Luật Đất đai 2024

Luật Tình trạng khẩn cấp 2025

Số hiệu 104/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 03/12/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Bộ máy hành chính,Tài nguyên - Môi trường,Văn hóa - Xã hội
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 104/2025/QH15

Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2025

 

LUẬT

TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp; tổ chức thi hành nghị quyết, lệnh về tình trạng khẩn cấp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tình trạng khẩn cấp.

Điều 2. Tình trạng khẩn cấp

1. Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội được cấp có thẩm quyền ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp tại một hay nhiều địa phương hoặc trên phạm vi cả nước khi có thảm họa hoặc nguy cơ xảy ra thảm họa do đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân hoặc có tình hình do đe dọa nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

2. Tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Tình trạng khẩn cấp về thảm họa;

b) Tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

c) Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.

Điều 3. Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

3. Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân; huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và sự tham gia của Nhân dân trong phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả của tình trạng khẩn cấp.

4. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và lực lượng trong tình trạng khẩn cấp; xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

5. Việc áp dụng, điều chỉnh, chấm dứt các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp phải bảo đảm kịp thời, công khai, minh bạch; các biện pháp làm hạn chế quyền con người, quyền công dân phải thật sự cần thiết, có căn cứ rõ ràng, tương xứng với tính chất, mức độ sự cố, thảm họa và không phân biệt đối xử.

6. Việc quyết định các biện pháp nhằm ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp gây ra thiệt hại thì người ra quyết định không phải chịu trách nhiệm khi quyết định đó dựa trên thông tin có được tại thời điểm ra quyết định, đúng thẩm quyền và không có động cơ vụ lợi.

7. Hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp phải được chuẩn bị từ sớm, từ xa; chủ động xây dựng lực lượng, trang bị phương tiện, thực hiện phương châm bốn tại chỗ kết hợp với hỗ trợ của Trung ương, địa phương và cộng đồng quốc tế; chủ động cảnh báo, dự báo, đánh giá nguy cơ xảy ra tình trạng khẩn cấp.

Điều 4. Áp dụng Luật Tình trạng khẩn cấp và các luật khác có liên quan

1. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trường hợp luật khác ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có quy định về tình trạng khẩn cấp mà Luật này không quy định và không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật này thì thực hiện theo quy định của luật đó.

3. Trường hợp luật khác ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành cần quy định đặc thù về tình trạng khẩn cấp thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện theo quy định của luật đó nhưng không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật này.

Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong tình trạng khẩn cấp

1. Chống đối, cản trở, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, yêu cầu của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong tình trạng khẩn cấp.

2. Lợi dụng tình trạng khẩn cấp để trục lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

3. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm trong tình trạng khẩn cấp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

4. Trì hoãn, từ chối việc hoàn trả tài sản được huy động, trưng dụng của tổ chức, cá nhân hoặc không bồi thường thiệt hại do việc huy động, trưng dụng tài sản gây ra cho tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

5. Thông tin sai sự thật về tình trạng khẩn cấp.

Điều 6. Hoạt động tố tụng trong tình trạng khẩn cấp

1. Trường hợp áp dụng các biện pháp quy định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này, căn cứ tình hình cụ thể, Chánh án Tòa án các cấp được quyết định các nội dung sau đây:

a) Tạm hoãn hoạt động xét xử;

b) Dị chuyển tạm thời địa điểm xét xử đến nơi có đủ điều kiện xét xử;

c) Thực hiện hoạt động xét xử theo hình thức phù hợp.

2. Trong tình trạng khẩn cấp, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án các cấp được quyết định tạm đình chỉ; quyết định thời hạn tiến hành các hoạt động tố tụng khác với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng phải phù hợp với nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật này.

3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có liên quan quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều này.

Điều 7. Thời hạn, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án hành chính, dân sự trong tình trạng khẩn cấp

1. Khoảng thời gian áp dụng các biện pháp quy định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này không tính vào thời hạn, thời hiệu sau đây:

a) Xử lý, giải quyết vi phạm hành chính;

b) Khởi kiện, giải quyết vụ việc dân sự;

c) Yêu cầu thi hành án hành chính, dân sự;

d) Khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự.

2. Thời hạn, thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này được tính tiếp từ ngày kết thúc thời hạn áp dụng các biện pháp quy định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này.

Điều 8. Hợp tác quốc tế về tình trạng khẩn cấp

1. Nguyên tắc hợp tác quốc tế về tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi;

b) Tuân thủ pháp luật của Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

c) Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả của tình trạng khẩn cấp.

2. Nội dung hợp tác quốc tế về tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Trao đổi thông tin, dự báo, cảnh báo tình trạng khẩn cấp về thảm họa;

b) Tìm kiếm, cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa;

c) Đào tạo, huấn luyện, diễn tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ để phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả của tình trạng khẩn cấp.

3. Trường hợp đã ban bố tình trạng khẩn cấp về thảm họa, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các quốc gia, các tổ chức quốc tế, cá nhân hỗ trợ nguồn lực để phòng ngừa, ứng phó và phối hợp triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả.

4. Thủ tướng Chính phủ quy định việc tiếp nhận, điều phối nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ từ nước ngoài và việc đưa lực lượng, phương tiện của Việt Nam ra nước ngoài tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa.

Chương II

BAN BỐ, CÔNG BỐ, BÃI BỎ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP

Điều 9. Thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp

1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.

2. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.

3. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được thì đề nghị Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.

4. Tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ khi không còn nguy cơ xảy ra thảm họa hoặc thảm họa đã được ngăn chặn, khắc phục; tình hình quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đã ổn định.

Điều 10. Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp

1. Nội dung nghị quyết ban bố của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh công bố của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Căn cứ, lý do ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp;

b) Địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;

c) Thời điểm áp dụng tình trạng khẩn cấp;

d) Trách nhiệm tổ chức thi hành.

2. Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước bãi bỏ tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Căn cứ, lý do bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;

b) Địa bàn được bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;

c) Thời điểm bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;

d) Các biện pháp được tiếp tục áp dụng sau khi bãi bỏ tình trạng khẩn cấp (nếu có);

đ) Trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Điều 11. Thông tin về tình trạng khẩn cấp

1. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, lệnh của Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp phải được thông báo ngay trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.

