Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế?

Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế?

Nội dung chính

    Vùng đặc quyền kinh tế là gì?

    Điều 15 Luật biển Việt Nam 2012 quy định:

    Điều 15. Vùng đặc quyền kinh tế
    Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

    Như vậy, vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

    Trên đây là câu trả lời cho "Vùng đặc quyền kinh tế là gì?".

    Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế?

    Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế? (Hình từ Internet)

    Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế được quy định như thế nào?

    Theo Điều 16 Luật biển Việt Nam 2012 thì chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế được quy định như

    (1) Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện:

    - Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế;

    - Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

    - Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

    (2) Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

    Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

    (3) Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan.

    (4) Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17Điều 18 Luật biển Việt Nam 2012.

    Nhà nước có quyền tài phán đối với công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế?

    Điều 34 Luật biển Việt Nam 2012 quy định như sau:

    Điều 34. Đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển
    1. Đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển bao gồm:
    a) Các giàn khoan trên biển cùng toàn bộ các bộ phận phụ thuộc khác đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của các giàn khoan hoặc các thiết bị chuyên dùng để thăm dò, khai thác và sử dụng biển;
    b) Các loại báo hiệu hàng hải;
    c) Các thiết bị, công trình khác được lắp đặt và sử dụng ở biển.
    2. Nhà nước có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo và thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả quyền tài phán theo các quy định của pháp luật về hải quan, thuế, y tế, an ninh và xuất nhập cảnh.
    3. Các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển và các bộ phận kèm theo hoặc phụ thuộc có vành đai an toàn 500 mét tính từ điểm nhô ra xa nhất của đảo, thiết bị, công trình hoặc các bộ phận đó, nhưng không có lãnh hải và các vùng biển riêng.
    4. Không xây dựng đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển cũng như không thiết lập vành đai an toàn xung quanh đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển ở nơi có nguy cơ gây trở ngại cho việc sử dụng các đường hàng hải đã được thừa nhận là thiết yếu cho hàng hải quốc tế.
    [...]

    Như vậy, Nhà nước có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo và thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả quyền tài phán theo các quy định của pháp luật về hải quan, thuế, y tế, an ninh và xuất nhập cảnh

    Chuyên viên pháp lý Tăng Trung Tín
    saved-content
    unsaved-content
    172