Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 50 TC/TCT năm 1992 có hiệu lực từ ngày 01/10/1992 (VB hết hiệu lực: 01/01/1994)
Căn cứ vào Nghị định số 339-HĐBT ngày 22 tháng 9 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà đất;
...
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế đất như sau:
...
IV. GIẢM THUẾ, MIỄN THUẾ ĐẤT
Theo quy định tại Điều 13, 14 PHáp lệnh về thuế nhà đất và Điều 9, 10, 11 Nghị định số 339/HĐBT ngày 22 tháng 9 năm 1992, việc giảm thuế, miễn thuế được thực hiện như sau:
1. Tạm miễn thuế đất đối với các trường hợp sau đây:
a) Đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước, tổ chức xã hội, công trình văn hóa, đất chuyên dùng vào mục đích quốc phòng và an ninh.
Đất thuộc diện tạm miễn thuế, ở điểm này nếu sử dụng vào mục đích kinh doanh, hoặc để ở thì phải nộp thuế đất.
b) Đất ở thuộc vùng rừng núi rẻo cao thuộc diện được miễn thuế nông nghiệp (theo Pháp lệnh thuế nông nghiệp qui định), cùng định canh, định cư.
Đất ở đối với đồng bào xây dựng kinh tế mới được miễn thuế đất trong 5 năm đầu kể từ ngày đến ở; từ năm thứ 6 trở đi phải nộp thuế đất.
c) Đất ở của gia đình thương binh 1/4, hạng 2/4, gia đình liệt sĩ được hưởng chế độ trợ cấp Nhà nước quy định, đất xây nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách xã hội. Những đối tượng này chỉ được miễn thuế một nơi ở duy nhất, với diện tích không quá mức quy định tại Điều 35 Luật đất đai và trong thời gian đối tượng hưởng chính sách còn sống. Mức miễn thuế đất cụ thể cho mỗi hộ không được quá mức quy định cho từng vùng như sau:
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng miền Trung từ Thanh Hóa đến Thuận Hải: 200 m2.
- Trung Du, đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long: 300 m2.
- Miền núi và Tây Nguyên: 400 m2.
Đối với những vùng nhân dân có tập quán nhiều thế hệ cùng chung sống trong một hộ, hoặc đất ở vùng quanh năm ngập nước thì có thể miễn thuế đất ở mức diện tích cao hơn, nhưng tối đa không vượt quá 1,5 lần (một lần rưỡi) mức đất ở quy định cho từng vùng nêu trên.
d) Đất ở của người tàn tật, người chưa đến tuổi thành niên và người già cô đơn không nơi nương tựa, không có khả năng nộp thuế, được miễn thuế đất cho một nơi ở do chính đối tượng đứng tên, với diện tích không quá mức quy định tại điều 35 Luật đất đai như đã nêu tại tiết c điểm 1 mục này.
2. Được xét giảm thuế, miễn thuế đất ở cho các đối tượng nộp thuế khó khăn về kinh tế do bị thiên tai, địch họa, tai nạn bất ngờ. Nếu giá trị thiệt hại về tài sản từ 20% đến 50% tổng giá trị tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động có trên lô đất chịu thuế) thì được xét giảm thuế đất 50%, nếu giá trị thiệt hại trên 50% thì được miễn thuế đất.
3. Thủ tục xét giảm thuế, miễn thuế đất quy định như sau:
a) Tổ chức, cá nhân thuộc diện được tạm miễn thuế đất nêu tại điểm 1 mục IV, phải kê khai tổng diện tích đất thực tế quản lý sử dụng, diện tích đất sử dụng theo từng mục đích (trụ sở, ở, kinh doanh v.v.) có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường, xã nơi có đất chịu thuế hoặc của cơ quan quản lý cấp trên (nếu là tổ chức) gửi đến Chi cục thuế trực tiếp thu thuế, Chi cục thuế căn cứ vào tờ khai có xác nhận của các cơ quan trên, thực hiện kiểm tra, tính toán số thuế được miễn và số thuế còn phải nộp.
b) Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng xét giảm thuế, miễn thuế nêu tại điểm 2 mục này, ngoài việc phải kê khai như các đối tượng ở điểm 1, còn phải gửi kèm theo đơn đề nghị, giải trình lý do giảm hoặc miễn thuế có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường, xã nơi có đất chịu thuế.
Chi cục thuế căn cứ tờ khai, đơn đề nghị giảm, miễn thuế kiểm tra, xác minh, kiến nghị mức giảm, miễn thuế cho từng trường hợp, gửi toàn bộ hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền quyết định.
4. Thẩm quyền xét giảm thuế, miễn thuế của điểm 2 mục này do Ủy ban nhân dân huyện, quận và cấp tương đương quyết định theo đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục thuế. Riêng việc xét giảm, miễn thuế đất đối với xí nghiệp quốc doanh trung ương, xí nghiệp quốc doanh tỉnh, thành phố quản lý do Cục trưởng Cục thuế quyết định theo đề nghị của Chi cục trưởng thuế.
Xem nội dung VBĐiều 11. Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục, nguyên tắc xét giảm thuế, miễn thuế đất quy định tại Điều 9, Điều 10 Nghị định này.