2. Việc ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp được thông báo ngay cho các quốc gia thành viên Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương công bố thông tin kịp thời, thông suốt, chính xác về tình trạng khẩn cấp đến người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình, tiếp nhận thông tin từ người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp và cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp; bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.

4. Sử dụng số điện thoại 112 để tiếp nhận, xử lý thông tin tình trạng khẩn cấp về thảm họa trên phạm vi toàn quốc.

5. Trong tình trạng khẩn cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp kiểm soát thông tin cần thiết để ngăn chặn, xử lý thông tin sai sự thật, xuyên tạc, gây hoang mang trong Nhân dân, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Việc kiểm soát thông tin bao gồm các hoạt động sau đây:

a) Kiểm soát, kiểm duyệt việc đưa tin, phát tin, đăng tải, chia sẻ thông tin về tình trạng khẩn cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng và không gian mạng; quản lý đặc biệt đối với việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc và dịch vụ viễn thông;

b) Thiết lập quy trình cho hoạt động tác nghiệp của phóng viên trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.

Chương III

BIỆN PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP

Điều 12. Thẩm quyền áp dụng biện pháp trong tình trạng khẩn cấp

1. Người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp phải ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân; được áp dụng một hoặc nhiều biện pháp trong việc ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.

2. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền sau đây:

a) Quyết định áp dụng biện pháp quy định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này và thời hạn áp dụng;

b) Quyết định cơ quan, tổ chức hoặc người có trách nhiệm thi hành biện pháp trong tình trạng khẩn cấp;

c) Trường hợp thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân, sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, quyết định áp dụng các biện pháp mà pháp luật chưa quy định để ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp hoặc áp dụng các biện pháp quy định tại Luật này khi chưa ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp;

d) Trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định áp dụng biện pháp quy định tại Điều 13 của Luật này.

3. Thủ tướng Chính phủ báo cáo việc áp dụng các biện pháp quy định tại điểm c khoản 2 Điều này với cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian gần nhất.

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quyết định áp dụng biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp.

Điều 13. Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa

Trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra thảm họa về thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, sự cố bức xạ, hạt nhân hoặc sự cố khác có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau đây:

1. Các biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự;

2. Các biện pháp ứng phó sự cố về môi trường, hóa chất, bức xạ, hạt nhân, năng lượng hoặc các sự cố khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

3. Di dời, cưỡng chế di dời người dân trong các khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn;

4. Tổ chức lực lượng để bảo đảm an ninh và trật tự, an toàn xã hội, tăng cường bảo vệ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;

5. Yêu cầu các doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất, kinh doanh hàng hóa cần thiết để ứng phó thảm họa;

6. Áp dụng biện pháp bình ổn giá theo quy định của pháp luật về giá; trường hợp hàng hóa, dịch vụ cần bình ổn giá không nằm trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá nhưng cần bình ổn ngay thì do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

7. Kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp buôn lậu, gian lận thương mại, đầu cơ, gây khan hiếm giả, sản xuất hàng giả đối với hàng hóa thiết yếu phục vụ phòng, chống dịch bệnh;

8. Sử dụng vũ lực, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, bắt giữ người và phương tiện vi phạm;

9. Tạm đình chỉ việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn; đồng thời, chỉ định người thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người đứng đầu.

Điều 14. Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

Trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau đây:

1. Các biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự;

2. Biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, ứng phó, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật;

3. Biện pháp áp dụng trong thời gian giới nghiêm quy định tại Luật Quốc phòng;

4. Tăng cường bảo vệ các cơ quan trọng yếu, cơ mật và cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cấp cao của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, khách mời của Đảng, Nhà nước; đài phát thanh, đài truyền hình, bưu điện, đơn vị thông tin; cơ quan thông tấn, cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam; công trình quốc phòng và khu quân sự; công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; Kho bạc Nhà nước, cảng hàng không, bến cảng và các công trình quan trọng khác của Nhà nước; biên giới quốc gia và các cửa khẩu biên giới; trại giam, trại tạm giam và những cơ quan, địa điểm quan trọng khác;

5. Chỉ định cảng hàng không, sân bay hạ cánh cho tàu bay, nơi cập bến, neo đậu cho tàu thuyền, nhà ga cho tàu hỏa, điểm đỗ cho ô tô và các phương tiện giao thông khác; kiểm soát các chuyến bay quá cảnh qua địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;

6. Tổ chức Đội công tác tuyên truyền đặc biệt, Đội tuần tra đặc biệt;

7. Đặt các trạm canh gác và kiểm tra giấy tờ, vật phẩm, hành lý của người qua lại trạm canh gác và kiểm soát;

8. Sử dụng vũ lực, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, giữ người và phương tiện giao thông cố tình vượt trái phép trạm canh gác và kiểm soát hoặc chống lại việc canh gác, kiểm soát;

9. Tạm giữ hoặc phong tỏa tài sản của cá nhân, tổ chức có liên quan có thể gây nguy hại cho an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

10. Hạn chế hoặc cấm các giao dịch kinh tế, thương mại với một số quốc gia hoặc tổ chức có liên quan đến tình trạng khẩn cấp.

Điều 15. Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng

Trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành vi xâm lược hoặc bạo loạn có vũ trang nhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau đây:

1. Các biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự;

2. Biện pháp áp dụng trong thời gian thiết quân luật quy định tại Luật Quốc phòng;

3. Cấm xuất khẩu đối với các mặt hàng có liên quan đến quốc phòng.

Điều 16. Biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp

1. Cứu trợ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm; bố trí nơi ăn ở tạm thời phục vụ việc di dời khẩn cấp các hộ dân đang sinh sống ở địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp, bảo đảm an toàn, ổn định tâm lý, cuộc sống của người dân.

2. Thống kê, đánh giá thiệt hại để xác định nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ và triển khai phương án khắc phục hậu quả.

3. Thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất giúp người dân, doanh nghiệp, tổ chức khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp, phục hồi sản xuất, kinh doanh.

