất các loại
sơn và các loại vật liệu tổ hợp bảo vệ kim loại chống ăn mòn trong các môi trường
xâm thực mạnh như trong môi trường nước biển, môi trường nóng ẩm, trong các thiết
bị công nghiệp hoá chất,...
4. Công nghệ sản xuất các loại vật
liệu tổ hợp cao phân tử để sử dụng kỹ thuật điện và điện tử trong các điều kiện
môi trường khắc nghiệt.
5. Công nghệ sản xuất các loại
màng cao phân tử đặc biệt, các chất cao phân tử sinh học, cao phân tử huỷ sinh
học, cao phân tử xử lý ô nhiễm môi trường và các chất cao phân tử đặc biệt
khác.
đ) Bảo vệ vật liệu
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới
nước ta, nhất là các vùng ven biển và trong môi trường biển, việc nghiên cứu và
ứng dụng các phương pháp bảo vệ vật liệu, đặc biệt các vật liệu kim loại là một
nội dung rất quan trọng. Cần tập trung nghiên cứu và triển khai theo các hướng
công nghệ sau:
1. Công nghệ bản vệ các công
trình biển bằng các phương pháp điện hoá.
2. Công nghệ bảo vệ vật liệu bằng
các lớp phủ (mạ, phun phủ, sơn, vật liệu tổ hợp,...).
3. Công nghệ bảo vệ vật liệu bằng
các chất ức chế.
e) Vật liệu điện tử
Công nghiệp điện tử là ngành
công nghiệp kỹ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp hiện đại hoá nền
kinh tế quốc dân và cần được ưu tiên phát triển, lựa chọn một số loại vật liệu,
tiến hành nghiên cứu, tiếp thu công nghệ tiên tiến từ nước ngoài và tổ chức sản
xuất vật liệu, linh kiện cho lắp ráp các thiết bị hoặc xuất khẩu. Trong hoàn cảnh
nhiều nước trong khu vực đã xây dựng thành công ngành công nghiệp điện tử, là một
bước đi sau, nước ta cần tập trung phát triển công nghệ theo các hướng sau đây:
1. Công nghệ sản xuất các loại
ferrit chất lượng cao, nam châm đất hiếm, các vật liệu vô định hình và vi tinh
thể.
2. Công nghệ sản xuất các loại vật
liệu và linh kiện cảm biến (bán dẫn, siêu âm, các chất dẫn điện mới, gốm áp điện)
sử dụng trong các thiết bị đo, trong các thiết bị tự động hoá, trong sinh học
và y học.
3. Công nghệ sản xuất các vật liệu
và linh kiện quang điện tử (optoelectronics) và quang tử (photonics): vật liệu
và linh kiện bán dẫn thu nhận ánh sáng, vật liệu và linh kiện bán dẫn phát
quang, laser bán dẫn, các vật liệu quang phi tuyến, dây dẫn quang, dây dẫn
quang có khuyếch đại, laser dây, đĩa quang, các vật liệu quang điện hoá...
4. Công nghệ sản xuất vật liệu
thu nhận và biến đổi năng lượng để sử dụng làm nguồn điện cho các thiết bị điện
tử.
IV. NHỮNG CHỦ
TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU
1. Xây dựng kế hoạch phát triển
Khoa học và Công nghệ vật liệu trên quy mô quốc gia.
Các Bộ, ngành và địa phương cần
có kế hoạch khai thác thế mạnh và tiềm năng sẵn có của mình, xây dựng các
chương trình, đề án cụ thể nhằm các mục tiêu phát triển Khoa học và Công nghệ vật
liệu, đổi mới phương thức sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng. Có kế hoạch
đưa vào nghiên cứu và sử dụng các vật liệu mới, áp dụng công nghệ mới, thay thế
các công nghệ cũ lạc hậu, cải tạo và nâng cấp các công nghệ hiện có nhằm nâng
cao năng suất và tính năng kỹ thuật của vật liệu, của sản phẩm. áp dụng các biện
pháp tiết kiệm nguyên vật liệu từ khâu khai thác, chế biến đến sử dụng vật liệu.
Bộ khoa học, Công nghê và Môi
trường chỉ đạo và hỗ trợ cho các Bộ, ngành và địa phương thực hiện có kết quả kế
hoạch của mình.
2. Xây dựng tiềm lực Khoa học và
Công nghệ vật liệu
Tổ chức lại hệ thống các cơ quan
nghiên cứu và phát triển Khoa học - Công nghệ vật liệu bao gồm các viện nghiên
cứu của trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, của các Bộ và các
doanh nghiệp, các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu của các trường đại học.
Tập trung xây dựng một số đơn vị
trọng điểm theo các hướng trọng điểm. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới
trang thiết bị nghiên cứu, thí nghiệm nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, đáp ứng
nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp vật liệu.
Trong các khu công nghệ cao sẽ định
hướng thành lập một số cơ sở sản xuất, nghiên cứu triển khai công nghệ vật liệu
mới trong các lĩnh vực ưu tiên như vật liệu điện tử, vật liệu cao phân tử...
3. Tăng cường công tác nghiên cứu
triển khai
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu
Khoa học và Công nghệ về vật liệu ở các trường đại học, các viện nghiên cứu,
các cơ sở sản xuất vật liệu. Có cơ chế thích hợp để gắn hoạt động nghiên cứu của
các cơ sở nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất,
các khu công nghệ cao.
