Ký số văn bản tố tụng được hướng dẫn bởi Chương II; Chương IV Thông tư liên tịch 04/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực từ ngày 15/05/2026
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành khoản 5 Điều 131, khoản 3 Điều 132, Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự.
...
Chương II
KÝ SỐ VĂN BẢN TỐ TỤNG
Điều 5. Ký số văn bản tố tụng
1. Người có thẩm quyền sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử trong các văn bản tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Người tham gia tố tụng ký số văn bản tố tụng bằng chữ ký điện tử chuyên dùng, chữ ký số công cộng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử.
3. Văn bản tố tụng đã ký số thì không phải ký trực tiếp và có giá trị như văn bản tố tụng ký trực tiếp. Việc ký số văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Thông tư liên tịch này.
Điều 6. Hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử
1. Hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử gồm: Sử dụng chức năng xác nhận bằng vân tay thông qua thiết bị điện tử hoặc ký trên màn hình thiết bị điện tử tích hợp trên phần mềm chuyên dụng hoặc tiến hành xác thực nhiều lớp khi điều kiện thực hiện được bảo đảm.
2. Sử dụng hình thức xác nhận khác quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp người tham gia tố tụng không thực hiện được việc ký số. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng căn cứ vào điều kiện hạ tầng, kỹ thuật quyết định lựa chọn và thống nhất với người tham gia tố tụng để thực hiện.
Điều 7. Giá trị pháp lý của văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số, chữ ký điện tử và hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng
Văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số của người có thẩm quyền, chữ ký điện tử và phương thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng có giá trị pháp lý khi bảo đảm nội dung:
1. Được lập trên phần mềm chuyên dụng tích hợp trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án và được ký số của người có thẩm quyền, người tham gia tố tụng hoặc sử dụng hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng đúng quy định.
2. Sử dụng chứng thư chữ ký số còn hiệu lực tại thời điểm ký.
3. Nội dung văn bản tố tụng điện tử bảo đảm tính toàn vẹn, không bị thay đổi sau khi ký hoặc xác nhận.
4. Bảo đảm xác định thống nhất về chủ thể thực hiện và ý chí xác nhận đối với nội dung văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ khác.
5. Văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số phải lập đúng thể thức, theo mẫu thống nhất, được cấp số, đóng dấu điện tử theo quy định.
6. Việc sử dụng hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng phải bảo đảm:
a) Phần mềm chuyên dụng phải hiển thị đầy đủ nội dung văn bản tố tụng để người tham gia tố tụng kiểm tra trước khi thực hiện xác nhận; Việc xác nhận của người tham gia tố tụng phải được gắn với tính toàn vẹn của văn bản tố tụng;
b) Việc thực hiện hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng phải được ghi nhận nhật ký điện tử, lưu trữ thông tin về thời điểm xác nhận, hình thức xác nhận và các thông tin kỹ thuật, trường hợp cần thiết có thể ghi hình để phục vụ việc kiểm tra, đối chiếu khi cần thiết;
c) Việc thu thập, xử lý, lưu trữ và bảo vệ dữ liệu sinh trắc học của người tham gia tố tụng phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan.
Điều 8. Trường hợp ký trực tiếp văn bản tố tụng, lập văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ khác bằng văn bản giấy trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử
1. Lập văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ khác bằng văn bản giấy sử dụng chữ ký trực tiếp trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử trong trường hợp sau:
a) Khi lập các văn bản tố tụng có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước ở mức độ “tuyệt mật” mà phần mềm chuyên dụng chưa được chứng nhận, phê duyệt các giải pháp bảo mật đáp ứng yêu cầu bảo mật ở cấp độ tương ứng theo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước hoặc khi cần thiết theo yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Tại thời điểm lập hồ sơ vụ án, cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án, hệ thống kỹ thuật, đường truyền mạng hoặc phần mềm chuyên dụng bị sự cố, gián đoạn, hoặc chưa bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng;
c) Địa điểm thực hiện các hoạt động tố tụng không có điều kiện kỹ thuật, phương tiện hoặc đường truyền mạng;
d) Người có thẩm quyền chưa được cấp chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ, chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ đã hết hiệu lực, bị thu hồi hoặc không bảo đảm an toàn, không thể sử dụng được tại thời điểm ký;
đ) Người tham gia tố tụng chưa đăng ký chữ ký điện tử hoặc chứng thư chữ ký số của người tham gia tố tụng hết thời hạn, bị thu hồi hoặc tạm dừng hiệu lực; Không có thiết bị hoặc thiết bị điện tử phục vụ xác nhận bằng hình thức điện tử khác bị sự cố, không sử dụng được;
e) Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
g) Hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự cần phải gửi văn bản giấy.