4. Bảo đảm an toàn và hoạt động của các hệ thống giao thông công cộng, thông tin liên lạc, cấp nước, thoát nước, cung cấp điện, y tế, phát thanh truyền hình.

5. Các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường, phòng, chống dịch bệnh.

6. Các biện pháp khác để khắc phục hậu quả theo quy định của Luật Phòng thủ dân sự.

Điều 17. Thống kê, đánh giá thiệt hại

1. Việc thống kê, đánh giá thiệt hại thực hiện theo quy định của pháp luật về thống kê và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Nội dung thực hiện thống kê, đánh giá thiệt hại bao gồm:

a) Điều tra, thu thập hồ sơ, tài liệu, số liệu liên quan đến thống kê thiệt hại;

b) Kiểm tra, tổng hợp số liệu và lập các biểu thống kê thiệt hại ở các cấp theo quy định;

c) Phân tích, đánh giá nguyên nhân, ước tính thiệt hại, đề xuất các giải pháp hỗ trợ, khắc phục hậu quả;

d) Lập báo cáo thống kê, đánh giá thiệt hại.

3. Bộ, ngành Trung ương, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn việc tổ chức thực hiện thống kê, đánh giá thiệt hại thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý.

Điều 18. Huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ

1. Việc huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:

a) Tuân theo quy định của pháp luật, căn cứ vào mức độ thiệt hại xảy ra và phối hợp với chính quyền địa phương nơi có đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ để bảo đảm kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch, tránh trùng lặp;

b) Việc cứu trợ, hỗ trợ cần tập trung đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân bị ảnh hưởng do thảm họa, đặc biệt là đối tượng dễ bị tổn thương;

c) Trang thiết bị, tài sản được huy động phải được hoàn trả ngay sau khi kết thúc nhiệm vụ; trường hợp bị thiệt hại thì được bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Thẩm quyền huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:

a) Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, trưởng ngành Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp huy động nguồn lực theo thẩm quyền để phục vụ công tác cứu trợ khẩn cấp và thực hiện chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về dự trữ quốc gia;

b) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam vận động quyên góp và phân bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp và thực hiện chính sách hỗ trợ; phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp tiếp nhận và phân bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp và thực hiện chính sách hỗ trợ;

c) Tổ chức, cá nhân được phép quyên góp từ cộng đồng theo quy định của pháp luật có trách nhiệm phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương, nơi được hỗ trợ để thực hiện cứu trợ khẩn cấp và thực hiện chính sách hỗ trợ.

Điều 19. Cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp

1. Đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp bao gồm:

a) Cá nhân bị thương, hộ gia đình có người bị chết, mất tích;

b) Hộ gia đình, cá nhân không có chỗ ở, không có lương thực, thực phẩm, nước uống và hàng hóa thiết yếu; người có nguy cơ bị ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, ưu tiên đối tượng dễ bị tổn thương;

c) Doanh nghiệp được yêu cầu chuyển đổi sản xuất, kinh doanh hàng hóa cần thiết ứng phó thảm họa.

2. Ưu tiên cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp lương thực, thực phẩm, nước uống, thuốc chữa bệnh và hàng hóa, dịch vụ thiết yếu khác để ổn định đời sống, phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường ở địa bàn bị tác động của tình trạng khẩn cấp. Miễn phí giao thông đường bộ đối với phương tiện làm nhiệm vụ, vận chuyển thuốc, dược liệu, hàng hóa, trang thiết bị đến địa bàn xảy ra tình trạng khẩn cấp.

3. Nguồn lực cho cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp từ hàng dự trữ quốc gia, dự phòng ngân sách nhà nước và đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ quốc tế, quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách khác, nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Điều 20. Chính sách hỗ trợ

1. Nhà nước có chính sách hỗ trợ về tài chính, thuế, phí, lệ phí, tín dụng, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, lao động, việc làm, xuất cảnh, nhập cảnh, an sinh xã hội nhằm nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời sống của người dân và hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

2. Đối tượng được hỗ trợ bao gồm cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tình trạng khẩn cấp.

3. Đối với chính sách thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trước khi thực hiện; trong trường hợp cấp thiết, Chính phủ quyết định áp dụng các chính sách và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian gần nhất.

Điều 21. Nguồn lực ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ trong tình trạng khẩn cấp

1. Nguồn lực ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ trong tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Ngân sách nhà nước;

b) Quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách khác;

c) Hàng dự trữ quốc gia;

d) Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

đ) Nguồn lực từ hỗ trợ quốc tế;

e) Nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.

2. Nhà nước bảo đảm ngân sách cho phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho khu vực biên giới, hải đảo, khu vực trọng yếu, địa bàn trọng điểm.

3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định việc sử dụng quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách khác trong tình trạng khẩn cấp.

4. Nhà nước có kế hoạch dự trữ quốc gia để bảo đảm ứng phó trong tình trạng khẩn cấp. Việc quản lý, sử dụng dự trữ quốc gia để bảo đảm ứng phó trong tình trạng khẩn cấp thực hiện theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.

Điều 22. Đào tạo, huấn luyện, diễn tập về tình trạng khẩn cấp

1. Đào tạo, huấn luyện về tình trạng khẩn cấp được quy định như sau:

a) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện về tình trạng khẩn cấp cho lực lượng vũ trang;

b) Bộ trưởng các Bộ có lực lượng chuyên trách về phòng thủ dân sự xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện về tình trạng khẩn cấp cho lực lượng do Bộ mình quản lý;

c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo công tác huấn luyện về tình trạng khẩn cấp cho lực lượng tại địa phương.

2. Diễn tập về tình trạng khẩn cấp được quy định như sau:

a) Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ có nội dung về tình trạng khẩn cấp về quốc phòng;

b) Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức diễn tập tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

c) Các Bộ trong phạm vi quản lý về ngành, lĩnh vực, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và địa phương tổ chức diễn tập phòng thủ dân sự có nội dung về tình trạng khẩn cấp về thảm họa;

d) Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức diễn tập tình trạng khẩn cấp về thảm họa.