Nhà nước khuyến khích các doanh
nghiệp lập các tổ chức nghiên cứu Khoa học - Công nghệ để thực hiện việc nghiên
cứu triển khai, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất và tạo sức cạnh tranh cho
sản phẩm.
Các cơ quan nghiên cứu triển
khai của các Bộ, các ngành, các trường đại học phối hợp chặt chẽ với các đơn vị
nghiên cứu triển khai trong các doanh nghiệp để tổ chức nghiên cứu khoa học,
triển khai sản xuất các vật liệu mới và áp dụng các công nghệ mới.
Khai thác triệt để lợi thế của
việc nhập công nghệ để nhanh chóng nâng cao trình độ sản xuất. Khuyến khích các
nhà đầu tư nhập công nghệ hiện đại về sản xuất vật liệu vào Việt Nam, chuyển
giao công nghệ giữa các đơn vị sản xuất trong nước.
4. Tổ chức đào tạo cán bộ
Nâng cấp và xây dựng mới một số
cơ sở đào tạo về Khoa học - Công nghệ vật liệu tại một số viện và trường đại học.
Nâng cao trình độ cán bộ về Khoa học và Công nghệ vật liệu dưới nhiều hình thức
khác nhau.
Khuyến khích các cơ quan đào tạo
quốc tế mở các phân hiệu, phân viện, phân khoa tiến hành đào tạo về khoa học
công nghệ vật liệu trên lãnh thổ Việt Nam và cấp văn bằng, chứng chỉ trình độ
tương đương với các nước tiên tiến trên thế giới. Đưa người đi học nước ngoài để
đào tạo cán bộ khoa học một số ngành nước ta chưa có điều kiện tổ chức đào tạo.
5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
Khuyến khích các đơn vị nghiên cứu
và sản xuất kinh doanh trong nước tổ chức tham quan, khảo sát, học tập ở nước
ngoài, hợp tác nghiên cứu, sử dụng chuyên gia và chuyển giao công nghệ vật liệu
với nước ngoài.
Khuyến khích các doanh nghiệp
trong và ngoài nước đầu tư hoặc liên doanh góp vốn đầu tư vào các lĩnh vực vật
liệu ưu tiên tại các khu công nghệ cao và các khu chế xuất.
6. Hỗ trợ và huy động vốn
Nhà nước tăng cường đầu tư cho
công tác nghiên cứu và phát triển tiềm lực khoa học một số lĩnh vực Khoa học và
Công nghệ vật liệu trọng điểm.
Nhà nước có các chính sách và biện
pháp khuyến khích để huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp, các thành phần
kinh tế, các tổ chức sản xuất, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hỗ trợ một phần
kinh phí từ ngân sách Nhà nước và từ các chương trình viện trợ quốc tế, đặc biệt
là các chương trình viện trợ ODA cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và
triển khai ứng dụng công nghệ vật liệu.
V. TỔ CHỨC THỰC
HIỆN
Do tầm quan trọng của Khoa học
và Công nghệ vật liệu đối với nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước, Chính phủ quyết định lập một chương trình kỹ thuật
- kinh tế quy mô quốc gia về Khoa học và Công nghệ vật liệu với mục tiêu là
thúc đẩy việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ tiến tiến, hiện đại trong
lĩnh vực vật liệu vào các ngành sản xuất ở trung ương cũng như địa phương. Việc
điều hành Chương trình do một Ban điều hành chương trình đảm nhận. Bộ khoa học,
Công nghệ và môi trường trường có trách nhiệm soạn thảo Quyết định của Chính phủ
về việc thành lập Ban điều hành Chương trình cùng các chức năng nhiệm vụ của
Ban điều hành để trình thủ tướng Chính phủ xét duyệt.
Trách nhiệm của các Bộ, ngành và
địa phương trong việc tổ chức thực hiện được phân công như sau:
- Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường trong chức năng quản lý nhà nước soạn thảo các quy chế, chính sách tạo
môi trường thuận lợi cho việc thực hiện Chương trình.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách
nhiệm cân đối các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình quốc
gia trong các kế hoạch hàng năm và 5 năm.
- Bộ Tài chính cân đối kinh phí
cho các Bộ, ngành và địa phương tham gia thực hiện các nhiệm vụ thuộc chương
trình quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đề xuất các chính sách
tài chính phù hợp về thuế, quỹ phát triển... để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện Chương trình.
- Trung tâm Khoa học tự nhiên và
Công nghệ quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học và các viện
nghiên cứu của các Bộ, ngành tăng cường kết hợp với các cơ sở sản xuất trong
công tác nghiên cứu và thử nghiệm, đào tạo cán bộ, đề xuất các hướng phát triển
công nghệ vật liệu.
Các Bộ, các ngành và địa phương
xây dựng kế hoạch tổng thể, kế hoạch 5 năm và hàng năm của mình thông qua Ban
điều hành Chương trình Quốc gia trình Chính phủ để tổng hợp vào kế hoạch chung
của nhà nước. Từng thời kỳ phải báo cáo lên Ban điều hành Chương trình quốc gia
về tình hình thực hiện của Bộ, ngành và địa phương mình. Trên cơ sở đó Ban điều
hành chương trình tổng hợp lại và báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ
Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.