2. Người có thẩm quyền lập văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án điện tử bằng văn bản giấy sử dụng chữ ký trực tiếp đối với các trường hợp quy định tại điểm b, d, đ khoản 1 Điều này sau khi đã tiến hành các biện pháp khắc phục nhưng không có kết quả và có văn bản hoặc tài liệu có liên quan xác nhận lý do không thực hiện được việc ký số.
3. Người có thẩm quyền đã lập, ký văn bản tố tụng trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm kịp thời chuyển đổi từ văn bản giấy sang dữ liệu điện tử và lưu trữ sau khi các lý do quy định tại khoản 1 Điều này đã được khắc phục, bảo đảm điều kiện thực hiện.
Điều 9. Việc cấp, giao, chuyển, nhận, gửi, thông báo, thi hành văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số
1. Việc giao, chuyển, nhận, gửi, thông báo, thi hành văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thực hiện trên phần mềm chuyên dụng tích hợp trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án, có biên bản giao, nhận điện tử thể hiện thời gian, nhật ký truy xuất bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Việc giao, chuyển, nhận, gửi văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với tổ chức giám định, hội đồng định giá tài sản và cơ quan, tổ chức có liên quan qua môi trường điện tử phù hợp khi hạ tầng kỹ thuật và các điều kiện đảm bảo khác đáp ứng yêu cầu để thực hiện. Việc giao, gửi và tiếp nhận văn bản tố tụng phải được ghi nhận bằng ký nhận, biên bản giao nhận, xác nhận điện tử, nhật ký hệ thống hoặc hình thức xác nhận khác có giá trị chứng minh.
Đối với đối tượng cần giám định, định giá, tài liệu, đồ vật, mẫu vật có liên quan không giao, nhận được qua môi trường điện tử thì giao, nhận trực tiếp hoặc qua đường bưu chính và phải được ghi nhận bằng phương thức điện tử, bảo đảm xác định được thời điểm giao, nhận, tình trạng niêm phong và chủ thể thực hiện.
3. Cơ quan nhận văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số phải kịp thời tiếp nhận, kiểm tra tính hợp pháp của văn bản, cập nhật, xác nhận và phản hồi về việc tiếp nhận trên phần mềm chuyên dụng tích hợp trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án. Trường hợp cần thiết có thể phối hợp tiến hành chứng thực thông qua dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ.
4. Việc cấp, thông báo, giao văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số cho người tham gia tố tụng thực hiện như sau:
a) Thực hiện việc cấp, thông báo, giao văn bản tố tụng điện tử đến người tham gia tố tụng thông qua tài khoản giao dịch điện tử của cá nhân, cơ quan, tổ chức qua nền tảng số; sử dụng phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia để thông báo qua các nền tảng số liên kết đến tài khoản giao dịch điện tử của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan, do sự cố của hệ thống phần mềm, hạ tầng kỹ thuật mà không thực hiện được việc thông báo, giao văn bản tố tụng điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho người tham gia tố tụng biết và tiếp tục thực hiện thông báo, giao khi tình trạng khẩn cấp, bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không còn, đã khắc phục được sự cố của hệ thống phần mềm, hạ tầng kỹ thuật;
b) Trường hợp thi hành văn bản tố tụng, do yêu cầu nghiệp vụ, đáp ứng thời hạn tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không có, không thể sử dụng tài khoản giao dịch điện tử do đang bị tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, tài khoản giao dịch điện tử bị khóa, đình chỉ; không có điều kiện kỹ thuật, thiết bị, kết nối mạng; do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan thì sao y từ văn bản điện tử sang văn bản giấy hoặc chuyển đổi văn bản tố tụng điện tử sang văn bản giấy để thực hiện thông báo, giao trực tiếp;
c) Trường hợp không rõ địa chỉ hoặc không rõ người được cấp, giao đang ở đâu thì sao y văn bản tố tụng điện tử sang văn bản giấy hoặc chuyển đổi sang văn bản giấy để thực hiện niêm yết công khai theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Tố tụng hình sự;
d) Khi việc niêm yết công khai không có kết quả hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì thực hiện theo quy định tại Điều 19, Điều 20 Thông tư liên tịch này.
5. Việc cấp, giao, chuyển, nhận, gửi, thông báo, thi hành văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số phải đúng đối tượng, đúng thời hạn, đúng phân cấp, phân quyền theo quy định.
6. Trường hợp việc cấp, giao, chuyển, nhận, gửi văn bản tố tụng điện tử sử dụng chữ ký số quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này nếu chưa thực hiện được qua môi trường điện tử thì sao y từ văn bản điện tử sang văn bản giấy hoặc chuyển đổi văn bản tố tụng điện tử sang văn bản giấy để giao, chuyển, nhận, gửi.