Điều 23. Chế độ, chính sách đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong tình trạng khẩn cấp

1. Người được điều động, huy động làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quyết định của cấp có thẩm quyền được hưởng chính sách đặc thù và các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ hoạt động trong tình trạng khẩn cấp có thành tích thì được khen thưởng; bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm thì được khôi phục; người bị chết, bị thương, tổn hại sức khỏe thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Chương IV

TỔ CHỨC THI HÀNH NGHỊ QUYẾT, LỆNH VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP

Điều 24. Chỉ đạo, chỉ huy trong tình trạng khẩn cấp

1. Chính phủ chỉ đạo, tổ chức thi hành nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp.

2. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự Bộ, ngành Trung ương, cơ quan ngang Bộ và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự địa phương các cấp chỉ đạo, chỉ huy hoạt động trong tình trạng khẩn cấp về thảm họa.

3. Ban Chỉ huy Bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia chỉ huy, điều hành hoạt động trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

4. Ban Chỉ huy Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo quy định của pháp luật về quốc phòng chỉ huy, điều hành hoạt động trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.

Điều 25. Điều động lực lượng vũ trang đến địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp

1. Trong trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước điều động lực lượng vũ trang đến địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an điều động lực lượng thuộc quyền đến địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp về thảm họa để hỗ trợ các lực lượng tại chỗ ứng phó, khắc phục hậu quả của thảm họa hoặc để ổn định, duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Điều 26. Thẩm quyền, biện pháp xử lý người bị tạm giữ trong tình trạng khẩn cấp

1. Trong tình trạng khẩn cấp, ngoài người có thẩm quyền tạm giữ người, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật, Đội trưởng Đội tuần tra đặc biệt có thẩm quyền tạm giữ người vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính như thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Trưởng Công an cấp xã theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

2. Trường hợp người bị tạm giữ có dấu hiệu tội phạm, phải phối hợp ngay với cơ quan có thẩm quyền chuyển giao người bị tạm giữ cùng toàn bộ hồ sơ, tang vật cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời gian người bị tạm giữ chưa được chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý thì được tạm giữ lại cơ sở tạm giữ theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Chỉ huy lực lượng trong tình trạng khẩn cấp

1. Người chỉ huy đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân điều động và chỉ huy lực lượng thuộc quyền chủ trì hoặc phối hợp thực hiện hoạt động trong tình trạng khẩn cấp.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chỉ huy các lực lượng trong tình trạng khẩn cấp.

Điều 28. Lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp

1. Lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp bao gồm:

a) Lực lượng nòng cốt;

b) Lực lượng rộng rãi.

2. Lực lượng nòng cốt gồm lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; lực lượng của các Bộ, ngành và địa phương.

Đội ứng phó khẩn cấp, Đội công tác tuyên truyền đặc biệt, Đội tuần tra đặc biệt được thành lập từ lực lượng nòng cốt.

3. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 29. Trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp

1. Trang thiết bị cho lực lượng nòng cốt bao gồm các loại phương tiện, thiết bị, vật tư bảo đảm cho hoạt động trong tình trạng khẩn cấp và thiết bị, vật tư bảo đảm an toàn cho lực lượng trong tình trạng khẩn cấp.

2. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành Trung ương, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp.

3. Bộ, ngành Trung ương, địa phương bảo đảm trang thiết bị cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp theo danh mục quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 30. Áp dụng pháp luật về sự kiện bất khả kháng

Việc áp dụng các biện pháp quy định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này dẫn đến việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không thể thực hiện được các nghĩa vụ theo hợp đồng được xem xét, đánh giá để áp dụng quy định pháp luật về sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Điều 31. Biện pháp áp dụng khi bãi bỏ tình trạng khẩn cấp

1. Khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ thì biện pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp hết hiệu lực, trừ trường hợp luật, nghị quyết hoặc lệnh bãi bỏ tình trạng khẩn cấp có quy định khác.

2. Hủy bỏ, thu hồi hoặc điều chỉnh các quyết định không còn phù hợp; hoàn trả tài sản, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng.

3. Ủy ban nhân dân các cấp tại địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp và các cơ quan nhà nước liên quan có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để ổn định đời sống của người dân, phục hồi sản xuất.

Chương V

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN

Điều 32. Trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

1. Kịp thời ban hành nghị quyết ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.

2. Ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân và báo cáo Quốc hội theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp cần thiết, sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, quy định các biện pháp chưa được quy định tại Luật này và các luật khác có liên quan để ứng phó trong tình trạng khẩn cấp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Điều 33. Trách nhiệm quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Quốc phòng là đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp.

3. Các Bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực được giao.

4. Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp về thảm họa tại địa phương.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 34. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức

Cơ quan, tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm sau đây:

1. Tuyên truyền, vận động người lao động, thành viên trong cơ quan, tổ chức mình, người dân chấp hành quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp;

2. Chủ động xây dựng, bảo vệ công trình, cơ sở vật chất thuộc phạm vi quản lý;

3. Chấp hành quyết định huy động nhân lực, trang thiết bị, nhu yếu phẩm của người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động trong tình trạng khẩn cấp;

4. Báo cáo, thông tin chính xác, kịp thời thiệt hại trong tình trạng khẩn cấp; chủ động khắc phục hậu quả, vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh trong phạm vi quản lý;

5. Doanh nghiệp phải chuyển đổi sản xuất, kinh doanh phù hợp theo yêu cầu để cung cấp vật tư, nhu yếu phẩm, trang thiết bị bảo đảm chất lượng.

Điều 35. Trách nhiệm của cá nhân

1. Chủ động ứng phó, khắc phục hậu quả nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân và gia đình; trong điều kiện có thể, tham gia hỗ trợ cộng đồng, giúp đỡ người bị thiệt hại trong tình trạng khẩn cấp tại địa phương.

2. Thực hiện các biện pháp ứng phó theo kế hoạch của địa phương; chấp hành hướng dẫn, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền về sơ tán người, phương tiện ra khỏi khu vực nguy hiểm; chấp hành quyết định huy động trang thiết bị, tài sản để phục vụ hoạt động ứng phó trong tình trạng khẩn cấp của người có thẩm quyền.

3. Thông báo, cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền về diễn biến, thiệt hại khi có điều kiện thực hiện.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 36. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

2. Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp số 20/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

62
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Tình trạng khẩn cấp 2025
Tải văn bản gốc Luật Tình trạng khẩn cấp 2025

NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness

---------------

Law No.: 104/2025/QH15

Hanoi, December 03, 2025

 

LAW

ON STATE OF EMERGENCY

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by the Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly hereby issues the Law on State of Emergency.

Chapter I

GENERAL REGULATIONS

Article 1. Scope

This law provides for the rules, procedures, and authority for declaring, announcing, and revoking the declaration of a state of emergency; measures to be applied during a state of emergency; execution of resolutions and orders on a state of emergency; and responsibilities of agencies, organizations, and individuals during a state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. "state of emergency" means a social situation declared and announced by competent authorities in one or multiple administrative divisions or nationwide when a disaster—or the serious threat of one—poses a grave danger to human life and health, the assets of the State, agencies, organizations, or individuals, or threatens national defense, security, public order, or social safety.

2. State of emergency includes:

a) Disaster emergencies

b) National security/social order and safety emergencies;

c) National defense-related emergencies.

Article 3. Rules of operation in a state of emergency

1. Comply with the Constitution, laws of Vietnam, and international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

2. Be put under the leadership of the Communist Party of Vietnam and the unified management of the State.

3. Protect national and ethnic interests, and the lives and health of the people; mobilize the strength of the great national unity bloc; promote the role and responsibility of the Vietnam Fatherland Front, agencies, organizations, enterprises, and People’s participation in prevention/control of, response to, and recovery from the state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. The application, adjustment, and termination of measures during the state of emergency must be timely, public, and transparent; restriction of human and civil rights must be genuinely necessary, clearly justified, proportionate to the nature and severity of the incident or disaster, and non-discriminatory.

6. Persons issuing decisions on applying measures aimed at responding to and recovering from emergencies shall be exempt from liability if the decision is based on information available at the time, within proper authority, and without selfish motives.

7. Emergency prevention, response, and mitigation activities must be prepared early and in advance; proactively build up forces, equip them with means/instruments, and implement the "four on-the-spot" principles combined with support from the central government, local government, and the international community; and proactively provide warning, forecast, and assess the risk of emergencies.

Article 4. Application of the Law on State of Emergency and other relevant laws

1. The authority, procedures, and measures applied during the state of emergency on Vietnamese territory shall comply with this Law and other relevant laws.

2. In cases where other laws enacted before the effective date of this Law have regulations on the state of emergency that are not regulated in this Law and do not conflict with the principles stated in Article 3 of this Law, those regulations shall apply.

3. In cases where other laws enacted after the effective date of this Law need to regulate specific issues regarding the state of emergency, the specific content to be implemented according to those laws shall be clearly identified but must not conflict with the principles set out in Article 3 of this Law.

Article 5. Prohibited Acts during a state of emergency

1. Opposing, obstructing, disobeying, or failing to fully comply with the directives, commands, instructions, or requests of competent agencies or persons during a state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Abusing positions or powers, or showing negligence during the state of emergency causing damage to the interests of the State or the lawful rights and interests of organizations and individuals.

4. Delaying or refusing to return assets mobilized or requisitioned from organizations or individuals or failing to compensate for damage caused by mobilization or requisition as specified in this Law and relevant laws.

5. Disseminating false information about the state of emergency.

Article 6. Procedural activities during a State of Emergency

1. When applying measures specified in Articles 13, 14, and 15 of this Law, based on the specific situation, the Chief Justice of courts at all levels may decide the following contents:

a) Suspending trial activities;

b) Temporarily relocating trial venues to locations with sufficient trial conditions;

c) Conducting trials according to appropriate forms.

2. During the state of emergency, heads of Investigation authorities, Prosecutor Generals, and chief justices of courts at all levels may decide to suspend and set timelines for conducting other procedural activities that differ from the regulations of the Criminal Procedure Code, but must comply with the principles set out in Article 3 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 7. Duration and statute of limitations for imposing administrative penalties, handling civil cases, and executing administrative and civil judgments during a state of emergency

1. The period during which measures specified in Articles 13, 14, and 15 of this Law are applied shall not be included in the following time limits and statute of limitations:

a) Handling and resolution of administrative violations;

b) Filing and resolution of civil cases;

c) Requests for execution of administrative and civil judgments;

d) Complaints and resolution of complaints and denunciations regarding civil judgment execution.

2. The time limits and statute of limitations specified in Clause 1 of this Article shall resume from the date of expiration of the time limits for applying the measures stipulated in Articles 13, 14, and 15 of this Law.

Article 8. International cooperation on state of emergency

1. Rules for international cooperation on state of emergency include:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Comply with Vietnamese laws and international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

c) Seeking support and assistance from the international community in prevention/control, response, and recovery from the state of emergency.

2. Contents of international cooperation on the state of emergency include:

a) Exchange of information, forecasting, and warning about disaster emergencies;

b) Search and rescue, humanitarian aid, and disaster relief;

c) Training, drills, research, application of science, and technology transfer for prevention/control, response, and recovery from the state of emergency.

3. In cases where a state of emergency due to disasters has been declared/announced, the President and the Prime Minister shall request support from countries, international organizations, and individuals in terms of resources for prevention/control, response, and cooperation in implementing remedial measures.

4. The Prime Minister shall provide for the reception and coordination of relief and assistance resources from foreign countries and the deployment of Vietnamese forces and means abroad to participate in emergency response and recovery, humanitarian aid, and disaster relief.

Chapter II

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 9. Authority to declare, announce, and revoke declaration of a state of emergency

1. The Standing Committee of the National Assembly shall have the authority to declare and revoke declaration of a state of emergency. Based on the resolution of the Standing Committee of the National Assembly regarding the declaration or revocation of the declaration of a state of emergency, the President shall issue the order to announce or revoke declaration of a state of emergency.

2. If the Standing Committee of the National Assembly is unable to convene, the President shall issue the order to announce or revoke declaration of a state of emergency.