7. Việc sao y hoặc chuyển đổi văn bản quy định tại điểm c khoản 4 và khoản 6 Điều này phải thực hiện đúng quy định về sao y văn bản điện tử sang văn bản giấy, quy định về chuyển đổi hình thức từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy.
...
Chương IV
YÊU CẦU CỦA PHẦN MỀM CHUYÊN DỤNG VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU HỒ SƠ VỤ ÁN
Điều 17. Yêu cầu của phần mềm chuyên dụng
Phần mềm chuyên dụng phải phù hợp với khung kiến trúc tổng thể, bảo đảm yêu cầu về pháp lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và bảo mật theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, lưu trữ, định danh điện tử như sau:
1. Các chức năng nghiệp vụ
a) Ký số, xác thực điện tử, thực hiện hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử của người tham gia tố tụng:
Ký số đối với văn bản tố tụng, hồ sơ vụ án và tài liệu điện tử theo đúng định dạng, chuẩn ký số do cơ quan có thẩm quyền ban hành; cho phép kiểm tra chứng thư số, ghi nhận nhật ký điện tử về thời điểm ký, người ký, loại văn bản ký và xác thực chữ ký số tự động; có khả năng xác minh tính toàn vẹn dữ liệu bằng công cụ kiểm tra chữ ký số và mã băm.
Cho phép thực hiện hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử của người tham gia tố tụng trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử. Việc thực hiện phải bảo đảm xác thực danh tính chủ thể thực hiện, khả năng chống chối bỏ, tính toàn vẹn của dữ liệu;
b) Số hóa hồ sơ vụ án: Cho phép lập, quét, nhận dạng, lưu trữ, gắn mã số hồ sơ và định danh điện tử cho từng tài liệu trong hồ sơ vụ án (có chức năng hỗ trợ dữ liệu đa phương tiện: ảnh, video, âm thanh), gắn mã bút lục và dấu bút lục điện tử chống giả mạo; bảo đảm tính toàn vẹn, không bị chỉnh sửa, thay đổi hoặc thất lạc trong quá trình xử lý; có khả năng ghi nhận lịch sử thao tác trên hồ sơ, người thực hiện số hóa, người truy cập và các thay đổi để phục vụ kiểm tra, giám sát;
c) Quản lý hồ sơ vụ án điện tử: Cho phép sắp xếp, tìm kiếm, trích xuất, in ấn, sao lưu hồ sơ vụ án điện tử; theo dõi tiến độ từng giai đoạn của vụ án; tự động nhắc thời hạn tố tụng; bảo đảm khả năng đồng bộ với hồ sơ giấy (nếu có), đáp ứng yêu cầu thống kê, phân tích, đánh giá phục vụ chỉ đạo điều hành của cơ quan, người có thẩm quyền.
d) Cấp, gửi, chuyển, nhận, thông báo, thi hành văn bản tố tụng điện tử và hồ sơ vụ án điện tử: Cho phép thực hiện việc cấp, chuyển, gửi, nhận, thông báo, thi hành, xác nhận và theo dõi tình trạng văn bản, tài liệu, hồ sơ vụ án điện tử giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữa cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự thông qua cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án và có biên bản điện tử ghi nhận việc cấp, chuyển, gửi, nhận, thông báo, thi hành;
đ) Lưu vết và giám sát hệ thống: Ghi nhận toàn bộ hoạt động truy cập, ký số, gửi, nhận, chỉnh sửa, đọc, sao chụp dữ liệu; bảo đảm khả năng kiểm tra, truy xuất và đối chiếu khi cần thiết;
e) Bảo đảm khả năng kết nối, liên thông
Có tính năng kết nối, liên thông, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu với phần mềm chuyên dụng của các bộ, ngành; với phần mềm quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, khả năng liên kết, truy xuất tự động các thông tin cơ bản của người tham gia tố tụng từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; Trung tâm dữ liệu quốc gia; hệ thống lý lịch tư pháp, hộ tịch, cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để hỗ trợ tự động hóa quy trình tố tụng. Cho phép phần mềm quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự truy xuất tự động các thông tin cơ bản có liên quan từ phần mềm chuyên dụng để khởi tạo dữ liệu về người bị tạm giữ, tạm giam và người chấp hành án.
Đảm bảo khả năng kết nối, liên thông theo quy định tại Nghị định số 278/2025/NQ-CP ngày 22/10/2025 của Chính phủ về quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị;
g) Được thiết kế phần mềm theo kiến trúc mở, dễ tích hợp, có khả năng mở rộng tính năng trong tương lai.
2. Đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, an ninh, an toàn thông tin và bảo mật
a) Phần mềm chuyên dụng phải được sử dụng các giải pháp công nghệ hiện đại, phù hợp với hạ tầng kỹ thuật hiện có của từng bộ, ngành; ưu tiên tận dụng và nâng cấp phần mềm của các bộ, ngành được triển khai trên hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu an toàn hệ thống thông tin tối thiểu mức 4 theo quy định;
b) Hỗ trợ đa người dùng, phân quyền truy cập chi tiết theo thẩm quyền, giai đoạn tố tụng;
c) Có cơ chế xác thực người dùng đa lớp (định danh điện tử, OTP, sử dụng chứng thư chữ ký số);
d) Có khả năng sao lưu, phục hồi dữ liệu, bảo đảm hoạt động liên tục không gián đoạn;
đ) Bảo đảm tương thích với tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về định dạng dữ liệu, chữ ký số, giao tiếp dịch vụ và kiến trúc Chính phủ số; tương thích với tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về Khung kiến trúc tổng thể dữ liệu quốc gia số; Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia;
e) Có cơ chế giám sát, phát hiện, tự động thông báo, cảnh báo và báo cáo sự cố, tấn công mạng, khóa truy cập khi phát hiện truy cập trái phép hoặc vi phạm phân quyền, có khả năng ứng phó, khắc phục sự cố khi xảy ra mất an toàn thông tin; cảnh báo vi phạm thời hạn giao, nhận hoặc chưa được xác nhận việc nhận hồ sơ vụ án điện tử, văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số;
g) Ghi nhận phản hồi của người dùng và trợ giúp trực tuyến từ phần mềm chuyên dụng;
h) Cập nhật bản vá lỗi kỹ thuật tự động.
3. Phần mềm chuyên dụng có thể được nâng cấp, bổ sung các chức năng nghiệp vụ và yêu cầu kỹ thuật, an ninh, an toàn thông tin, bảo mật cho phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
4. Phần mềm chuyên dụng chỉ được đưa vào sử dụng chính thức khi được kiểm thử, nghiệm thu, kiểm tra, đánh giá điều kiện về chức năng nghiệp vụ, hiệu năng, an toàn, an ninh mạng, bảo mật; được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đáp ứng yêu cầu quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này và được giám sát, kiểm tra định kỳ, đột xuất trong quá trình vận hành.
Điều 18. Yêu cầu của cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án
1. Cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án được thiết kế theo khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, theo mô hình phân tán - kết nối tập trung, bảo đảm tính chủ động, bảo mật và liên thông giữa các bộ, ngành. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án phải bảo đảm cấu trúc dữ liệu, chuẩn dữ liệu, chuẩn dữ liệu dùng chung, đáp ứng yêu cầu thống kê, phân tích, đánh giá phục vụ chỉ đạo điều hành của cơ quan, người có thẩm quyền, lưu trữ, chia sẻ, liên thông, giao, nhận tài liệu phù hợp với thực tế.
2. Mỗi bộ, ngành xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án riêng để lưu trữ, quản lý toàn bộ văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ, dữ liệu điện tử được số hoá, ký số và quản lý thống nhất theo mã hồ sơ điện tử duy nhất cho mỗi vụ án theo cấu trúc dữ liệu, chuẩn dữ liệu, chuẩn dữ liệu dùng chung. Có cơ chế đồng bộ dữ liệu tự động hoặc bán tự động, bảo đảm khi một cơ quan lập, sửa đổi, bổ sung hồ sơ số hóa thì các cơ quan liên quan cập nhật tự động kịp thời.
3. Thực hiện kết nối cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án của các bộ, ngành với cơ sở dữ liệu dùng chung đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, với cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và hệ thống thông tin thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về định danh, xác thực và mã hóa dữ liệu, ghi nhật ký giao dịch, báo diễn biến và tự động đồng bộ khi phát sinh thay đổi. Kết nối từ cấp cơ sở đến trung ương đảm bảo đường truyền riêng biệt, tốc độ cao, an toàn. Trang bị hệ thống sao lưu đa lớp định kỳ, phục hồi nhanh khi có sự cố, có lưu trữ dự phòng tài liệu tại Trung tâm dữ liệu của từng ngành.
4. Thiết lập cơ sở dữ liệu dùng chung đóng vai trò trung gian điều phối, quản lý danh mục và trạng thái các hồ sơ, quyết định, bản án được phép chia sẻ giữa các cơ quan. Cơ sở dữ liệu không lưu toàn bộ nội dung chi tiết hồ sơ, mà chỉ lưu thông tin định danh và bản ghi trạng thái, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ có chọn lọc, đúng thẩm quyền, phục vụ việc đồng bộ, cảnh báo, nhắc việc tự động giữa các phần mềm của các cơ quan.
Xem nội dung VBĐiều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
...
14. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 132 như sau:
“3. Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số.