3. The Prime Minister shall propose to the Standing Committee of the National Assembly the decision on the declaration or revocation of the declaration of a state of emergency; if the Standing Committee is unable to convene, the Prime Minister shall propose to the President to issue the order to announce or revoke the declaration of a state of emergency.

4. The declaration of a state of emergency shall be revoked when there is no longer a risk of disaster occurring, or when the disaster has been prevented or remedied; or when the situation of national defense, national security, social order, and safety has stabilized.

Article 10. Contents of the resolution of the Standing Committee of the National Assembly and the order of the President on the state of emergency

1. The contents of the resolution declaring a state of emergency by the Standing Committee of the National Assembly and the order announcing it by the President shall include:

a) Grounds and reasons for declaring or announcing a state of emergency;

b) The geographical area placed under a state of emergency;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Responsibilities for implementation.

2. The contents of the resolution by the Standing Committee and the order of the President to revoke the declaration of a state of emergency shall include:

a) Grounds and reasons for revoking the declaration of a state of emergency;

b) The geographical area where the declaration of a state of emergency is revoked;

c) The effective time of revocation;

d) Measures allowed to continue to be applied after revocation (if any);

dd) Responsibilities for implementation.

Article 11. Information related to the state of emergency

1. Resolutions by the Standing Committee of the National Assembly declaring or revoking the declaration of a state of emergency, and the orders by the President announcing or revoking the declaration of a state of emergency must be immediately communicated through mass media and be publicly posted at the offices of People’s Committees at all levels in the areas placed under a state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Heads of local governments, agencies, and organizations must promptly, smoothly, and accurately provide information about the state of emergency to the people, agencies, organizations, and enterprises; within their jurisdiction, they shall receive information from the people, agencies, organizations, and enterprises to implement remedial measures and emergency relief and support; ensure communications for response and remedial efforts.

4. Use the telephone number 112 nationwide to receive and handle disaster emergency information.

5. During the state of emergency, competent agencies, organizations, and individuals may to apply necessary information control measures to prevent and deal with false, distorted information that causes public confusion and to ensure security, order, and social safety. Information control includes the following activities:

a) Control and censor the reporting, broadcasting, posting, and sharing of information about the state of emergency on mass media and cyberspace; exercise special management over the use of communication means and telecommunication services;

b) Establishing procedures for reporting activities of journalists in areas under a state of emergency.

Chapter III

MEASURES APPLIED DURING A STATE OF EMERGENCY

Article 12. Authority to apply measures in a state of emergency

1. Persons with competence to apply measures during a state of emergency must prioritize protecting national and ethnic interests as well as the lives and health of the people; they may apply one or multiple measures to respond to and recovering from a state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Decide the application of the measures prescribed in Articles 13, 14, and 15 of this Law, including the duration of application;

b) Decide the agencies, organizations, or individuals responsible for implementing the measures during the state of emergency;

c) In cases genuinely necessary for national and ethnic interests and the lives and health of people, after obtaining approval from the competent authority, decide the application of measures not yet regulated by law to respond to and recover from the state of emergency, or apply the measures under this Law before declaring or announcing a state of emergency;

d) When necessary, the Prime Minister may authorize the President of the Provincial People's Committee to decide on the application of measures specified in Article 13 of this Law.

3. The Prime Minister shall report the application of measures specified in point c of clause 2 of this Article to the competent authorities of the Communist Party of Vietnam, National Assembly, and its Standing Committee in the nearest possible time.

4. Presidents of People’s Committees at all levels, within their jurisdiction, shall decide the civil defense measures applied during a state of emergency.

Article 13. Measures applied during a state of emergency in case of disaster

In areas placed under a state of emergency due to the occurrence or risk of natural disasters, epidemics, environmental pollution, radiation or nuclear incidents, or other incidents, one or several of the following measures may be applied:

1. Civil defense measures applied in a state of emergency specified in the Law on Civil Defense;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Evacuation and enforced relocation of people from dangerous areas to safe places;

4. Organization of forces to ensure security, social order, and safety; intensification protection of agencies, organizations, and individuals in areas under the state of emergency;

5. Requesting enterprises to convert production and business activities to provide essential goods for disaster response;

6. Applying price stabilization measures in accordance with the price laws; if essential goods or services requiring price stabilization are not included in the List of goods and services of price stabilization but need immediate stabilization, the Prime Minister shall make the decision;

7. Inspection and strictly handling of cases of smuggling, trade fraud, speculation, creating artificial shortages, and producing counterfeit goods affecting essential goods for disease prevention and control;

8. Using force, weapons, and support instruments as prescribed by law to prevent and detain violators and means used for committing violations;

9. Suspending duties and responsibilities of heads of local governments, agencies, and organizations who fail to perform or improperly perform their duties; appointing persons to carry out the duties of the suspended heads.

Article 14. Measures applied during national security/social order and safety emergencies

In areas placed under a state of emergency due to situations posing serious threats to national security, social order, and safety, one or several of the following measures may be applied:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Measures to protect national security, ensure order and social safety, and respond to and handle dangerous situations related to national security, order, and safety according to the law;

3. Measures applied during curfews as prescribed in the Law on National Defense;

4. Intensification of protection for key and confidential agencies, senior leaders of the Communist Party of Vietnam and State at central and local levels, guests of the Communist Party of Vietnam and State; radio, television, post offices, and information units; press agencies, diplomatic and consular missions, and representatives of international organizations in Vietnam; national defense works and military zones; important works related to national security; the State Treasury, airports, seaports, and other important works of the State; national borders and border checkpoints; prisons, detention camps, and other important agencies and locations;

5. Designating airports and airfields for aircraft landings, docking and mooring points for ships, train stations, parking points for automobiles and other vehicles; controlling transit flights through areas placed under a state of emergency;

6. Establishing Special dissemination teams and Special patrol teams;

7. Set up guard posts and check the documents, items, and luggage of people passing through the guard posts and checkpoints;

8. Use force, weapons, and supporting instruments as prescribed by law to prevent, detain persons and vehicles intentionally bypassing guard posts or resisting orders;

9. Temporarily seize or freeze assets of individuals and organizations related to activities harmful to national security, order, and safety;

10. Restrict or prohibit trade and economic transactions with certain countries or organizations related to the state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In areas placed under a state of emergency where there is a direct threat of invasion or acts of armed invasion or unrest have occurred but not to the extent of declaring a state of war, one or multiple of the following measures may be applied:

1. Civil defense measures for state of emergency prescribed in the Law on Civil Defense;

2. Measures applied during martial law as prescribed in the Law on National Defense;

3. Export bans on goods related to national defense.

Article 16. Remedial measures during a national defense-related emergency

1. Provide relief and support with food, medicine, essential supplies; arrange temporary accommodation to serve the urgent evacuation of households living in areas under a state of emergency, ensuring their safety, psychological stability, and living conditions.

2. Conduct damage assessment and statistics to determine relief and support needs and implement remedial plans.

3. Implement mechanisms and policies to support production, which help people, businesses, and organizations to recover during a state of emergency and restore production and business.

4. Ensure the safety and operation of public transport, communications, water supply, drainage, electricity supply, healthcare, and broadcasting systems.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

6. Apply other remedial measures in accordance with the Law on Civil Defense.

Article 17. Damage assessment and statistics

1. Damage assessment and statistics shall be carried out according to laws on statistics and other relevant laws.

2. Contents of damage assessment and statistics include:

a) Investigating and collecting records, documents, and data related to damage statistics;

b) Checking, consolidating data, and preparing damage statistical reports at all levels as prescribed;

c) Analyzing and assessing causes, estimating damage, proposing solutions for support and mitigation of consequences.

d) Preparing damage statistical and assessment reports.

3. Ministries, ministerial agencies, and People’s Committees at all levels shall provide guidance on damage assessment and statistics within their sectors and areas.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Mobilization, donation, and allocation of relief and support resources shall be carried out in accordance with the following regulations:

a) The mobilization, donation, and allocation shall follow laws and are carried out based on the extent of damage and in cooperation with local authorities where beneficiaries reside to ensure timeliness, fairness, transparency, and avoid overlap;

b) Relief and support must focus on essential needs of people affected by disasters, especially vulnerable groups;

c) Equipment and assets mobilized must be promptly returned after the mission ends; in case of damage, compensation will be made according to the law.

2. Authorities to mobilize, donate, and allocate relief and support resources are as follows:

a) The Prime Minister, Ministers, heads of ministerial agencies, heads of central authorities, and Presidents of People’s Committees at all levels may mobilize resources within their authority to serve emergency relief work and implement support policies under laws on state budget and national reserve;

b) The Vietnam Fatherland Front and the Vietnam Red Cross Society shall call for donations and allocate resources for emergency relief and support policy implementation; cooperate with People’s Committees at the same level to receive and allocate resources;

c) Organizations and individuals permitted to call for donations from the community under the law are responsible for cooperating with local authorities and the Vietnam Fatherland Front at the supported locations to implement emergency relief and support policies.

Article 19. Emergency relief and support

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Individuals injured, households with members who have died or gone missing;

b) Households or individuals without shelter, food, drinking water, and essential goods; persons whose life or health is at risk, especially vulnerable groups;

c) Enterprises requested to convert production or business to essential goods for disaster response.

2. Priority is given to emergency relief and support regarding food, drinking water, medicine, and other essential goods and services to stabilize life, prevent epidemics, and maintain environmental hygiene in areas affected by the state of emergency. Road transport is free of charge for vehicles performing duties transporting medicine, medicinal materials, goods, and equipment to emergency areas.

3. Resources for emergency relief and support come from national reserves, state budget contingency funds, voluntary contributions from organizations and individuals, international support, civil defense funds, other state non-budget financial funds, and other financial sources as provided by law.

Article 20. Support policies

1. The State shall have support policies regarding finance, taxes, fees, charges, credit, investment, production, business, labor, employment, immigration and social security to promptly restore production, stabilize livelihoods, and ensure operations of agencies, organizations, and enterprises.

2. Beneficiaries include agencies, organizations, households, individuals, and enterprises directly affected by the state of emergency.

3. For policies within the National Assembly or its Standing Committee’s authority, the Government shall report to the Standing Committee for consideration and decision prior to implementation; in urgent cases, the Government may decide to apply policies and report to the Standing Committee at the earliest opportunity.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Resources for response, relief, and support during a state of emergency include:

a) State budget;

b) Civil defense fund and other state non-budget financial funds;

c) National reserves;

d) Voluntary contributions of domestic and foreign organizations and individuals;

dd) Resources from international support;

e) Other financial resources as prescribed by law.

2. The State shall cover budget for prevention, response, and recovery during a state of emergency according to state budget laws; priority is given to border, island, key, and critical areas.

3. Competent authorities shall decide the use of civil defense funds and other state non-budget financial funds during a state of emergency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 22. Training and drills on state of emergency

1. Training on state of emergency shall comply with the following regulations:

a) The Minister of National Defense and the Minister of Public Security shall issue training content and programs for armed forces on state of emergency;

b) Ministers of Ministries with specialized civil defense forces shall develop training content and programs for forces under their management;

c) Provincial People’s Committees shall direct the training of emergency forces in the province/city.

2. Drills on state of emergency shall comply with the following regulations:

a) The Ministry of National Defense shall take charge and cooperate with relevant ministries, central and local authorities in organizing regional defense drills related to national defense-related emergency;

b) The Ministry of Public Security shall take charge and cooperate with relevant ministries, central and local authorities to organize drills on National security/social order and safety emergencies;

c) Ministries, within their management scope, shall cooperate with the Ministry of National Defense, Public Security and local authorities in organizing regional defense drills related to national defense-related emergency;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 23. Benefits and policies for organizations and individuals participating in activities during a state of emergency

1. Persons mobilized and assigned tasks during a state of emergency under the decision of competent authorities shall be entitled to special benefits and policies as regulated by law.

2. Agencies, organizations, and individuals participating in, cooperating, collaborating, or supporting activities during a state of emergency who make achievements shall be commended; those whose property is damaged shall be compensated; those whose honor and dignity are harmed shall be restored; individuals who are deceased, injured, or whose health is affected shall themselves or their families receive benefits and policies according to law.

3. The Government shall elaborate this Article.

Chapter IV

ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION OF RESOLUTIONS AND ORDERS ON STATE OF EMERGENCY

Article 24. Instruction and command during a state of emergency

1. The Government shall direct and organize the implementation of resolutions of the Standing Committee of the National Assembly and orders of the President on the state of emergency.

2. The National Civil Defense Steering Committee, Civil Defense Command of Ministries, ministerial agencies, and local Civil Defense Commands at all levels shall direct and command activities during disaster emergencies.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. The National Defense Emergency Command, as prescribed in laws on national defense, shall command and coordinate activities during a national defense-related emergency.

Article 25. Mobilization of armed forces to areas under a state of emergency

1. When necessary, the Prime Minister shall propose the President to mobilize armed forces to areas placed under a national security/social order and safety emergency.

2. The Minister of National Defense and the Minister of Public Security shall mobilize forces under their authority to areas under a disaster emergency to support local forces in responding to and recovering from disasters, or in stabilizing and maintaining security, social order, and safety.

Article 26. Authority and measures for handling temporary detainees during a state of emergency

1. During a state of emergency, besides persons with the authority to temporarily detain and handle violations as prescribed by law, the captain of the Special Patrol Team shall also have the authority to temporarily detain administrative violators and impose administrative sanctions similarly to the authority of the Border Guard Station Commander or head of Commune-level Police authority under laws on penalties for administrative violations.

2. If a temporary detainee shows signs of criminal acts, the responsible agency shall promptly cooperate with competent authority to transfer the temporary detainee along with all relevant files and evidence to competent procedural agency in accordance with law.

3. While waiting for transfer to competent authorities, the temporary detainee must be kept at detention facilities as prescribed by law.

Article 27. Command of forces during a state of emergency

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Ministers, heads of ministerial agencies, and Presidents of People’s Committees at all levels shall command forces during the state of emergency.

Article 28. Forces for prevention, response, and mitigation of consequences of state of emergency

1. Forces for prevention, response, and mitigation of consequences of state of emergency include:

a) Core forces;

b) Universal forces.

2. Core forces include People’s Army, People’s Police, Militia and Self-Defense forces, forces participating in grassroots security and order protection, and forces of ministries, central and local authorities.

The Emergency Response Teams, Special Dissemination Teams, and Special Patrol Teams are formed from the core forces.

3. Universal forces consist of the general public.

4. The Government shall elaborate this Article.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Equipment for core forces include vehicles, equipment, materials serving operation during the state of emergency, and safety equipment and materials for these forces.

2. The Ministry of National Defense shall take charge and cooperate with ministries, central authorities, and local authorities to submit the list of equipment serving training, drills, response, and recovery during state of emergency to the Prime Minister for approval.

3. Ministries, central authorities, and local authorities shall provide equipment for training, drills, response, and recovery during the state of emergency according to the approved list.

Article 30. Application of law regarding force majeure events

The application of measures specified in Articles 13, 14, and 15 of this Law that results to agencies, organizations, or individuals being unable to fulfill contractual obligations, shall be considered and assessed for applying the laws on force majeure, unless otherwise agreed or otherwise provided by law.

Article 31. Measures applied upon revocation the declaration of a state of emergency

1. When the declaration of a state of emergency is revoked, all emergency measures shall cease to have effect except where laws, resolutions, or orders on revocation the declaration of a state of emergency provide otherwise.

2. Decisions that are no longer appropriate shall be cancelled, revoked, adjusted; affected agencies and individuals shall have their assets returned and lawful rights and interests restored.

3. People’s Committees at all levels in areas previously under state of emergency and relevant state agencies shall apply necessary measures to stabilize people’s lives and restore production.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

RESPONSIBILITIES OF AGENCIES, ORGANIZATIONS, AND INDIVIDUALS

Article 32. Responsibilities of the Standing Committee of the National Assembly

1. Promptly issue resolutions on the declaration and revocation of declaration of state of emergency at the request of the Prime Minister.

2. Issue policies to support production and business development to ensure the normal operation of agencies, organizations, enterprises, and people, and report to the National Assembly as prescribed by law.

3. When necessary, upon approval of the competent authority, provide for measures not yet specified in this Law and related laws to respond to the state of emergency and report to the National Assembly at the nearest session.

Article 33. State management responsibilities regarding state of emergency

1. The Government shall unify state management of the state of emergency nationwide.

2. The Ministry of National Defense shall take charge and be accountable to the Government for state management of state of emergency.

3. Ministries shall be accountable to the Government for state management of state of emergency within their assigned fields and sectors.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 34. Responsibilities of agencies and organizations

Agencies and organizations, according to their functions and tasks, shall have the following responsibilities:

1. Disseminate and encourage employees, members of their agencies/organizations, and the public to comply with laws on state of emergency;

2. Proactively build and protect works and facilities under their management;

3. Comply with decisions on mobilization of manpower, equipment, and essential supplies by competent authorities to serve operations during the state of emergency;

4. Promptly report and provide accurate information on damages during the state of emergency; proactively recover, maintain environmental sanitation, and prevent epidemics within their management scope;

5. Enterprises must repurpose their production and business suitably according to requirements to supply quality materials, essential goods, and equipment.

Article 35. Responsibilities of individuals

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Implement response measures according to local plans; comply with guidance and requests of competent authorities/persons on evacuation of people and vehicles from dangerous areas; comply with decisions on mobilization of equipment and assets to serve emergency response by competent authorities.

3. Notify and promptly provide information to competent authorities about developments and damage conditions when possible.

Chapter VI

IMPLEMENTATION

Article 36. Effect

1. This Circular comes into force from July 01, 2026.

2. Ordinance No. 20/2000/PL-UBTVQH10 on state of emergency shall expire as of the effective date of this Law.

This Law was ratified by the 15th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 10th session on December 03, 2025.

 

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

PRESIDENT OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Tình trạng khẩn cấp 2025
Số hiệu: 104/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Bộ máy hành chính,Tài nguyên - Môi trường,Văn hóa - Xã hội
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 03/12/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản