Luật Đất đai 2024

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025

Số hiệu 78/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 18/06/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Thương mại
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 78/2025/QH15

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2025

 

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:

“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa và tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa và tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Sản phẩm là kết quả đầu ra của quá trình chế tạo, sản xuất hoặc kết quả đầu ra không tồn tại dưới dạng vật chất được tạo ra từ các hoạt động dịch vụ.

2. Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào lưu thông trên thị trường, phục vụ mục đích tiêu dùng, sử dụng hoặc kinh doanh.

3. Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là tổng hợp các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc yêu cầu quản lý theo quy định của luật có liên quan.

4. Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là việc tổ chức và thực hiện biện pháp kiểm soát việc tuân thủ yêu cầu của tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc yêu cầu quản lý theo quy định của luật có liên quan.

5. Rủi ro của sản phẩm, hàng hóa là khả năng xảy ra các sự kiện không mong muốn trong suốt quá trình sản xuất, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng sản phẩm, hàng hóa có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng, an toàn hoặc tính phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, từ đó tác động đến quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp và các bên liên quan.

6. Mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa là khả năng xảy ra rủi ro liên quan đến sản phẩm, hàng hóa trong toàn bộ vòng đời của nó, được xác định bởi sự kết hợp giữa hệ quả khi sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc tính phù hợp với mục đích sử dụng và khả năng xảy ra rủi ro trong thực tế.

7. Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xem xét, đánh giá chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường.

8. Hộ chiếu số của sản phẩm là tập hợp các thông tin về sản phẩm và chuỗi cung ứng của sản phẩm đó, được lưu trữ bằng mã vạch hoặc các phương thức phù hợp hoặc thông qua cơ sở dữ liệu thông tin bằng đường dẫn, bảo đảm có thể đọc hoặc kết nối được thông qua thiết bị phù hợp.

Điều 4. Áp dụng pháp luật

Hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải tuân theo quy định của Luật này. Trường hợp luật có liên quan quy định khác về quản lý chất lượng thì áp dụng theo quy định của luật đó và nguyên tắc quy định tại các điểm a, b và đ khoản 4 Điều 5 của Luật này.

Điều 5. Nguyên tắc phân loại và quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sản phẩm, hàng hóa được phân loại dựa trên mức độ rủi ro, phù hợp thông lệ quốc tế; cảnh báo của tổ chức quốc tế có liên quan đối với sản phẩm, hàng hóa; khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ.

2. Sản phẩm, hàng hóa được phân thành ba loại sau đây:

a) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro thấp;

b) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình;

c) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao.

3. Tiêu chí đánh giá rủi ro bao gồm: mức độ tác động đến sức khỏe, môi trường, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng và cảnh báo từ tổ chức quốc tế.

4. Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Việc quản lý sản phẩm, hàng hóa phải bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch, khách quan, phù hợp với mức độ rủi ro; không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa và chủ thể có liên quan, phù hợp với thông lệ quốc tế, không tạo rào cản kỹ thuật không cần thiết; bảo vệ quyền của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng;

b) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro thấp phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng;

c) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng; phải tự đánh giá hoặc do tổ chức chứng nhận được công nhận thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

d) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng và do tổ chức chứng nhận được chỉ định thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

đ) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải được quản lý theo danh mục gắn với yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng, trong đó xác định rõ sản phẩm, hàng hóa được áp dụng biện pháp quản lý khác theo quy định của luật có liên quan.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 6. Chính sách của Nhà nước về hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Khuyến khích tổ chức, cá nhân xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến cho sản phẩm, hàng hóa và công tác quản lý, điều hành sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường; tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào hoạt động đánh giá sự phù hợp.

2. Xây dựng chương trình quốc gia nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa; hỗ trợ nâng cao năng lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hạ tầng chất lượng quốc gia.

3. Đầu tư, phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường và quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

4. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; đa dạng hóa, đổi mới phương thức tuyên truyền, xây dựng ý thức sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông sản phẩm, hàng hóa có chất lượng, vì quyền lợi người tiêu dùng, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; nâng cao nhận thức xã hội về tiêu dùng, xây dựng tập quán tiêu dùng văn minh, phát triển bền vững; tuyên truyền về vai trò của Giải thưởng chất lượng quốc gia.

5. Thúc đẩy hợp tác quốc tế về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để mở rộng thị trường xuất khẩu; ưu tiên ký kết và khuyến khích thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế, không tạo rào cản kỹ thuật không cần thiết, tiết kiệm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi thương mại cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

6. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc và công nghệ số để minh bạch thông tin về xuất xứ, quy trình sản xuất, chuỗi cung ứng và chất lượng sản phẩm; xây dựng cơ chế chứng nhận chuỗi cung ứng có khả năng xác thực độc lập, khách quan, phù hợp thông lệ quốc tế nhằm nâng cao tính minh bạch chất lượng, truy xuất nguồn gốc và ngăn ngừa hành vi gian lận thương mại.

Điều 6a. Trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại Luật này.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể việc thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh sau khi trao đổi, thống nhất với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa đối với đối tượng đặc thù thuộc lĩnh vực cơ yếu.

4. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 6b. Hạ tầng chất lượng quốc gia

1. Hạ tầng chất lượng quốc gia là bộ phận cấu thành của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, công nhận và các chính sách, quy định có liên quan về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia gắn với định hướng phát triển bền vững, chuyển đổi số.

2. Phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia theo hướng tập trung, thống nhất, hiện đại và hội nhập quốc tế, dựa trên nền tảng công nghệ số, bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Thống nhất, đồng bộ hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp và kiểm tra chất lượng từ trung ương đến địa phương;

b) Kết nối, chia sẻ, khai thác hiệu quả các nguồn lực để phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia theo lộ trình và được đánh giá, báo cáo định kỳ. Việc chia sẻ dữ liệu được thực hiện định kỳ và đột xuất, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, chính xác để phục vụ công tác kiểm tra, cảnh báo và quản lý chất lượng trên phạm vi toàn quốc;

c) Phát triển tổ chức, mạng lưới chuyên gia và đội ngũ nhân lực về tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp đạt trình độ khu vực và quốc tế;

d) Ứng dụng công nghệ mới, xây dựng nền tảng số trong đánh giá sự phù hợp, thúc đẩy công nhận và thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp giữa Việt Nam và quốc tế;

đ) Xây dựng hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia giúp doanh nghiệp minh bạch thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cơ quan quản lý chủ động giám sát, kiểm tra và người dân tham gia cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

e) Tăng cường hội nhập quốc tế về đánh giá sự phù hợp, tham gia đầy đủ diễn đàn, chương trình công nhận khu vực, quốc tế để hỗ trợ xuất khẩu và mở rộng thị trường.

3. Nhà nước đầu tư và huy động nguồn lực trong nước, quốc tế để xây dựng hạ tầng chất lượng quốc gia, phát triển sản phẩm công nghiệp công nghệ chiến lược, sản phẩm có đặc tính mới, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm ứng dụng công nghệ cao và nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

4. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực xây dựng hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia, kết nối với dữ liệu hải quan, dữ liệu kiểm tra chất lượng, thông tin truy xuất nguồn gốc, phản ánh từ người tiêu dùng và cảnh báo quốc tế; bảo đảm năng lực theo dõi, cảnh báo sớm và ngăn chặn kịp thời sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 6c. Hỗ trợ nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong hạ tầng chất lượng quốc gia

1. Tôn vinh, khen thưởng tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tôn vinh sản phẩm, hàng hóa thông qua giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2. Giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định như sau:

a) Giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm Giải thưởng chất lượng quốc gia và giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, cá nhân;

b) Điều kiện, tiêu chí, thủ tục xét tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia do Chính phủ quy định;

c) Điều kiện, tiêu chí, thủ tục xét tặng giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, cá nhân do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định.

3. Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải thưởng chất lượng quốc gia theo quy định của pháp luật với các nội dung sau đây:

a) Hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước thông qua chương trình tài trợ cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm, công nghệ và cải tiến chất lượng sản phẩm;

b) Tạo điều kiện tham gia chương trình hợp tác quốc tế để mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị thương hiệu quốc gia;

c) Hỗ trợ việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực về tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp;

d) Hỗ trợ việc xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia, thông qua việc quảng bá sản phẩm đạt giải thưởng, giúp tăng thị phần trong và ngoài nước;

đ) Hỗ trợ trong việc phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, công nghệ xanh và giải pháp tiết kiệm năng lượng trong quá trình sản xuất.

4. Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Chương trình quốc gia nâng cao năng suất, chất lượng theo quy định của pháp luật với các nội dung sau đây:

a) Áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng cơ bản và đặc thù theo ngành, lĩnh vực; tiêu chuẩn hệ thống quản lý mới; hệ thống truy xuất nguồn gốc, thực hành nông nghiệp tốt, nông nghiệp hữu cơ, năng suất xanh và sản xuất thông minh;

b) Tư vấn, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế; thử nghiệm, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế; hoạt động tư vấn, thử nghiệm và chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế theo hình thức tài trợ không hoàn lại.

5. Nhà nước chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thử nghiệm đối với sản phẩm xuất khẩu chủ lực của quốc gia do tổ chức thử nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế thực hiện; hỗ trợ chi phí chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy do cơ quan nhà nước chỉ định theo quy định của pháp luật.

6. Nhà nước hỗ trợ cung cấp thông tin về tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, kết nối với các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, thúc đẩy thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp tạo thuận lợi cho thương mại. Nhà nước tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia rà soát, góp ý, sửa đổi hoặc xây dựng tiêu chuẩn phục vụ sản xuất và xuất khẩu, đặc biệt đối với ngành, lĩnh vực chưa có tiêu chuẩn hoặc áp dụng công nghệ mới.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 6d. Truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng sản phẩm, hàng hóa

1. Việc truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng sản phẩm, hàng hóa phải được thực hiện trên nguyên tắc trung thực, khách quan, bảo đảm tính xác thực và khả năng xác minh, không gây cản trở lưu thông hàng hóa và thống nhất với quy định của pháp luật về hải quan, thương mại, thuế, phòng vệ thương mại và quy định khác của luật có liên quan; hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc xác minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, thành phần và chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

2. Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc truy xuất nguồn gốc là bắt buộc và do Bộ, cơ quan ngang Bộ xác định, có lộ trình thực hiện, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và đặc thù phát triển của từng ngành hàng.

3. Tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông sản phẩm, hàng hóa được khuyến khích và hỗ trợ triển khai truy xuất nguồn gốc, phù hợp với quy mô, đặc điểm ngành hàng và điều kiện sản xuất, kinh doanh.

Điều 6đ. Ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa để bảo đảm minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, hàng hóa, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế.

2. Khuyến khích ứng dụng công nghệ trong các hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, kiểm tra, giám sát chất lượng và quản lý thông tin sản phẩm, hàng hóa, bao gồm:

a) Quản lý chuỗi cung ứng thông qua mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, nhãn điện tử và nền tảng số;

b) Thu thập, lưu trữ, phân tích dữ liệu phục vụ kiểm tra, kiểm tra sau lưu thông trên thị trường, thanh tra, cảnh báo và xử lý vi phạm;

c) Áp dụng hộ chiếu số của sản phẩm, nhãn điện tử và thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền;

d) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số tiên tiến trong các hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, kiểm tra, giám sát chất lượng và quản lý thông tin sản phẩm, hàng hóa.

3. Nhà nước có chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực phục vụ hoạt động ứng dụng công nghệ quy định tại Điều này.

4. Việc ứng dụng công nghệ số, nhãn điện tử, mã số, mã vạch và hệ thống truy xuất nguồn gốc phải bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu trong toàn bộ quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu; phải tuân thủ nguyên tắc về bảo mật thông tin, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.

2. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 8 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 9 và khoản 10 như sau:

“9. Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng, nguồn gốc và xuất xứ sản phẩm, hàng hóa; kinh doanh sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, đặc biệt trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử, gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng.

10. Che giấu thông tin về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn của động vật, thực vật, tài sản hoặc môi trường.”;

b) Bổ sung khoản 14 vào sau khoản 13 như sau:

“14. Thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa gây nhầm lẫn, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác.”.

3. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 9 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 9. Quyền của tổ chức, cá nhân sản xuất”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

“3. Lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp để thực hiện đánh giá sự phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:

“5. Yêu cầu tổ chức, cá nhân bán hàng hợp tác trong việc thu hồi và xử lý hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.”;

d) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:

“7. Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

đ) Bổ sung khoản 8 và khoản 9 vào sau khoản 7 như sau:

“8. Được tiếp cận thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và chính sách ưu đãi của Nhà nước liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp và quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

9. Áp dụng các giải pháp truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.”.

4. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 10 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 10. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường theo quy định tại Điều 28 của Luật này và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:

“4. Cảnh báo về mức độ rủi ro của sản phẩm và cách phòng ngừa cho tổ chức, cá nhân bán hàng và người tiêu dùng.”;

d) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:

“7. Thực hiện việc sửa chữa, đổi hàng hoặc thu hồi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật và trả lại tiền cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”;

đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 8 như sau:

“8. Kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.”;

e) Sửa đổi, bổ sung khoản 10 như sau:

“10. Bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

g) Sửa đổi, bổ sung khoản 12 như sau:

“12. Trả chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy theo quy định tại Điều 23a của Luật này; chi phí lấy mẫu, thử nghiệm theo quy định tại Điều 47 của Luật này; chi phí lấy mẫu, thử nghiệm, giám định theo quy định tại Điều 58 của Luật này.”;

h) Bổ sung các khoản 14, 15 và 16 vào sau khoản 13 như sau:

“14. Cập nhật, cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc khi có yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền.

15. Thiết lập và vận hành hệ thống tiếp nhận thông tin, bồi thường khi sản phẩm không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, gây hại cho người tiêu dùng, phù hợp với quy mô và điều kiện hoạt động; bảo đảm tiếp cận thuận lợi, giải quyết công bằng, kịp thời.

16. Lưu giữ hồ sơ và cung cấp thông tin về chất lượng, kết quả đánh giá sự phù hợp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.”.

5. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 11 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 11. Quyền của tổ chức, cá nhân nhập khẩu”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 như sau:

“2. Yêu cầu tổ chức, cá nhân xuất khẩu cung cấp hàng hóa đúng chất lượng đã thoả thuận theo hợp đồng.

3. Lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp để đánh giá sự phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa do mình nhập khẩu.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 6 như sau:

“6. Yêu cầu tổ chức, cá nhân bán hàng hợp tác trong việc thu hồi và xử lý hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.”;

d) Sửa đổi, bổ sung khoản 8 như sau:

“8. Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

đ) Bổ sung khoản 9 và khoản 10 vào sau khoản 8 như sau:

“9. Được tiếp cận thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật và chính sách ưu đãi của Nhà nước liên quan đến hoạt động nhập khẩu, đánh giá sự phù hợp, ghi nhãn hàng hóa và tuân thủ quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

10. Được cung cấp hoặc tra cứu thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa do mình nhập khẩu thông qua cơ sở dữ liệu do nước xuất khẩu hoặc tổ chức đánh giá sự phù hợp cung cấp, để phục vụ yêu cầu công khai, minh bạch và giám sát chất lượng.”.

6. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 12 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 12. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nhập khẩu”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 như sau:

“2. Chịu trách nhiệm về chất lượng, ghi nhãn hàng hóa và lưu giữ hồ sơ nhập khẩu theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa do mình nhập khẩu; cung cấp đầy đủ, chính xác tài liệu liên quan đến chất lượng hàng hóa cho tổ chức, cá nhân bán hàng theo quy định của pháp luật để phục vụ truy xuất nguồn gốc, giám sát thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3. Thông tin trung thực về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, hàng hóa.”;

c) Sửa đổi, bổ sung các khoản 6, 7, 8 và 9 như sau:

“6. Cảnh báo về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa và cách phòng ngừa cho tổ chức, cá nhân bán hàng và người tiêu dùng.

7. Cung cấp thông tin về việc bảo hành và thực hiện việc bảo hành hàng hóa cho tổ chức, cá nhân bán hàng, người tiêu dùng.

8. Thực hiện việc sửa chữa, đổi hàng hoặc thu hồi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật và trả lại tiền cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

9. Kịp thời ngừng nhập khẩu, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.”;

d) Sửa đổi, bổ sung khoản 11 như sau:

“11. Tiêu hủy, tái chế, thay đổi mục đích sử dụng đối với hàng hóa nhập khẩu không phù hợp quy chuẩn kỹ thuật tương ứng nhưng không tái xuất được; chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu hủy, tái chế, thay đổi mục đích sử dụng hàng hóa và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu hủy, tái chế, thay đổi mục đích sử dụng hàng hóa theo quy định của pháp luật.”;

đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 13 như sau:

“13. Bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

e) Sửa đổi, bổ sung khoản 15; bổ sung các khoản 16, 17 và 18 vào sau khoản 15 như sau:

“15. Trả chi phí lấy mẫu, thử nghiệm theo quy định tại Điều 47 của Luật này; chi phí lấy mẫu thử nghiệm, giám định theo quy định tại Điều 58 của Luật này.

16. Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động đánh giá rủi ro, giám sát và cảnh báo sớm đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao không phù hợp quy chuẩn kỹ thuật hoặc vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

17. Công khai thông tin liên hệ và hệ thống tiếp nhận phản ánh về chất lượng hàng hóa nhập khẩu; phối hợp giải quyết khiếu nại, tranh chấp phát sinh liên quan đến chất lượng hàng hóa nhập khẩu.

18. Thiết lập và vận hành hệ thống tiếp nhận thông tin, bồi thường khi sản phẩm không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, gây hại cho người tiêu dùng, phù hợp với quy mô và điều kiện hoạt động; bảo đảm tiếp cận thuận lợi, giải quyết công bằng, kịp thời.

7. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 13 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 13. Quyền của tổ chức, cá nhân xuất khẩu”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:

“7. Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

c) Bổ sung khoản 8 và khoản 9 vào sau khoản 7 như sau:

“8. Được tiếp cận thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và chính sách ưu đãi của Nhà nước liên quan đến tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp, truy xuất nguồn gốc và các điều kiện chất lượng hàng hóa xuất khẩu.

9. Được sử dụng kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức trong nước hoặc tổ chức nước ngoài trong trường hợp các kết quả này đã được công nhận hoặc thừa nhận lẫn nhau theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.”.

8. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 14 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 14. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân xuất khẩu”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4; bổ sung các khoản 5, 6, và 7 vào sau khoản 4 như sau:

“4. Trả chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy theo quy định tại Điều 23a của Luật này, chi phí lấy mẫu, thử nghiệm theo quy định tại Điều 47 của Luật này và chi phí lấy mẫu, thử nghiệm, giám định theo quy định tại Điều 58 của Luật này.

5. Cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin về tiêu chuẩn áp dụng và truy xuất nguồn gốc của hàng hóa cho tổ chức, cá nhân nhập khẩu trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có yêu cầu theo quy định pháp luật của nước nhập khẩu.

6. Tuân thủ các quy định của pháp luật nước nhập khẩu, hợp đồng thương mại hoặc điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

7. Tổ chức thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu.”.

9. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 15 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 15. Quyền của tổ chức, cá nhân bán hàng”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 6 như sau:

“6. Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

c) Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:

“7. Được truy cập, tiếp cận thông tin truy xuất nguồn gốc và dữ liệu chất lượng sản phẩm, hàng hóa từ tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hoặc hệ thống thông tin điện tử theo quy định của pháp luật để phục vụ việc bán hàng, cung cấp thông tin minh bạch cho người tiêu dùng.

8. Được hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật từ tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu trong việc kiểm tra, bảo quản, vận chuyển, cung cấp thông tin và thực hiện nghĩa vụ liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa.”.

10. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 16 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:

“Điều 16. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân bán hàng”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường theo quy định tại Điều 34a của Luật này và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

“3. Thông tin trung thực về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, hàng hóa.”;

d) Sửa đổi, bổ sung các khoản 7, 8 và 9 như sau:

“7. Cung cấp tài liệu, thông tin đối với hàng hóa bị kiểm tra cho đoàn kiểm tra, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

8. Kịp thời cung cấp thông tin về mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao của sản phẩm, hàng hóa và cách phòng ngừa cho người mua khi nhận được thông tin cảnh báo từ tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu.

9. Kịp thời dừng bán hàng và thông báo cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và người mua khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định của luật khác về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.”;

đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 11 và khoản 12 như sau:

“11. Hợp tác với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định của luật khác về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

12. Bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.”;

e) Sửa đổi, bổ sung khoản 14; bổ sung các khoản 15, 16, 17, 18 và 19 vào sau khoản 14 như sau:

“14. Trả chi phí lấy mẫu, thử nghiệm theo quy định tại Điều 23a của Luật này; chi phí lấy mẫu, thử nghiệm, giám định theo quy định tại Điều 58 của Luật này.

15. Tuân thủ quy định của pháp luật về thương mại điện tử, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa khi bán hàng trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử.

16. Kiểm tra, xác minh thông tin sản phẩm, hàng hóa đăng tải trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử do mình quản lý hoặc sử dụng để bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; pháp luật về nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc.

17. Thiết lập và duy trì hệ thống tiếp nhận phản ánh, khiếu nại về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; phối hợp với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu để xử lý, giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật.

18. Dừng bán sản phẩm, hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc đã có quyết định thu hồi, tạm dừng lưu thông trên thị trường.

19. Thiết lập cơ chế tiếp nhận, giải quyết yêu cầu bồi thường khi sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, mất an toàn cho người tiêu dùng, phù hợp với quy mô và điều kiện hoạt động; bảo đảm tiếp cận thuận lợi, giải quyết công bằng, kịp thời.”.

11. Sửa đổi, bổ sung tên Mục 2 Chương II như sau:

“Mục 2

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG, TỔ CHỨC XÃ HỘI THAM GIA BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP”.

12. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 17 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Được cung cấp thông tin trung thực về đặc tính an toàn, chất lượng, hướng dẫn vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa; được cung cấp thông tin về tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông sản phẩm, hàng hóa trên thị trường.”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và khoản 5 như sau:

“4. Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan.

5. Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông hàng hóa trên thị trường, thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”;

c) Bổ sung các khoản 7, 8, 9 và 10 vào sau khoản 6 như sau:

“7. Được truy xuất nguồn gốc, tra cứu, đối chiếu thông tin đầy đủ, minh bạch về đặc tính chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả đánh giá sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa thông qua nhãn hàng hóa, nhãn điện tử, mã số, mã vạch hoặc các phương tiện phù hợp khác.

8. Được tiếp cận và sử dụng hệ thống phản ánh, khiếu nại trực tuyến, trực tiếp do tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cung cấp.

9. Được tiếp cận thông tin cảnh báo về sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tài sản hoặc môi trường do cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường cung cấp.

10. Quyền khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về thương mại điện tử và quy định khác của luật có liên quan.”.

13. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:

“Điều 18. Nghĩa vụ của người tiêu dùng

1. Sử dụng sản phẩm, hàng hóa đúng mục đích, đúng hướng dẫn kỹ thuật; không gây nguy hại hoặc làm ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe, môi trường và quyền lợi của tổ chức, cá nhân khác.

2. Kiểm tra sản phẩm, hàng hóa trước khi nhận; kịp thời thông báo cho tổ chức, cá nhân bán hàng nếu phát hiện dấu hiệu bất thường.

3. Tuân thủ quy định về bảo quản, sử dụng, vận hành và điều kiện bảo hành, bảo trì sản phẩm, hàng hóa.

4. Hợp tác với tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường và cơ quan có thẩm quyền trong việc thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không an toàn hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định của luật khác về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

5. Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về thương mại điện tử và quy định khác của luật có liên quan.”.

14. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 và Điều 22 như sau:

“Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức xã hội nghề nghiệp

1. Quyền của tổ chức xã hội nghề nghiệp bao gồm:

a) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về phương thức quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

b) Góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

c) Thực hiện phản biện xã hội trong lĩnh vực quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

d) Khiếu nại, khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên trong tranh chấp liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

đ) Tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; phản ánh, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền về bất cập trong thực thi hoặc hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân có liên quan.

2. Nghĩa vụ của tổ chức xã hội nghề nghiệp bao gồm:

a) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường; vận động thực hiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa bảo đảm chất lượng, vì quyền lợi người tiêu dùng, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường;

b) Hỗ trợ, nâng cao nhận thức và vận động tổ chức, cá nhân tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

c) Tham gia thực hiện các chương trình, dự án nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia theo phân công của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1. Quyền của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm:

a) Đại diện cho người tiêu dùng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong trường hợp nhận được khiếu nại, phản ánh về chất lượng sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, thông tin ghi trên nhãn hoặc chất lượng sản phẩm, hàng hóa cam kết trong hợp đồng;

b) Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thực hiện cung cấp thông tin, phản ánh, cảnh báo sớm về sản phẩm, hàng hóa có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn sai hoặc có rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tài sản, động vật, thực vật hoặc môi trường; tham gia khảo sát độc lập, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường hoặc trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử; tham gia phối hợp hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

2. Nghĩa vụ của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

a) Bảo đảm tính khách quan, trung thực, minh bạch khi thực hiện các hoạt động khảo sát, phản ánh, thử nghiệm và phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

b) Chia sẻ thông tin đầy đủ, kịp thời với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện dấu hiệu vi phạm hoặc rủi ro gây hại cho người tiêu dùng.”.

15. Sửa đổi, bổ sung tên Chương III như sau:

“Chương III

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA TRONG SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU, LƯU THÔNG TRÊN THỊ TRƯỜNG VÀ TRÊN NỀN TẢNG SỐ PHỤC VỤ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ’.

16. Sửa đổi, bổ sung Điều 23; bổ sung Điều 23a và Điều 23b vào sau Điều 23 như sau:

“Điều 23. Công bố tiêu chuẩn áp dụng, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

2. Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng được thể hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Trên hàng hóa;

b) Trên bao bì hàng hóa;

c) Trên nhãn hàng hóa;

d) Trong tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa.

3. Việc công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Điều 23a. Chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất phải trả chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy theo thỏa thuận với tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy. Tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận phải công khai chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy.

2. Trường hợp sản phẩm, hàng hóa thuộc chương trình, dự án hỗ trợ của Nhà nước, việc chi trả chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy được thực hiện theo cơ chế tài chính và hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước.

Điều 23b. Chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp, thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp

1. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định là tổ chức đánh giá sự phù hợp đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Hệ thống quản lý được công nhận phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế tương ứng theo quy định của pháp luật;

b) Có kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đạt yêu cầu đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định thử nghiệm đối với tổ chức thử nghiệm;

c) Đăng ký hoạt động chỉ định với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

2. Việc chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp dựa trên cơ sở đánh giá tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ, năng lực kỹ thuật, khả năng duy trì điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này và nhu cầu phục vụ quản lý nhà nước trong từng thời kỳ.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ quyết định chỉ định và công khai danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và được cập nhật định kỳ, bảo đảm tính minh bạch.

4. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định phải chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất của cơ quan nhà nước để bảo đảm duy trì điều kiện hoạt động và chất lượng kết quả đánh giá.

5. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định nếu vi phạm quy định của pháp luật, tùy mức độ vi phạm, tổ chức đánh giá sự phù hợp sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét, quyết định thu hồi quyết định chỉ định trong trường hợp tổ chức đánh giá sự phù hợp vi phạm quy định về hoạt động đánh giá sự phù hợp được chỉ định.

6. Nhà nước khuyến khích tổ chức đánh giá sự phù hợp tham gia phục vụ quản lý nhà nước. Việc chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện trên nguyên tắc minh bạch, không trùng lặp, chồng chéo cạnh tranh, bảo đảm chất lượng và hiệu quả quản lý.

7. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ ưu tiên xem xét, sử dụng kết quả đánh giá, kiểm tra của cơ quan khác khi thực hiện đánh giá tổ chức đánh giá sự phù hợp đăng ký hoạt động chỉ định, bảo đảm công khai, không trùng lặp, chồng chéo và tuân thủ quy định của pháp luật liên quan.

8. Quy định về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp phục vụ quản lý nhà nước thực hiện theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.

17. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:

Điều 28. Bảo đảm chất lượng sản phẩm trong sản xuất trước khi lưu thông trên thị trường

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm trong sản xuất như sau:

a) Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm kiểm soát quá trình sản xuất, bảo đảm sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và quy định khác của luật có liên quan;

b) Công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định tại Điều 23 của Luật này; thực hiện ghi nhãn hàng hóa, nhãn điện tử hoặc hộ chiếu số của sản phẩm; thể hiện các thông tin về truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch cho sản phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc;

c) Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất;

d) Công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao;

đ) Lưu giữ hồ sơ, tài liệu về chất lượng sản phẩm, kết quả đánh giá sự phù hợp, hồ sơ công bố hợp quy, công bố hợp chuẩn theo quy định của pháp luật để phục vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm tra sau lưu thông trên thị trường.

2. Đối với cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, việc bảo đảm chất lượng sản phẩm được thực hiện theo quy định và hướng dẫn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trên cơ sở phù hợp với quy mô, đặc thù ngành nghề và yêu cầu quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường.”.

18. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 và Điều 33 như sau:

Điều 32. Bảo đảm chất lượng hàng hóa xuất khẩu

Tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa phải bảo đảm hàng hóa xuất khẩu phù hợp với quy định của nước nhập khẩu, hợp đồng hoặc điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp với nước, vùng lãnh thổ có liên quan.

Điều 33. Biện pháp xử lý hàng hóa xuất khẩu không bảo đảm điều kiện xuất khẩu

Hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về chất lượng đề xuất khẩu theo quy định tại Điều 32 của Luật này mà không xuất khẩu được hoặc bị trả lại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa áp dụng một trong các biện pháp xử lý sau đây:

1. Thực hiện biện pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất theo nội dung quy định tại Điều 46 của Luật này; trình tự, thủ tục theo quy định của Chính phủ đối với hàng hóa xuất khẩu không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng gây ảnh hưởng đến lợi ích và uy tín quốc gia;

2. Được lưu thông trên thị trường nếu chất lượng hàng hóa phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng của Việt Nam hoặc các yêu cầu quản lý khác của luật có liên quan;

3. Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất khắc phục, sửa chữa để hàng hóa được tiếp tục xuất khẩu hoặc đưa vào lưu thông trên thị trường Việt Nam thì phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc các yêu cầu quản lý khác của luật có liên quan;

4. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định tiêu hủy đối với hàng hóa không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật và quy định khác của luật có liên quan mà không thể khắc phục hoặc sửa chữa.”.

19. Sửa đổi, bổ sung Điều 34; bổ sung Điều 34a và Điều 34b vào sau Điều 34 như sau:

Điều 34. Bảo đảm chất lượng hàng hóa nhập khẩu

1. Trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường, hàng hóa nhập khẩu phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Được công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định tại Điều 23 của Luật này;

b) Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật, bao gồm: ghi nhãn bằng hình thức vật lý, nhãn điện tử hoặc hộ chiếu số của sản phẩm; thể hiện các thông tin về mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc.

2. Phải công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình trên cơ sở kết quả tự đánh giá hoặc kết quả chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng do tổ chức chứng nhận được công nhận thực hiện trước khi lưu thông trên thị trường hoặc các yêu cầu quản lý khác của luật có liên quan. Trường hợp hàng hóa không phù hợp quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn công bố áp dụng, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền, đồng thời tổ chức việc xử lý, thu hồi hàng hóa này theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình đã thực hiện công bố hợp quy thì không phải thực hiện lại việc công bố hợp quy đối với các lô hàng cùng loại, trừ khi có thay đổi về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, thay đổi về đặc tính sản phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc có cảnh báo rủi ro từ cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

3. Thực hiện đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia.

4. Tăng cường tần suất kiểm tra chất lượng theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa nhập khẩu có nguồn gốc xuất xứ từ quốc gia, vùng lãnh thổ bị cảnh báo có rủi ro cao về chất lượng hoặc tổ chức, cá nhân có lịch sử vi phạm nhiều lần quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

5. Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm theo dõi, giám sát và cảnh báo các vi phạm chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục kiểm tra, việc miễn, giảm kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao.

Điều 34a. Bảo đảm chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

1. Hàng hóa lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc các biện pháp kiểm soát nội bộ nhằm duy trì chất lượng của hàng hóa trong quá trình vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và phân phối;

b) Ghi nhãn hàng hóa bằng hình thức vật lý, nhãn điện tử hoặc hộ chiếu số của sản phẩm; thể hiện thông tin về mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc và thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật;

c) Được cập nhật thông tin trên hệ thống dữ liệu điện tử phục vụ truy xuất và kiểm tra sau lưu thông trên thị trường theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm bảo đảm chất lượng hàng hóa do mình cung cấp phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và chịu sự kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường theo nội dung quy định tại Điều 45 của Luật này.

3. Hàng hóa lưu thông trên thị trường phải bảo đảm chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và thuộc diện kiểm tra chất lượng theo quy định tại Điều 45 của Luật này.

4. Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới do cư dân biên giới mang vào nội địa để lưu thông trên thị trường, phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu sau đây:

a) Bảo đảm chất lượng, an toàn, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường và quyền lợi người tiêu dùng theo quy định khác của luật có liên quan;

b) Việc quản lý phải bảo đảm minh bạch, có tính xác thực và khả năng xác minh, phù hợp với thông lệ quốc tế và không tạo rào cản thương mại không cần thiết;

c) Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm hướng dẫn cư dân biên giới ghi thông tin về hàng hóa, kê khai nguồn gốc xuất xứ, tuân thủ nghĩa vụ liên quan đến chất lượng; tổ chức kiểm tra, kiểm tra sau lưu thông trên thị trường, giám sát rủi ro đối với hàng hóa mua bán, trao đổi qua biên giới phù hợp với đặc điểm sản phẩm và điều kiện thực tế tại khu vực biên giới.

5. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 2 và 3 Điều này; quy định trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý vi phạm chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường.

Điều 34b. Bảo đảm chất lượng hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử

1. Hàng hóa mua bán trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử phải bảo đảm tuân thủ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34a của Luật này.

2. Tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử bao gồm:

a) Tên hàng hóa, xuất xứ, tên tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa;

b) Dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy theo quy định của pháp luật;

c) Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo an toàn (nếu có);

d) Thông tin khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử bao gồm:

a) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hàng hóa bán trên nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử cung cấp thông tin quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Có biện pháp kiểm tra, xử lý đối với hàng hóa vi phạm pháp luật về chất lượng khi phát hiện hoặc khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

c) Thiết lập và vận hành hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

d) Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

đ) Tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

4. Chủ quản nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”.

20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 45. Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro, tăng cường kiểm tra sau lưu thông trên thị trường có trọng điểm, dựa trên phân tích dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Khuyến khích áp dụng công nghệ số và các hệ thống thông minh trong lựa chọn đối tượng, phương thức kiểm tra.

2. Phạm vi kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm:

a) Kiểm tra trong sản xuất việc thực hiện quy định tại Điều 28 của Luật này;

b) Kiểm tra trong nhập khẩu và lưu thông trên thị trường việc thực hiện quy định tại Điều 34, Điều 34a và Điều 34b của Luật này;

c) Không áp dụng kiểm tra chất lượng hàng hóa đối với xuất khẩu, trừ trường hợp theo yêu cầu của nước nhập khẩu hoặc điều ước quốc tế hoặc quy định khác của luật có liên quan.

3. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa là cơ quan nhà nước thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố được phân công hoặc phân cấp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nhà nước theo quy định của pháp luật. Việc phân công, phân cấp và phối hợp kiểm tra được thực hiện theo quy định tại Điều 48 của Luật này.

4. Phương thức kiểm tra được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trên cơ sở dữ liệu hiện có về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa, thông tin truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và dữ liệu từ hệ thống quản lý chất lượng được công nhận hoặc có kết nối với cơ quan quản lý nhà nước, kết hợp với cảnh báo vi phạm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

5. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiến hành thử nghiệm mẫu theo tiêu chuẩn đã công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng nhằm xác minh chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

6. Việc miễn, giảm kiểm tra chất lượng được áp dụng đối với sản phẩm, hàng hóa đã có chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy hoặc được chứng nhận áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn khu vực thực hiện theo quy định của Chính phủ.

7. Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lấy mẫu định kỳ hoặc đột xuất tại các địa điểm phù hợp theo yêu cầu quản lý nhằm tăng cường kiểm tra đối với sản phẩm, hàng hóa này.

8. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ dữ liệu, nhằm bảo đảm thống nhất, tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

9. Căn cứ yêu cầu kiểm tra, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quyết định thành lập Đoàn kiểm tra. Thành phần Đoàn kiểm tra bao gồm: kiểm soát viên chất lượng và cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia kỹ thuật có liên quan. Đoàn kiểm tra hoạt động theo kế hoạch được phê duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị, biên bản kiểm tra.

10. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tổ chức khảo sát chất lượng hàng hóa nhằm thu thập, phân tích thông tin thực tế về tình hình chất lượng hàng hóa đang lưu thông trên thị trường, phục vụ cảnh báo rủi ro và xác định cơ sở để kiểm tra có trọng điểm.

11. Chính phủ quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa, hoạt động của Đoàn kiểm tra và việc khảo sát chất lượng hàng hóa.

Điều 46. Kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất

1. Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất được thực hiện nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn sản phẩm không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường.

2. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thực hiện kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất. Việc lựa chọn đối tượng và nội dung kiểm tra căn cứ vào ít nhất một trong số thông tin sau đây:

a) Phân tích rủi ro, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn và môi trường của sản phẩm;

b) Kết quả phân tích, xử lý dữ liệu từ hệ thống cảnh báo, phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng; dữ liệu truy xuất nguồn gốc, hồ sơ đánh giá sự phù hợp;

c) Thông tin, cảnh báo từ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức đánh giá sự phù hợp và kênh giám sát xã hội khác.

3. Kiểm tra chất lượng trong sản xuất được thực hiện độc lập với hoạt động kiểm tra của doanh nghiệp và kết quả kiểm tra là căn cứ để thực hiện một số nội dung sau đây:

a) Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất khắc phục vi phạm, thu hồi sản phẩm không phù hợp;

b) Ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật nếu phát hiện hành vi vi phạm;

c) Cảnh báo người tiêu dùng hoặc thông tin công khai nếu sản phẩm ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe cộng đồng;

d) Đề nghị chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật có liên quan.

4. Việc kiểm tra phải bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, không cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nội dung, quy trình và phương pháp kiểm tra được quy định thống nhất và áp dụng công nghệ số trong thu thập, lưu trữ, khai thác dữ liệu phục vụ kiểm tra.

5. Chính phủ quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất.

Điều 47. Chi phí đánh giá sự phù hợp phục vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Chi phí đối với hàng hóa nhập khẩu được quy định như sau:

a) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu trả chi phí thử nghiệm, chi phí chứng nhận theo thỏa thuận với tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận. Tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận phải công khai chi phí thử nghiệm, chi phí chứng nhận;

b) Trường hợp hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng được miễn, giảm kiểm tra chất lượng theo chương trình hỗ trợ của Nhà nước, việc chi trả chi phí được thực hiện theo cơ chế tài chính do cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn.

2. Chi phí lấy mẫu, thử nghiệm phục vụ kiểm tra chất lượng và giải quyết khiếu nại, tố cáo về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định như sau:

a) Chi phí lấy mẫu, thử nghiệm để kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất và hàng hóa lưu thông trên thị trường do cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa chi trả và được bố trí trong dự toán kinh phí hoạt động của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

b) Trường hợp, tổ chức, cá nhân sản xuất, bán hàng vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo kết luận của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tổ chức, cá nhân sản xuất, bán hàng phải hoàn trả chi phí lấy mẫu, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

c) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo không đúng về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo kết luận của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì người khiếu nại, tố cáo phải hoàn trả chi phí lấy mẫu, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Điều 48. Phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ban Cơ yếu Chính phủ thực hiện kiểm tra chất lượng đối với sản phẩm trong sản xuất và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường thuộc phạm vi được phân công quản lý theo quy định của Chính phủ.

2. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo phân cấp; phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm sau đây:

a) Phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chất lượng;

b) Cập nhật và chia sẻ dữ liệu kiểm tra trên hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm hàng hóa quốc gia;

c) Tránh trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động kiểm tra đối với cùng một loại sản phẩm, hàng hóa.

4. Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải tuân thủ nguyên tắc phân loại dựa trên mức độ rủi ro, bảo đảm minh bạch, thống nhất, hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường.

5. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với lực lượng quản lý thị trường và cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa các cấp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường; phát hiện, ghi nhận thông tin ban đầu và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền khi có dấu hiệu vi phạm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tổ chức tuyên truyền, cảnh báo công khai trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao hoặc có dấu hiệu vi phạm chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

6. Chính phủ quy định về cơ chế phối hợp, xây dựng, chia sẻ dữ liệu và vận hành hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Điều 49. Kiểm soát viên chất lượng

1. Kiểm soát viên chất lượng là công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của Luật này và quy định khác của luật có liên quan.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.

21. Sửa đổi, bổ sung Điều 54 và bổ sung Điều 54a vào sau Điều 54 như sau:

“Điều 54. Tranh chấp và hình thức giải quyết về chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm:

a) Tranh chấp giữa người mua với tổ chức, cá nhân nhập khẩu, bán hàng hoặc giữa các thương nhân với nhau do sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc thỏa thuận về chất lượng trong hợp đồng;

b) Tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng và các bên có liên quan do sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng gây thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường.

2. Hình thức giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm:

a) Thương lượng giữa các bên tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

b) Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian;

c) Giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng trọng tài hoặc tố tụng dân sự.”.

Điều 54a. Khởi kiện bảo vệ người tiêu dùng và cảnh báo vi phạm

1. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng được quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi chung của người tiêu dùng khi sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng gây thiệt hại cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan giải quyết tranh chấp có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để kịp thời kiểm tra, xử lý và cảnh báo rủi ro theo quy định của pháp luật.”.

22. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 56 như sau:

“1. Thời hiệu khởi kiện về chất lượng sản phẩm, hàng hóa giữa người mua với tổ chức, cá nhân bán hàng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.”.

23. Sửa đổi, bổ sung Điều 61 và Điều 62 như sau:

“Điều 61. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân bán hàng hoặc người tiêu dùng khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật này. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của toà án hoặc trọng tài.

2. Tổ chức, cá nhân bán hàng phải bồi thường thiệt hại cho người mua, người tiêu dùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của tổ chức, cá nhân bán hàng không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hàng hóa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật này. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của toà án hoặc trọng tài.

Điều 62. Các trường hợp không phải bồi thường thiệt hại

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra do người tiêu dùng cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa đã hết hạn sử dụng hoặc đã được cảnh báo rõ về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa;

b) Đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật;

c) Khi chứng minh được khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại và trong trường hợp người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin về sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại nhưng vẫn cố ý sử dụng;

d) Thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của tổ chức, cá nhân bán hàng hoặc của người tiêu dùng.

2. Tổ chức, cá nhân bán hàng không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra do người tiêu dùng cố ý sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng hoặc biết rõ hàng hóa có khuyết tật mà vẫn sử dụng;

b) Đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật;

c) Hàng hóa có khuyết tật phát sinh do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm sản xuất, nhập khẩu;

d) Thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của người tiêu dùng.

3. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy định khác của luật có liên quan.”.

24. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 66 như sau:

“2. Tổ chức vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, phương tiện thông tin đại chúng danh sách tổ chức, cá nhân vi phạm về chất lượng hàng hóa để cảnh báo xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được ấn định ít nhất bằng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm và nhiều nhất không quá năm lần giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm; tiền do vi phạm mà có sẽ bị tịch thu theo quy định của pháp luật.”.

25. Bãi bỏ Điều 7, khoản 4 Điều 13, khoản 2 và khoản 3 Điều 17, các điều 19, 20, 24, 25, 26, 27, 29, 30, 31, 35, 36, 37, 55; bãi bỏ tên Mục 3 Chương II; bãi bỏ Mục 5 và Mục 6 Chương III, Mục 3 Chương V, Chương VI.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp

1. Tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hóa đã được công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, đã được cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo thời hạn hiệu lực ghi trong các nội dung công bố hoặc giấy chứng nhận đã được cấp.

Tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, đăng ký kiểm tra về chất lượng hàng hóa nhập khẩu nhưng đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, chưa có thông báo kiểm tra về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thì được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14.

2. Tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện hoạt động đánh giá sự phù hợp đến hết thời hạn hiệu lực ghi trong quyết định chỉ định.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

69
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025
Tải văn bản gốc Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025

NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
---------------

Law No.: 78/2025/QH15

Hanoi, June 18, 2025

 

LAW

ON AMENDMENTS TO THE LAW ON PRODUCT AND GOODS QUALITY

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam, which is amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly hereby issues the Law on amendments to the Law on Quality of Product and Goods No. 05/2007/QH12, which is amended by Law No. 35/2018/QH14.

Article 1. Amendments to the Law on product and goods quality

1. Amendments to Articles 1, 2, 3, 4, 5 and 6; addition of Articles 6a, 6b, 6c, 6d, 6dd after Article 6:

“Article 1. Scope

This Law provides for measures for managing the product and goods quality; rights and obligations of product and goods manufacturers and providers and other organizations and individuals with operations related to product and goods quality.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Law applies to product and goods manufacturers and providers and other organizations and individuals with operations related to product and goods quality in Vietnam.

Article 3. Term interpretation:

In this Law, the terms are construed as follows:

1. Product means the output of manufacturing, production processes or non-physical outputs created from service provision.

2. Goods mean products put into circulation on the market, serving the purpose of consumption, use or trading.

3. Product and goods quality means summary of properties of products and goods that satisfy the requirements of the applicable standards, technical regulations, or management requirements as prescribed by relevant laws.

4. Product and goods quality management is the organization and implementation of measures to control compliance with the requirements of standards, technical regulations, or management requirements as prescribed by relevant laws.

5. Risk of a product or goods is the possibility of undesirable events occurring throughout the manufacturing, transport, storage, preservation, and use processes that may negatively affect the quality, safety, or suitability of the product or goods, thereby impacting the legitimate rights and interests of consumers, enterprises, and related parties.

Risk level of a product or goods is the possibility of risks related to the product or goods throughout its entire lifecycle, determined by the combination of consequences when the product or goods do not conform to the applicable standards, corresponding technical regulations, or suitability for intended use, and the possibility of risks occurring in practice.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

8. A digital product passport (DPP) means a set of information about the product and its supply chain, stored via barcode or other suitable methods or through an information database accessible via a link, ensuring it can be read or connected through appropriate devices.

Article 4. Law application

Manufacturing, export, import, and market circulation activities related to product and goods quality must comply with this Law. In cases where other relevant laws provide different regulations on quality management, those regulations of such laws and the rules specified in points a, b, and dd of Clause 4 of Article 5 hereof.

Article 5. Rules for classification and management of product and goods quality

1. Products and goods are classified based on their risk levels, conformity with international practices; warnings from relevant international organizations regarding the products and goods; and the management capacity of state authorities at each period.

2. Products and goods are classified into three categories:

a) Products and goods with low risk level;

a) Products and goods with medium risk level;

c) Products and goods with high-risk level;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. Management of product and goods quality shall be carried according to following rules:

a) Management of products and goods must ensure effectiveness, transparency, objectivity, and the conformity with the risk level; ensure no discrimination based on goods origin and organizations and individuals involved, the conformity with international practices, no unnecessary technical barriers; protect the rights of the State, and the legitimate rights and interests of enterprises and consumers;

b) Products and goods with low risk level must have their applicable standards declared by organizations or individuals;

c) Products and goods with medium risk level must have their applicable standards declared by organizations or individuals; and must be assessed by such organizations or individuals or have their conformity certified by recognized certification organizations according to the corresponding national technical regulations as prescribed by laws on standards and technical regulations;

d) Products and goods with high risk level must have their applicable standards declared by organizations or individuals and have their conformity certified by designated certification organizations according to the corresponding national technical regulations as prescribed by laws on standards and technical regulations;

dd) Products and goods with medium/high risk level must be managed by a list attached with corresponding quality management requirements, which clearly determine products and goods subject to other management measures prescribed by relevant laws.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 6. State policies on product and goods quality-related activities

1. Encourage organizations and individuals to develop and apply advanced standards for products and goods, as well as management and operation of manufacturing, export, import, and market circulation; enable domestic and foreign organizations and individuals’ investment and participation in conformity assessment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Invest in and develop national quality infrastructure to meet the requirements of manufacturing, export, import, market circulation, and state management of product and goods quality.

4. Disseminate and popularize policies and laws on product and goods quality; diversify and innovate dissemination methods; develop awareness in the manufacturing, export, import, and circulation of quality products and goods for the benefit of consumers, energy saving, and environmental friendliness; raise social awareness about consumption, build civilized consumption habits, and promote sustainable development; disseminate the role of the National Quality prize.

5. Promote international cooperation on product and goods quality to expand export markets; prioritize signing and encourage mutual recognition of conformity assessment results between Vietnam and international partners; avoid unnecessary technical barriers; reduce compliance costs and enable trade of Vietnamese goods in international markets.

6. Encourage and assist enterprises in applying traceability systems and digital technology to improve the transparency of information regarding origin, manufacturing processes, supply chains, and product quality; establish mechanisms for supply chain certification that allow independent, objective verification in line with international practices to improve transparency in quality, traceability, and prevent commercial fraud.

Article 6a. Responsibilities for state management of product and goods quality

1. The Government shall unify the state management of product and goods quality nationwide.

2. The Ministry of Science and Technology shall be accountable to the Government for unified state management of product and goods quality under the regulations of this Law.

3. Ministries and ministerial agencies shall perform state management of product and goods quality within their jurisdiction.

The Minister of National Defense and the Minister of Public Security shall elaborate the implementation of state management of product and goods quality within their respective management, conforming with the requirements and duties of ensuring national defense and security after consultation and agreement with the Minister of Science and Technology.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. People’s Committees at all levels shall carry out state management of product and goods quality within their areas.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 6b. National quality infrastructure

1. National quality infrastructure is a component of the socio-economic infrastructure, including organizations operating in the fields of standards, metrology, conformity assessment, accreditation, and related policies and regulations on standards, metrology, and quality, contributing to improving national competitiveness linked to sustainable development and digital transformation orientations.

2. Development of the national quality infrastructure shall be concentrated, unified, modern, and internationally integrated, based on digital technology platforms, ensuring the following requirements:

a) Unified and synchronized activities related to standards, metrology, conformity assessment, and quality inspection from central to local levels;

b) Effective connection, sharing, and use of resources to develop the national quality infrastructure according to a roadmap, with periodic assessment and report. Data sharing shall be conducted regularly and ad hoc, ensuring completeness, timeliness, and accuracy to serve inspection, warning, and quality management nationwide;

c) Development of organizations, networks of experts and human resources in standards, metrology, and conformity assessment to regional and international levels;

d) Application of new technologies, development of digital platforms in conformity assessment, promotion of recognition and mutual acceptance of conformity assessment results between Vietnam and international partners;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

e) Intensify international integration in conformity assessment, fully participating in regional and international recognition forums and programs to assist exports and market expansion.

3. The State shall invest in and mobilize domestic and international resources to build the national quality infrastructure, develop strategic industrial technology products, products with new characteristics, exports, high-tech products, and improve the capacity of Vietnamese enterprises to participate in global supply chains.

4. The State shall prioritize allocating the state budget and mobilizing resources to build a national product and goods quality supervision system, connected with customs data, quality inspection data, traceability information, consumer feedback, and international warnings; ensure capacity for early warning, timely prevention, and interception of products and goods that do not conform to the declared applicable standards or corresponding technical regulations.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 6c. Capacity building assistance for enterprises in the national quality infrastructure

1. Honor and reward organizations, enterprises, state authorities, and individuals with outstanding achievements in improving the quality of products and goods; honor products and goods through product and goods quality prizes.

2. Product and goods quality prizes are regulated as follows:

a) Product and goods quality prizes include the National Quality prize and product and goods quality prizes given by organizations and individuals;

b) Conditions and procedures for assessing for the award of national quality prizes are provided for by the Government.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Organizations and enterprises winning the National Quality Prize as prescribed shall be provided with the following assistance:

a) Subsidies from the state budget through programs funding for research, product and technology development, and product quality improvement;

b) Enablement of the participation in international cooperation programs to expand export markets and improve national brand value;

c) Assistance in training and development of human resources in standards, metrology, and conformity assessment;

d) Assistance in the construction and development of national brands by promoting awarded products to increase market share domestically and internationally;

dd) Assistance in the development of environmentally friendly products, green technologies, and energy-saving solutions in the production process.

4. Small and medium-sized enterprises under the National Program on improving productivity and quality in accordance with law shall be provided with the following assistance:

a) Application of management systems, basic and sector-specific productivity and quality improvement tools; new management system standards; traceability systems; good agricultural practices; organic agriculture; green productivity; and smart production;

b) Provision of advice, development, and application of international standards; testing, inspection, and certification of product and goods quality according to international standards; grant-based consultancy, testing, and certification of international standards

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

6. The State shall assist in providing information on international and regional standards, connecting with international standard organizations, and promoting mutual recognition of conformity assessment results to enable trade. The State shall enable enterprises’ participation in reviewing, commenting, amending, or developing standards serving manufacturing and export, especially in sectors without existing standards or applying new technologies.

7. The Government shall elaborate this Article.

Article 6d. Traceability and transparency of product and goods supply chains

1. Traceability and transparency of product and goods supply chains must be carried out on the rules of honesty, objectivity, ensuring authenticity and verifiability; must not obstruct the circulation of goods; and must be consistent with laws on customs, trade, taxation, safeguard, and other relevant laws; assisting competent authorities in verifying the origin, manufacturing process, composition, and quality of products and goods as prescribed by law.

2. For products and goods with high-risk levels, traceability is mandatory and shall be determined by the Ministry or ministerial agency with a roadmap for implementation, ensuring feasibility, suitability to enterprises’ capacity, and the specific development characteristics of each category.

3. Organizations and individuals manufacturing, exporting, importing, and circulating products and goods are encouraged and provided with assistance to implement traceability appropriate to the scale, category’s characteristics, and business conditions.

Article 6dd. Application of technology in product and goods quality management

1. The application of technology in product and goods quality management aims to ensure information transparency, traceability, data connectivity and sharing throughout the entire product and goods lifecycle, aligned with requirements for digital economy development, circular economy, and international integration.

2. The application of technology is encouraged in activities related to standards, metrology, conformity assessment, inspection, quality supervision, and product and goods information management, including:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Collection, storage, and analysis of data to serve inspection, post-market surveillance, inspection, warning, and violation handling;

c) Application of digital passports of products, electronic labels, and traceability information of products and goods as prescribed by law and guidance of competent authorities;

d) Application of artificial intelligence, big data, and advanced digital technologies in activities related to standards, metrology, conformity assessment, inspection, quality supervision, and product and goods information management.

3. The State shall adopt policies to promote technology application and digital transformation in product and goods quality management; encourage organizations and individuals to invest in infrastructure, data infrastructure, and human resource development for implementation of the technology applications prescribed in this Article.

4. The application of digital technology, electronic labels, numbers, barcodes, and traceability systems must ensure data security and confidentiality throughout data collection, storage, processing, and sharing; must comply with rules for information confidentiality, privacy, and data protection as prescribed by law.

5. The Government shall elaborate this Article.”.

2. Amendments to some clauses of Article 8:

a) Amendments to clauses 9 and 10:

“9. Giving untruthful information or advertisement or committing fraudulent acts related to product and goods quality or goods origin; trading products and goods that do not conform to the declared applicable standards, corresponding technical regulations, or have unclear origin and provenance, especially on digital platforms serving electronic transactions which causes confusion or deception to consumers.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Addition of clauses 14 and 13:

“14. Engaging in unfair competition related to product and goods quality that causes confusion or harm to other organizations or individuals.”.

3. Amendments to the title and some clauses of Article 9:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 9. Rights of manufacturers”

b) Amendment to clause 3:

3. To select conformity assessment organizations to carry out assessment of conformity with standards and technical regulations.”;

c) Amendment to clause 5:

5. To request sellers to cooperate in recalling and handling goods that do not conform to the declared applicable standards and corresponding technical regulations.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“7. To be entitled to recompense in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

dd) Addition of clauses 8 and 9 after clause 7:

“8. To have access to information, guidance, technical and financial support, and preferential State policies related to standards, technical regulations, conformity assessment, and management of product and goods quality.

9. To apply traceability solutions to products and goods in accordance with law.”.

4. Amendments to the title and some clauses of Article 10:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 10. Obligations of manufacturers”

b) Amendment to clause 1:

“1. To comply with the conditions for ensuring the quality of products before they are put on the market according to Article 28 of this Law and be accountable for products they manufacture.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“4. To warn about the risk level of products and notify preventive methods to sellers and consumers.”;

d) Amendment to clause 7:

“7. To repair, exchange, or recall of defective products and goods, and refund consumers in accordance with laws on protection of consumer rights.”;

dd) Amendment to clause 8:

“8. Promptly cease manufacturing, notify relevant parties, and take measures to remedy consequences upon discovering products or goods that do not conform to the declared applicable standards and corresponding technical regulations.”;

e) Amendment to clause 10:

“10. To pay damages in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

g) Amendment to clause 12:

“12. To pay costs for testing, certification of standard conformity, certification of regulation conformity as prescribed in Article 23a hereof; costs for sampling and testing as prescribed in Article 47 hereof; costs for sampling, testing, and inspection as prescribed in Article 58 hereof.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

14. To update and provide information on product and goods quality as required by law or upon request of competent authorities.

15. To establish and operate a system to receive information and pay damages when products do not conform to declared applicable standards and corresponding technical regulations, causing harm to consumers, suitable to the scale and operating conditions; ensuring easy access, fair and timely resolution.

16. Store records and provide information on quality and conformity assessment results upon request of competent authorities.”.

5. Amendments to the title and some clauses of Article 11:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 11. Rights of importers”;

b) Amendments to clauses 2 and 3:

“2. To request exporters to supply goods of proper quality as agreed upon in contracts.

3. To select conformity assessment organizations to carry out assessment of conformity with standards and technical regulations of their imports.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“6. To request sellers to cooperate in recalling and handling goods that do not conform to the declared applicable standards and corresponding technical regulations.”;

d) Amendment to clause 8:

“8. To be entitled to recompense in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

dd) Addition of clauses 9 and 10 after clause 8:

“9. To have access to information, guidance, technical and financial support, and preferential State policies related to import, conformity assessment, product labeling, and compliance with product and goods quality regulations.

10. To be provided with or have access to look up traceability information of their imports through databases provided by the exporting country or conformity assessment organizations, in order to serve transparency, public disclosure, and quality supervision requirements.”.

6. Amendments to the title and some clauses of Article 12:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 12. Obligations of importers”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“2. To be accountable for the quality, labeling, and storage of import records in accordance with laws for their imports; provide full and accurate documents related to the quality of goods to sellers as prescribed by law to serve traceability, market surveillance, and protection of consumer rights.

3. Provide truthful information about the quality and origin of products and goods.”;

c) Amendments to clauses 6, 7, 8 and 9:

“6. To warn about the risk level of products and goods and notify preventive methods to sellers and consumers.

7. To provide information on warranty and provide warranty services for sellers and consumers.

8. To repair, exchange, or recall of defective products and goods, and refund consumers in accordance with laws on protection of consumer rights.

9. Promptly cease the import, notify relevant parties, and take measures to remedy consequences upon discovering products or goods that do not conform to the declared applicable standards and corresponding technical regulations.”;

d) Amendment to clause 11:

“11. To destroy, recycle, or repurpose imports that do not conform to corresponding technical regulations but cannot be re-exported; bear all costs related to destruction, recycling, or repurposing of the goods and be accountable for the consequences of such actions in accordance with law.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“13. To pay damages in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

e) Amendment to clause 15l Addition of clauses 16, 17 and 18 after clause 15:

“15. To pay costs for sampling and testing as prescribed in Article 47 hereof; costs for sampling, testing, and inspection as prescribed in Article 58 hereof.

16. Cooperate with competent State authorities in risk assessment, supervision, and early warning for imports with medium or high-risk level that do not conform to technical regulations or violate regulations on protection of consumer rights.

17. Publicize contact information and systems for receiving feedback on the quality of imports; cooperate in resolving complaints and disputes arising related to the quality of imports.

18. To establish and operate a system to receive information and pay damages when products do not conform to declared applicable standards and corresponding technical regulations, causing harm to consumers, suitable to the scale and operating conditions; ensuring easy access, fair and timely resolution.

7. Amendments to the title and some clauses of Article 13:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 13. Rights of exporters”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“7. To be entitled to recompense in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

c) Addition of clauses 8 and 9 after clause 7:

“8. To have access to information, guidance, technical and financial support, and preferential State policies related to standards, technical regulations, conformity assessment, and management of product and goods quality.

9. To have the right to use conformity assessment results from domestic or foreign organizations in cases where such results have been mutually recognized or accepted under international treaties or agreements to which Vietnam is a signatory, in accordance with laws on standards and technical regulations.”.

8. Amendments to the title and some clauses of Article 14:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 14. Obligations of exporters”;

b) Amendment to clause 4; Addition of clauses 5, 6 and 7 after clause 4:

“4. To pay costs for testing, certification of standard conformity, certification of regulation conformity as prescribed in Article 23a hereof, costs for sampling and testing as prescribed in Article 47 hereof and costs for sampling, testing, and inspection as prescribed in Article 58 hereof.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

6. To comply with the regulations of the importing country’s laws, commercial contracts, or relevant international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

7. To organize the implementation of traceability for exports as requested by the importing country.”.

9. Amendments to the title and some clauses of Article 15:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 15. Rights of sellers”;

b) Amendment to clause 6:

“6. To be entitled to recompense in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

c) Addition of clauses 7 and 8 after clause 6:

“7. To have the right to access traceability information and product quality data from manufacturers or importers, or from electronic information systems as prescribed by law, to serve sales activities and provide transparent information to consumers.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

10. Amendments to the title and some clauses of Article 16:

a) Amendment to the title of the Article:

“Article 16. Obligations of sellers”;

b) Amendment to clause 1:

“1. To comply with the conditions for ensuring the quality of products on the market according to Article 34a of this Law and be accountable for product quality.”;

c) Amendment to clause 3:

“3. Provide truthful information about the quality and origin of products and goods.”;

d) Amendments to clauses 6, 7, 8 and 9:

“7. To provide documents and information regarding the goods under inspection to teams/authorities inspecting product quality.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

9. To promptly cease sales, notify manufacturers, importers, and buyers upon discovering products or goods that do not conform to the declared applicable standards and corresponding technical regulations or other regulations on product and goods quality management.”;

dd) Amendments to clauses 11 and 12:

“11. To cooperate with manufacturers or importers in recalling and disposing of products and goods that do not conform to the declared applicable standards, technical regulations, or other regulations on product and goods quality management.

12. To pay damages in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.”;

e) Amendment to clause 14 Addition of clauses 15, 16, 17, 18 and 19 after clause 14:

“14. To pay costs for sampling and testing as prescribed in Article 23a hereof; costs for sampling, testing, and inspection as prescribed in Article 58 hereof.

15. To comply with e-commerce laws and laws on product and goods quality when selling goods on digital platforms serving electronic transactions.

16. To inspect and verify product and goods information posted on digital platforms serving electronic transactions that they manage or use to ensure compliance with laws on product and goods quality; laws on product labeling and traceability.

17. To establish and maintain systems to receive feedback and complaints about product and goods quality; cooperate with manufacturers and importers to promptly handle and resolve in accordance with law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

19. To establish mechanisms to receive and resolve request for recompense when products or goods do not conform to standards, technical regulations, or pose harm to consumers, suitable to the scale and operating conditions; ensure easy access, fair and timely resolution.”.

11. c) Amendment to title of Section 2 of Chapter II:

“Section 2

RIGHTS AND OBLIGATIONS OF CONSUMERS, SOCIAL ORGANIZATIONS PARTICIPATING IN PROTECTION OF CONSUMER RIGHTS, AND SOCIO-PROFESSIONAL ORGANIZATIONS”.

12. Amendments to some clauses of Article 17:

a) Amendment to clause 1:

“1. To be provided with truthful information on the safety and quality of products and goods and provided with instructions on their transportation, storage, preservation and use; be provided with information about organizations and individuals manufacturing, exporting, importing, and circulating products and goods in the market.”;

b) Amendments to clauses 4 and 5:

“4. To be entitled to recompense in accordance with Section 2 of Chapter V hereof and other relevant law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

h) Addition of clauses 7, 8, 9 and 10 after clause 6:

“7. To have the right to trace, search, and compare full and transparent information about quality characteristics, origin, applied standards, and conformity assessment results of products and goods through product labels, electronic labels, numbers, barcodes, or other appropriate means.

8. To have the right to access and use online or direct complaint and feedback systems provided by organizations and individuals manufacturing, exporting, importing, circulating in the market, competent State authorities, or social organizations participating in protection of consumer rights.

9. To access warning information about products and goods that do not conform to the declared applicable standards and corresponding technical regulations, which may pose harm to human health, property, or the environment, provided by State authorities, manufacturers, importers, exporters, and sellers.

10. Other rights as prescribed by the laws on protection of consumer rights, electronic transactions, e-commerce, and other related laws.”.

13. Amendment to Article 18:

“Article 18. Obligations of buyers

1. To use products and goods correctly according to their intended purpose and technical instructions; do not cause harm or affect the safety, health, environment, and rights of other organizations and individuals.

2. To check products and goods before acceptance; promptly notify the sellers if any abnormal signs are detected.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. To cooperate with manufacturers, importers, exporters, sellers and competent authorities in recalling and disposing of products and goods that are unsafe or do not conform to the declared applicable standards, technical regulations, or other regulations on product and goods quality management.

5. Other obligations as prescribed by the laws on protection of consumer rights, electronic transactions, e-commerce, and other related laws.”.

14. Amendment to Articles 21 and 22:

“Article 21. Rights and obligations of socio-professional organizations

1. Rights of socio-professional organizations include:

a) To organize training, refresher training in methods to manage product and goods quality;

b) Give feedback on legislative documents on product and goods quality;

c) To conduct social criticism in product and goods quality management;

d) To file complaints and lawsuits to protect the legitimate rights and interests of members in disputes related to product and goods quality;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Obligations of socio-professional organizations include:

a) To disseminate and popularize laws on product and goods quality to manufacturers, importers, exporters, sellers; encourage manufacturing and trading in goods that ensure the quality, consumer rights, energy saving, and environmental friendliness;

b) To assist, raise awareness and encourage organizations and individuals to comply with laws on product and goods quality;

c) To participate in executing programs and projects to improve productivity, quality, and develop national quality infrastructure as assigned by competent State authorities.

Article 22. Rights and obligations of social organizations participating in protection of consumer rights

1. Rights of social organizations participating in protection of consumer rights include:

a) To represent consumers to protect their legitimate rights and interests in cases of having complaints and feedback regarding products and goods that do not conform to declared applicable standards, corresponding technical regulations, labeling information, or quality commitments in contracts;

b) To cooperate with state authority managing product and goods quality in providing information, submitting opinions, and providing early warnings about products and goods suspected of violating standards, technical regulations, incorrect labeling, or posing risks to human health, property, animals, plants, or the environment; participate in independent surveys and quality testing of goods on the market or digital platforms serving electronic transactions; cooperate in post-inspections, traceability, and risk assessment to support inspection and violation handling.

2. Obligations of social organizations participating in protection of consumer rights include:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) To promptly share complete information with competent state regulatory authority upon detecting signs of violations or risks harmful to consumers.”.

15. Amendment to title of Chapter III:

“Chapter III

MANAGEMENT OF PRODUCT AND GOODS QUALITY IN MANUFACTURING, EXPORT, IMPORT, CIRCULATION ON THE MARKET AND ON DIGITAL PLATFORMS SERVING ELECTRONIC TRANSACTIONS”.

16. Amendment to Article 23; addition of Articles 23a and 23b after Article 23:

Article 23. Declaration of applicable standards, declaration of standard conformity, declaration of regulation conformity

1. Manufacturers/Importers shall declare the applicable standards in accordance with laws on standards and technical regulations.

2. The declaration of applicable standards shall be made in one of the following forms:

a) On the goods;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) On the goods’ label;

d) In documents accompanying the product or goods.

3. The declaration of standard conformity and regulation conformity shall be conducted in accordance with the law on standards and technical regulations.

Article 23a. Costs for testing, certification of standard conformity, certification of regulation conformity

1. Manufacturers must pay costs for testing, certification of standard conformity, certification of regulation conformity according to agreements with testing organizations and certification organizations. Testing organizations and certification organizations must publicly disclose testing and certification costs.

2. In cases where products and goods fall under state-supported programs or projects, such costs shall be paid according to the financial mechanism and specific guidance of the competent state regulatory authorities.

Article 23b. Designation of conformity assessment organizations, recognition of conformity assessment results

1. A designated conformity assessment organization is a conformity assessment organization qualified to operate according to the law on standards and technical regulations and must satisfy the following conditions:

a) Have the management system recognized as compliant with the requirements of the corresponding national or international standards as prescribed by law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Register designated activities with competent state authorities as prescribed by law.

2. The designation of conformity assessment organization is based on the assessment of completeness and validity of applications, technical capability, and ability to maintain conditions as prescribed in Clause 1 of this Article, and the needs of state management at each period.

3. Ministries/ministerial agencies shall make decisions on designations and publicly list designated conformity assessment organization on the national database on standards, metrology, and quality which shall be updated periodically to ensure transparency.

4. Designated conformity assessment organizations shall be subject to periodic or surprised inspections and supervision by state authorities to ensure maintenance of operational conditions and quality of assessment results.

5. Designated conformity assessment organizations that violate the law shall be handled according to the extent of violations under the law.

Ministries and ministerial agencies shall review and make a decision on revoking designation decisions if conformity assessment organizations violate regulations on designated conformity assessment.

6. The State encourages conformity assessment organizations to participate in serving state management. The designation of conformity assessment organizations shall be performed on principles of transparency, non-duplication, non-overlapping competition, ensuring quality and management efficiency.

7. Ministries and ministerial agencies shall prioritize using assessment and inspection results of other agencies when assessing conformity assessment organizations registering for designated activities, ensuring openness, avoiding duplication and overlap, and complying with relevant law.

8. Regulations on mutual recognition agreements and unilateral recognition of conformity assessment results serving state management shall be comply with laws on standards and technical regulations.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

17. Amendment to Article 28:

“Article 28. Quality assurance of products in manufacturing before being put on the market

1. Manufactures must comply with the following product quality management requirements during manufacturing:

a) Apply an appropriate quality management system as prescribed by laws to control the manufacturing process, ensuring that products meet the declared applicable standards, corresponding technical regulations, and other relevant laws;

b) Declare the applicable standards as prescribed in Article 23 hereof; implement labeling of goods, electronic labels, or digital passports of the product; display information on traceability, numbers, and barcodes of products in accordance with laws on goods labeling and traceability;

c) Comply with technical regulations related to the manufacturing process;

d) Declare regulation conformity as prescribed by the law on standards and technical regulations for products and goods with medium or high-risk level;

dd) Store records and documents on product quality, conformity assessment results, regulation conformity declarations, and standard conformity declarations as prescribed by law to serve traceability and post-market inspection.

2. For small-scale manufacturing establishments, product quality assurance shall be carried out according to regulations and guidance from Ministries or ministerial agencies, based on suitability with scale, category characteristics, risk management requirements, ensuring consumer and environmental safety.’.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“Article 32. Quality assurance of exports

Exporters must ensure that their exports conform to the importing country’s regulations, contracts, or international treaties and agreements on mutual recognition of conformity assessment results with the relevant countries or territories.

Article 33. Measures for disposal of exports that are not qualified

Goods failing to satisfied the quality requirements for export as prescribed in Article 32 hereof, which cannot be exported or are returned, shall be subject to one or more of the following measures depending on the nature and severity of violations, applied by the product and goods quality inspection agency:

1. Implement quality inspection measures in manufacturing as prescribed in Article 46 hereof; follow procedures as regulated by the Government for exports that do not conform to declared applicable standards or corresponding technical regulations and affect national interests and reputation;

2. Be put on the domestic market if the quality of goods meets Vietnamese standards, corresponding technical regulations, or other management requirements of relevant laws;

3. Require the manufacturers to remedy or repair the goods so that they can continue to be exported or put on the Vietnamese market, ensuring compliance with corresponding technical regulations or other management requirements of relevant laws;

4. Send petitions to competent state authorities to make decision on the destruction of goods that do not meet technical regulations and other relevant laws and cannot be remedied or repaired.

19. Amendment to Article 34; addition of Articles 34a and 34b after Article 34:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Before being put on the market, imports must satisfy the following conditions:

a) Have applicable standards declared as prescribed in Article 23 hereof;

b) Implement labeling of goods in accordance with law, including physical labels, electronic labels, or digital passports of the product; display information on traceability, numbers, and barcodes of products in accordance with laws on goods labeling and traceability.

2. Regulation conformity must be declared in accordance with the law on standards and technical regulations for imports with medium risk levels based on self-assessment results or results of certification of conformity with corresponding national technical regulations issued by recognized certification organizations before being put on the market or other management requirements of relevant laws. In case goods do not conform to technical regulations or declared applicable standards, importers must promptly report to competent authorities and organize disposal and recall of such goods as prescribed by law.

If importers have declared conformity for goods with medium risk, they are not required to declare conformity again for the same types of goods unless there are changes in national technical regulations, product characteristics from manufacturers, or risk warnings from competent Vietnamese authorities.

3. Register quality inspection for imports with high-risk levels on the National Single Window Portal.

4. Increase inspection frequency as regulated for imports originating from countries or territories flagged for high-quality risks or organizations and individuals with repeated violations of product and goods quality regulations.

5. Inspection agencies are responsible for monitoring, supervising, and warning about quality violations of imports.

6. The Government shall elaborate this Article; procedures for inspection, exemption, reduction of inspection, and handling of quality violations during inspection of imports with medium or high-risk level.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Goods put on the market must meet the following conditions:

a) Comply with corresponding technical regulations or internal control measures to maintain product quality during transportation, storage, preservation, and distribution;

b) Be labeled by physical labels, electronic labels, or digital passports of the product; display information on numbers, barcodes, traceability, and product quality as prescribed by law;

c) Have information updated on electronic data systems to serve traceability and post-market inspection as guided by competent state authorities.

2. Sellers shall ensure the quality of their goods complies with declared applicable standards, corresponding technical regulations, and are subject to quality inspection as regulated in Article 45 hereof.

3. Goods put on the market must ensure quality conformity with declared applicable standards, corresponding technical regulations, and be subject to quality inspection as prescribed in Article 45 hereof.

4. Cross-border trade of goods that are put on the domestic market by border residents must meet the following minimum requirements:

a) Ensure quality and safety, not adversely affect human health, environment, or consumer rights according to other relevant laws;

b) Ensure transparency, authenticity, verifiability, conformity with international practices in management, and avoid unnecessary trade barriers;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. The Government shall elaborate clauses 1, 2 and 3 of this Article; procedures for inspection, handling of violations against regulations on quality of goods put on the market.

Article 34b. Quality assurance of products on digital platforms serving electronic transactions

1. Goods on digital platforms serving electronic transactions must comply with Clauses 1 and 2, Article 34a hereof.

2. Sellers shall provide full information about product quality on digital platforms serving electronic transactions, including:

a) Name of goods, origin, name of the manufacturer or importer responsible for product quality;

b) Standard conformity marks, regulation conformity marks as prescribed by law;

c) Usage instructions, safety warnings (if any);

d) Other information as required by relevant laws.

3. Responsibilities of the administrators of intermediary digital platforms serving electronic transactions include:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Take measures to inspect and dispose of goods violating laws on quality upon detection or upon request from competent state regulatory authorities;

c) Establish and operate systems to receive and handle feedback and complaints from consumers related to product and goods quality;

d) Cooperate with competent authorities in inspection, verification, and handling of violations related to product and goods quality;

dd) Comply with laws on electronic transactions, e-commerce, and other relevant laws.

4. Administrators of digital platforms serving electronic transactions shall comply with laws on electronic transactions, e-commerce, and other relevant laws.”.

20. c) Amendment to Chapter IV:

“Chapter IV

INSPECTION OF PRODUCT AND GOODS QUALITY

Article 45. Inspection of product and goods quality

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The scope of quality inspection includes:

a) Inspection during manufacturing regarding compliance with Article 28 hereof;

b) Inspection during import and market circulation regarding compliance with Articles 34, 34a, and 34b hereof;

c) Quality inspection is not applied to exports, except when requested by the importing country, international treaties, or other relevant laws.

3. The quality inspection agencies are state authorities of Ministries, ministerial authorities, or relevant authorities of People’s Committees of provinces/cities assigned or delegated to perform state inspection tasks as prescribed by law. Assignment, delegation, and cooperation in inspections shall comply with Article 48 hereof.

4. Inspection methods are conducted directly or indirectly based on available data on product risk levels, traceability information, numbers, barcodes, standard conformity certificates, regulation conformity certificates, and data from recognized quality management systems or connected to state regulatory authorities, combined with quality violation warnings.

5. When necessary, quality inspection agencies shall conduct sample testing according to declared applicable standards or corresponding technical regulations to verify product quality as prescribed by law.

6. Exemption or reduction of quality inspection applies to products and goods that have standard conformity certificates, regulation conformity certificates, declarations of conformity, or certifications of application of advanced management systems according to international or regional standards, as prescribed by the Government.

7. For high-risk products and goods, quality inspection agencies shall conduct periodic or surprised sampling at appropriate locations based on management requirements to intensify inspection of these products and goods.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

9. Based on inspection requirements, the quality inspection agency shall establish an Inspection Team. The team consists of quality controllers and relevant cadres, civil servants, public employees, and technical experts. The team operates according to an approved plan and is accountable to the law for conclusions, petitions, and inspection records.

10. Quality inspection agencies shall organize quality surveys of goods to collect and analyze actual information about the quality status of goods on the market to serve risk warnings and determine the basis for key inspections.

11. The Government shall elaborate the contents, procedures for product and goods quality inspection, operations of the Inspection Team and goods quality survey.

Article 46. Inspection of quality of products in manufacturing

1. Quality inspection during manufacturing is conducted to promptly detect and prevent products that do not conform to declared applicable standards or corresponding technical regulations before being put on the market.

2. Quality inspection agencies shall conduct planned or surprised inspections. Selection of inspection targets and contents is based on at least one of the following information:

a) Analysis of risks and impact on health, safety, and the environment;

b) Results of analysis and data processing from consumer warning, feedback and complaint systems; traceability data, conformity assessment records;

c) Information and warnings from state authorities, social organizations participating in protecting consumer rights, social-professional organizations, conformity assessment organizations, and other social supervision channels

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Request manufacturers to remedy violations and recall non-conforming products;

b) Issue decisions on penalties for administrative violation according to law if violations are detected;

c) Warn consumers or publicly disclose information if products affect community safety and health;

d) Propose forwarding violation dossiers to competent authorities for handling as prescribed by relevant laws.

4. Inspections must ensure objectivity, publicity, transparency, and not obstruct business operations. Inspection content, procedures, and methods are uniformly prescribed. Digital technologies are applied in data collection, storage, and use for inspection purposes.

5. The Government shall elaborate the contents, procedures for product quality inspection in manufacturing and handling of violations during the process of product quality inspection in manufacturing.

Article 47. Costs for conformity assessment serving inspection of product and goods quality

1. Costs for imports:

a) Importers shall pay testing and certification costs as agreed with testing and certification organizations. Testing and certification organizations must publicly disclose their fees;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Sampling and testing costs for quality inspection and resolution of complaint on product and goods quality:

a) Costs for sampling and testing to inspect quality of products during manufacturing and goods on the market are paid by the quality inspection agencies and included in their operational budget;

b) In cases where manufacturer/sellers violate regulations on quality according to inspection conclusions, they must reimburse sampling and testing costs to the inspection agencies;

c) If complaints or denunciations about product quality are found to be unfounded according to inspection conclusions, complainants or denunciators must reimburse sampling and testing costs to the inspection agencies.

Article 48. Assignment, delegation of responsibilities and cooperation in inspection of product and goods quality

1. Quality inspection agencies of Ministries, ministerial agencies, and the Government Cipher Committee shall conduct quality inspections for products in manufacturing, exports, imports, and goods on the market within their assigned management scope as prescribed by the Government.

2. The quality inspection agencies of People’s Committees of provinces/cities shall carry out quality inspections according to delegation; cooperate with Ministries and ministerial agencies in inspecting product and goods quality as prescribed by law.

3. Quality inspection agencies specified in Clauses 1 and 2 of this Article shall:

a) Cooperate in inspections and handling violations during quality inspection;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Avoid duplication and overlap in inspections of the same types of products and goods.

4. Quality inspections must comply with the principle of classification based on risk levels, ensuring transparency, consistency, effectiveness, and enabling manufacturing, export, import, and market circulation.

5. Commune-level People’s Committees shall cooperate with market surveillance forces and quality inspection agencies at all levels to inspect the quality of goods on the market; detect and record initial information; report to competent authorities upon signs of violations against regulations on quality; and organize public communication and warnings in their areas for products and goods with medium or high risk levels or suspected of violating regulations on product and goods quality.

6. The Government shall provide for the cooperation mechanism, data development t and sharing, and operation of the national product and goods quality supervision system

Article 49. Quality controllers

1. Quality controllers are civil servants, public employees, or officers in the People’s armed forces who perform inspection for product and goods quality as prescribed by this Law and other relevant laws.

2. The Government shall elaborate this Article.”.

21. Amendment to Article 54; addition of Articles 54a and 54b after Article 54:

“Article 54. Disputes and forms of resolution regarding product and goods quality

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Disputes between buyers and importers/sellers, or among merchants themselves due to products or goods not conforming to declared applicable standards, corresponding technical regulations, or quality agreements in contracts;

b) Disputes between importers/sellers and consumers or related parties due to products or goods not conforming to declared applicable standards or corresponding technical regulations causing damage to people, animals, plants, property, or the environment.

2. Forms of resolving disputes over product and goods quality:

a) Negotiation between disputing parties regarding product or goods quality;

b) Mediation conducted by an agency, organization, or individual agreed upon by the parties as intermediary;

c) Resolution by arbitration or court according to the laws on arbitration or civil procedure.

Article 54a. Initiation of lawsuits to protect consumer rights and violation warning

1. Social organizations participating in consumer protection have the right to file civil lawsuits to protect the common interests of consumers when products or goods do not conform to declared applicable standards or corresponding technical regulations causing damage to consumers as prescribed by law.

2. Dispute resolution agencies shall provide information and documents related to violations against regulations on product and goods quality-to-quality inspection agencies and competent state regulatory authorities for timely inspection, handling, and risk warning as prescribed by law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“1. Statute of limitations for lawsuits related to product and goods on product and goods quality between buyers and sellers shall comply with the Civil Code.”.

23. Amendments to Articles 61 and 62:

“Article 61. Recompense liabilities

1. Manufacturers/importers shall pay damages to sellers or consumers when their goods cause harms to the latter due to their failure to ensure conformity with the declared applicable standards or corresponding technical regulations, except for cases specified in Clause 1 of Article 62 hereof. Damages shall be paid according to agreements between involved parties or court decisions or arbitral awards.

2. Sellers shall pay damages to buyers/consumers when their goods cause harms to the latter due to their failure to ensure conformity with the declared applicable standards or corresponding technical regulations, except for cases specified in Clause 2 of Article 62 hereof. Damages shall be paid according to agreements between involved parties or court decisions or arbitral awards.

“Article 62. Cases in which recompense is not required

1. Manufacturers/importers shall not have to recompense if:

a) The damage occurs because the consumer intentionally uses products or goods that have expired or have clear warning about the risk level of the products or goods;

b) The time limit for filing complaints or lawsuits has expired as prescribed by law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) The damage occurs entirely due to the fault of the seller or the consumer.

2. Sellers are not required to recompense in the following cases:

a) The damage occurs because the consumer intentionally uses products or goods that have expired or knowingly uses defective goods;

b) The time limit for filing complaints or lawsuits has expired as prescribed by law;

c) Defects in goods arise due to manufacturers or importers complying with compulsory regulations of competent state authorities at the time of manufacturing or import;

d) The damage occurs entirely due to the fault of the consumer.

3. Other cases as prescribed by laws on protection of consumer rights and other relevant laws.”.

24. Amendments to clauses 2 and 3 of Article 66:

 “2. Organizations violating the law on product and goods quality shall, depending on the nature and severity of their violations, shall face administrative penalties or criminal prosecution and recompense for any damage caused. The list of organizations and individuals violating regulations on goods quality shall be publicly posted on the National Database on standards, metrology, quality, and mass media to warn society and protect consumer rights.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

25. Article 7, Clause 4 of Article 13, Clauses 2 and 3 of Article 17, Articles 19, 20, 24, 25, 26, 27, 29, 30, 31, 35, 36, 37, 55; the title of Section 3 of Chapter II; Section 5 and Section 6 of Chapter III, Section 3 of Chapter V, Chapter VI are annulled.

Article 2. Effect

This Law comes into force from January 01, 2026.

Article 3. Transitional clauses

1. Organizations and individuals with products or goods that have had declarations of standard conformity, declarations of regulation conformity, or have been granted certificates of standard conformity or regulation conformity before the effective date of this Law shall continue to follow the validity period stated in the declarations or certificates already granted.

Organizations and individuals who have submitted applications for declarations of standard conformity, declarations of regulation conformity, or registration for inspection of quality of imports but have not yet been granted certificates of standard conformity or regulation conformity or received notices of inspection of quality of imports by the effective date of this Law shall continue to follow the regulations of the Law on product and goods quality No. 05/2007/QH12, which is amended by Law No. 35/2018/QH14.

2. Conformity assessment organizations designated before the effective date of this Law shall continue conducting conformity assessment until the expiration date stated in the designation decisions.

This Law was ratified by the 9th meeting of the 15th National Assembly of Socialist Republic of Vietnam on June 18, 2025.

 

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

PRESIDENT OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025
Số hiệu: 78/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Thương mại
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 18/06/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 4. Nguyên tắc và phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa

1. Việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc sau:

a) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn;

b) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ;

c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

d) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro;

đ) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học.

2. Phân loại rủi ro:

Các sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo ba mức độ rủi ro:

a) Nhóm rủi ro cao: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại lớn và khả năng xảy ra rủi ro cao, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;

b) Nhóm rủi ro trung bình: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại hoặc khả năng xảy ra rủi ro ở mức trung bình, có thể gây ảnh hưởng đáng kể nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;

c) Nhóm rủi ro thấp: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra rủi ro thấp, hầu như không gây ảnh hưởng đáng kể trong điều kiện kiểm soát hoặc sử dụng thông thường.

3. Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng

Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng của sản phẩm, hàng hóa quy định tại Phụ lục VI của Nghị định này. Trường hợp cần thiết phải có quy định cho phù hợp với đặc thù của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, trên cơ sở phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng quy định tại Nghị định này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định yêu cầu đặc thù riêng trong phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng cho sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý.
...
PHỤ LỤC VI PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 5. Nguyên tắc phân loại và quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sản phẩm, hàng hóa được phân loại dựa trên mức độ rủi ro, phù hợp thông lệ quốc tế; cảnh báo của tổ chức quốc tế có liên quan đối với sản phẩm, hàng hóa; khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ.

2. Sản phẩm, hàng hóa được phân thành ba loại sau đây:

a) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro thấp;

b) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình;

c) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao.

3. Tiêu chí đánh giá rủi ro bao gồm: mức độ tác động đến sức khỏe, môi trường, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng và cảnh báo từ tổ chức quốc tế.

4. Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Việc quản lý sản phẩm, hàng hóa phải bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch, khách quan, phù hợp với mức độ rủi ro; không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa và chủ thể có liên quan, phù hợp với thông lệ quốc tế, không tạo rào cản kỹ thuật không cần thiết; bảo vệ quyền của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng;

b) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro thấp phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng;

c) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng; phải tự đánh giá hoặc do tổ chức chứng nhận được công nhận thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

d) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng và do tổ chức chứng nhận được chỉ định thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

đ) Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải được quản lý theo danh mục gắn với yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng, trong đó xác định rõ sản phẩm, hàng hóa được áp dụng biện pháp quản lý khác theo quy định của luật có liên quan.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Chương VII Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Chương VII TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 93. Trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ

1. Xây dựng, ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhãn hàng hóa, hạ tầng chất lượng quốc gia và phát triển sản phẩm đặc thù tại Việt Nam; chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, địa phương xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra; xây dựng, quản lý, vận hành và duy trì hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, Cơ sở dữ liệu nhãn điện tử quốc gia.

2. Chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành và duy trì Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia, phối hợp với Bộ Công an xây dựng nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

3. Chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình quốc gia nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa; xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tổ chức thực hiện và công bố chỉ số đánh giá theo thông lệ quốc tế.

4. Thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường theo quy định của Chính phủ tại Điều 94 Nghị định này.

5. Chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực xây dựng và tổ chức thực hiện:

a) Các biện pháp quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhãn hàng hóa, hộ chiếu số của hàng hóa, ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về nhãn hàng hóa.

Nghiên cứu phát triển ứng dụng, cung cấp các dịch vụ và giải pháp về nhãn điện tử và các công nghệ khác liên quan để phục vụ nhu cầu của tổ chức, cá nhân; thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về nhãn hàng hóa, nhãn điện tử;

b) Quản lý tổ chức công nhận; chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi phân công quản lý; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động công nhận, quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp thuộc phạm vi được phân công quản lý trong trường hợp tổ chức công nhận, tổ chức đánh giá sự phù hợp vi phạm pháp luật;

c) Chủ trì, phối hợp với các tổ chức, cá nhân liên quan tổ chức việc khảo sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

d) Quản lý hoạt động cấp chứng chỉ đào tạo chuyên môn về đánh giá sự phù hợp đối với chuyên gia đánh giá, thử nghiệm viên, giám định viên, chuyên gia khác của tổ chức đánh giá sự phù hợp; quản lý hoạt động đào tạo chuyên gia năng suất chất lượng, kiểm soát viên chất lượng;

đ) Tổ chức hoạt động hợp tác quốc tế về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xem xét, chấp nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức đánh giá sự phù hợp tại nước ngoài đối với các sản phẩm, hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý.

6. Chủ trì tổ chức đánh giá, đề xuất các hình thức tôn vinh, khen thưởng cấp quốc gia đối với sản phẩm, hàng hóa, cơ sở tư vấn, đào tạo, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước; quy định điều kiện, thủ tục xét tặng giải thưởng của tổ chức, cá nhân về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

7. Theo dõi, thống kê, tổng hợp tình hình quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong cả nước; tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo, phổ biến kiến thức, thông tin về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

8. Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trong lĩnh vực được phân công theo quy định của pháp luật.

9. Kiểm tra việc xây dựng, ban hành danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao và các yêu cầu quản lý; việc chỉ định và quản lý tổ chức đánh giá sự phù hợp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

10. Chủ trì, phối hợp các bộ quản lý ngành, lĩnh vực xây dựng kế hoạch kiểm tra liên ngành chuyên đề chất lượng sản phẩm, hàng hóa trọng tâm, trọng điểm hàng năm và tổ chức thực hiện.

11. Chủ trì, đề xuất phương án dự toán chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương (bao gồm kinh phí triển khai pháp luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa), gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Điều 94. Trách nhiệm quản lý nhà nước của bộ quản lý ngành, lĩnh vực

1. Việc phân công quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa bảo đảm nguyên tắc:

a) Một sản phẩm, hàng hóa được giao cho một bộ quản lý ngành, lĩnh vực chủ trì quản lý chất lượng căn cứ vào bản chất và đặc tính kỹ thuật của sản phẩm;

b) Trường hợp sản phẩm có nhiều mục đích sử dụng, việc phân công được xác định theo bản chất kỹ thuật, không căn cứ mục đích sử dụng;

c) Trường hợp sản phẩm, hàng hóa có đặc tính kỹ thuật liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc có giao thoa giữa các luật chuyên ngành dẫn đến khó xác định bộ quản lý ngành, lĩnh vực chủ trì quản lý chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các bộ liên quan để thống nhất phương án phân công; trường hợp không thống nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo lĩnh vực được phân công, có trách nhiệm sau đây:

a) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của bộ, ngành; xây dựng, ban hành danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao;

b) Thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường theo quy định tại khoản 3 Điều này; chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý tổ chức triển khai thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi, lĩnh vực được phân công quản lý;

c) Chỉ định và quản lý hoạt động của tổ chức đánh giá sự phù hợp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi được phân công quản lý; thu hồi quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp thuộc phạm vi được phân công quản lý trong trường hợp các tổ chức này vi phạm pháp luật; ưu tiên, xem xét, sử dụng kết quả đánh giá chỉ định của các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật; thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp do tổ chức đánh giá sự phù hợp nước ngoài thực hiện theo hình thức thừa nhận đơn phương, song phương hoặc đa phương theo quy định của pháp luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

d) Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật;

đ) Theo dõi, thống kê, tổng hợp tình hình quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tuyên truyền, phổ biến và tổ chức hướng dẫn pháp luật; hỗ trợ tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tìm hiểu thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

e) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xây dựng, tổ chức triển khai kiểm tra theo kế hoạch kiểm tra liên ngành chuyên đề trọng tâm, trọng điểm hằng năm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thừa nhận lẫn nhau đối với kết quả đánh giá sự phù hợp;

g) Đối với hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm quản lý các chủ quản nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử; yêu cầu các chủ thể này hiển thị đầy đủ thông tin về chất lượng hàng hóa theo quy định và có cơ chế sàng lọc, gỡ bỏ sản phẩm vi phạm. Các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương để thực hiện hậu kiểm, xử lý vi phạm về chất lượng đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực mình quản lý được kinh doanh trên các nền tảng số.

3. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định tại Luật này trong phạm vi, lĩnh vực được Chính phủ phân công.

Điều 95. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau:

1. Ban hành các biện pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn nâng cao chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa của địa phương.

2. Tổ chức thực hiện quy định của Chính phủ, các bộ, ngành về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo phân cấp quản lý.

3. Tổ chức và chỉ đạo hoạt động của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa của địa phương.

4. Tuyên truyền, phổ biến và tổ chức hướng dẫn pháp luật, cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và tổ chức, cá nhân tiêu dùng.

5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

6. Chỉ định, thu hồi quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp quy chuẩn kỹ thuật địa phương theo quy định của pháp luật.

7. Giao cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa tại địa phương:

a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực hướng dẫn áp dụng, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, đào tạo, triển khai và quản lý truy xuất nguồn gốc tại địa phương; phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ để khai thác, cung cấp, tra cứu thông tin trên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia phục vụ công tác quản lý nhà nước tại địa phương;

b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và các cơ quan liên quan trong quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa tại địa phương;

c) Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, xây dựng kế hoạch thực hiện, dự trù nguồn lực cần thiết để triển khai các hoạt động liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa hằng năm, trung hạn và dài hạn tại địa phương;

d) Có phương án phù hợp để khuyến khích, thu hút, hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa từ nguồn lực của doanh nghiệp và các nguồn hỗ trợ khác.

Điều 96. Trách nhiệm của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa địa phương

1. Xây dựng kế hoạch kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo ngành, lĩnh vực và địa bàn được phân công quản lý.

2. Chủ động tổ chức và thực hiện việc kiểm tra và xử lý các vấn đề về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.

3. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa địa phương có trách nhiệm phối hợp cơ quan thanh tra thực hiện hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; tránh chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra.

4. Định kỳ hàng quý trước ngày 25 hoặc đột xuất khi có yêu cầu, tổng hợp, cập nhật kết quả kiểm tra lên cơ sở dữ liệu của địa phương, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6a. Trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại Luật này.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể việc thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh sau khi trao đổi, thống nhất với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa đối với đối tượng đặc thù thuộc lĩnh vực cơ yếu.

4. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Chương VII Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Chương II Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Chương II PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG CHẤT LƯỢNG QUỐC GIA

Điều 7. Đánh giá hiệu quả hoạt động của hạ tầng chất lượng quốc gia

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng bộ chỉ số đánh giá hạ tầng chất lượng quốc gia làm cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của hạ tầng chất lượng quốc gia; nâng cao thứ hạng của Việt Nam trong Chỉ số hạ tầng chất lượng toàn cầu; hướng dẫn cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu, thông tin giữa các tổ chức thành viên trong hạ tầng chất lượng quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo mật thông tin.

Điều 8. Xây dựng nền tảng số để quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia

1. Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, vận hành, duy trì nền tảng số thống nhất để phục vụ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng và quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia, bao gồm các khối chức năng:

a) Phục vụ việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật;

b) Phục vụ việc đăng ký, chỉ định, quản lý tổ chức đánh giá sự phù hợp, tổ chức công nhận; hoạt động đánh giá sự phù hợp; hoạt động công nhận; hoạt động công bố hợp chuẩn, hợp quy;

c) Phục vụ việc đăng ký, chỉ định, quản lý tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường;

d) Phục vụ quản lý hệ thống nhân lực trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng bao gồm cả kiểm soát viên chất lượng, đội ngũ chuyên gia tư vấn, chuyên gia đánh giá, thử nghiệm viên, giám định viên, kiểm định viên đo lường;

đ) Phục vụ quản lý về mã số, mã vạch, nhãn điện tử, truy xuất nguồn gốc, hộ chiếu số của sản phẩm, hàng hóa, giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

e) Phục vụ việc quản lý hoạt động kiểm tra, giám sát, cảnh báo quốc tế;

g) Hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

2. Nền tảng số bảo đảm việc kết nối, chia sẻ, thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, chính xác để phục vụ công tác kiểm tra, cảnh báo và quản lý chất lượng trên phạm vi toàn quốc.

3. Kinh phí xây dựng, vận hành, duy trì, nâng cấp hạ tầng chất lượng quốc gia từ nguồn ngân sách nhà nước dành cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Điều 9. Hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia

1. Hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia là một cấu phần của nền tảng số để quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia, dựa trên các thông tin về:

a) Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; kết quả kiểm định, hiệu chuẩn; kết quả đánh giá sự phù hợp, kiểm tra chất lượng; cảnh báo rủi ro;

b) Phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức và doanh nghiệp;

c) Dữ liệu mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, nhãn điện tử và hộ chiếu số của sản phẩm.

2. Các bên liên quan (doanh nghiệp, người dân, cơ quan quản lý) thực hiện việc truy cập thông tin, phản hồi trên hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia, góp phần minh bạch và phòng ngừa vi phạm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

3. Cơ chế vận hành hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia phải bảo đảm chất lượng dữ liệu, kết nối dữ liệu tự động, cập nhật theo thời gian thực, phục vụ cảnh báo sớm và hỗ trợ thanh tra, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

4. Việc cảnh báo rủi ro được thực hiện trên cơ sở phân tích dữ liệu lớn (Big Data), tích hợp cảnh báo từ trong nước và quốc tế, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện sản phẩm, hàng hóa có dấu hiệu vi phạm hoặc nguy cơ không bảo đảm chất lượng.

5. Cơ quan quản lý nhà nước thiết lập hệ thống tiếp nhận phản ánh, khiếu nại, tố cáo qua nền tảng điện tử, kết nối trực tiếp với hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

6. Phản ánh, cảnh báo được xác minh, xử lý theo quy trình minh bạch, có phản hồi công khai kết quả đến tổ chức, cá nhân gửi thông tin.

Điều 10. Xây dựng, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong hệ thống hạ tầng chất lượng quốc gia

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương có trách nhiệm định kỳ cập nhật dữ liệu hàng quý hoặc đột xuất khi có yêu cầu:

a) Cung cấp số liệu, cảnh báo về sản phẩm, hàng hóa vi phạm;

b) Cập nhật kết quả kiểm tra, giám sát, đánh giá sự phù hợp;

c) Báo cáo tiến độ xây dựng, thực hiện các thành phần trong hạ tầng chất lượng quốc gia.

2. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các thành phần trong hạ tầng chất lượng quốc gia phải bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kịp thời, chính xác, bảo mật và phục vụ hiệu quả công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trên phạm vi toàn quốc.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính quy định cụ thể nội dung chi, việc bố trí, quản lý, sử dụng kinh phí cho việc xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Điều 11. Đầu tư nguồn lực để phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia

1. Ngân sách nhà nước được bố trí hằng năm từ nguồn đầu tư phát triển và chi thường xuyên trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đầu tư, phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia.

Hạ tầng chất lượng quốc gia được ngân sách nhà nước bảo đảm tại khoản này gồm có:

a) Xây dựng, duy trì, vận hành, nâng cấp nền tảng số, hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia;

b) Xây dựng, duy trì, vận hành, nâng cấp Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;

c) Các thành phần khác của hạ tầng chất lượng quốc gia, bao gồm: hỗ trợ nâng cao năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp công lập, tổ chức công nhận công lập được quy định tại khoản 1 Điều 6b Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15, Điều 50 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 70/2025/QH15.

2. Việc quản lý, sử dụng các nguồn ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia phải bảo đảm hiệu quả, minh bạch, tránh trùng lặp, lãng phí, gắn với chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia được quy định tại khoản 1 Điều này; hướng dẫn, tổng hợp và đề xuất dự toán chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia (bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên) của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, pháp luật về đo lường, phù hợp với chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

4. Bộ Tài chính có trách nhiệm cân đối nguồn ngân sách nhà nước hằng năm cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định của pháp luật về ngân sách, đầu tư công và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực; tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trên cơ sở đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ.

5. Việc huy động nguồn lực xã hội để phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia được thực hiện thông qua các cơ chế:

a) Hợp tác công tư (PPP) trong xây dựng, vận hành phòng thử nghiệm, cơ sở kiểm định, hiệu chuẩn, hệ thống truy xuất nguồn gốc, nền tảng số và các cấu phần khác của hạ tầng chất lượng quốc gia;

b) Sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo;

c) Sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ các chương trình, dự án quốc tế, vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn vốn hợp pháp khác;

d) Chính sách thuế, phí và lệ phí đối với hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, phí và lệ phí.

Điều 12. Hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho doanh nghiệp

1. Hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải thưởng chất lượng quốc gia:

a) Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp danh sách tổ chức, doanh nghiệp đạt giải hằng năm để làm căn cứ hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ tài chính được thực hiện thông qua các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về năng suất, chất lượng;

c) Nội dung, mức hỗ trợ tài chính, hình thức hỗ trợ quảng bá, kết nối hợp tác quốc tế, phát triển thương hiệu thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ.

2. Hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng quy định tại khoản 4 Điều 6c Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 với mức tối đa 80% chi phí theo giá trị hợp đồng, ưu tiên doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp, công nghệ cao.

3. Hỗ trợ một lần cho một doanh nghiệp chi phí thử nghiệm và chứng nhận đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực theo quy định tại khoản 5 Điều 6c Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 với mức tối đa 30% giá trị hợp đồng thử nghiệm và chứng nhận, khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:

a) Các sản phẩm trong quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm chủ lực;

b) Tổ chức thử nghiệm phải được công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc được chỉ định theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Phương thức hỗ trợ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thực hiện quy định tại khoản này.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ công bố và cập nhật định kỳ danh mục tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan có liên quan quy định cụ thể nội dung chi, việc bố trí, quản lý và sử dụng kinh phí đối với các nhiệm vụ quy định tại Điều này.

Điều 13. Hoạt động kiểm tra, giám sát

1. Quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát thực hiện theo nguyên tắc sau:

a) Xây dựng, triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra, giám sát về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa;

b) Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với:

Hoạt động công nhận, đánh giá sự phù hợp, kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường;

Doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

Sản phẩm, hàng hóa có thông tin cảnh báo của các nước Thành viên WTO, của tổ chức quốc tế, hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng về dấu hiệu vi phạm pháp luật.

2. Tiếp nhận, xử lý và công khai thông tin

a) Hình thành và vận hành kênh tiếp nhận thông tin về sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng nhập khẩu và lưu thông trên thị trường, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia;

b) Tổ chức xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật; đồng thời công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và phương tiện thông tin đại chúng danh sách tổ chức, cá nhân vi phạm để cảnh báo xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Thông tin công khai bao gồm: Tên tổ chức, cá nhân vi phạm; địa chỉ, tên sản phẩm, hàng hóa vi phạm; hành vi vi phạm, biện pháp xử lý và hình thức xử phạt; thời gian, cơ quan thực hiện xử phạt.

Việc công khai thông tin phải bảo đảm trung thực, khách quan, cập nhật kịp thời và không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

3. Chính sách khuyến khích, khen thưởng và bảo vệ người tố giác vi phạm bao gồm:

a) Nhà nước có chính sách khuyến khích, khen thưởng kịp thời đối với tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tố giác hành vi vi phạm pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và lợi ích công cộng;

b) Tổ chức, cá nhân tố giác được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân, an toàn tính mạng, tài sản và không bị trả thù, trù dập theo quy định của pháp luật.

4. Điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra, giám sát bao gồm:

a) Bố trí, bảo đảm nguồn nhân lực và trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tại các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương;

b) Nghiên cứu, chế tạo, đầu tư các thiết bị chuyên dùng như: xe kiểm định lưu động, xe ô tô trang bị thiết bị thử nghiệm; phương tiện, thiết bị đo kiểm tra nhanh và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ khác, đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát.

5. Nhà nước chú trọng tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, bao gồm:

a) Nghiệp vụ đo lường và kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường;

b) Nghiệp vụ kiểm soát viên chất lượng, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa, đánh giá sự phù hợp;

c) Nghiệp vụ kiểm tra chuyên ngành về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa.

Điều 14. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở trung ương là các Ủy ban, Cục thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa hoặc cơ quan khác thuộc bộ quản lý ngành, lĩnh vực được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2. Bộ Công an phân công đơn vị trực thuộc thực hiện chức năng kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an.

3. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở địa phương là Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, Chi cục và tương đương thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở địa phương tiến hành việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn quản lý theo quy định của pháp luật.

4. Căn cứ vào yêu cầu cụ thể, bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và thống nhất với Bộ Nội vụ về biên chế lực lượng kiểm soát viên chất lượng của đơn vị thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

5. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa có trách nhiệm:

a) Thực hiện kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo đúng chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm khách quan, minh bạch, không gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;

b) Thu thập, cập nhật, chia sẻ thông tin, dữ liệu kiểm tra với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và phối hợp với các cơ quan có liên quan trong xử lý vi phạm;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận và quyết định xử lý của mình.

Điều 15. Phân công trách nhiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa có trách nhiệm tổ chức kiểm tra đối với sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường theo lĩnh vực được phân công, bảo đảm thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro, khách quan, minh bạch và không cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp.

2. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quyết định và tổ chức kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất; chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước bộ quản lý ngành, lĩnh vực về kết quả kiểm tra, kết luận và quyết định xử lý.

3. Việc phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa giữa các cơ quan kiểm tra chỉ được thực hiện trong trường hợp có sự giao thoa trong chức năng quản lý nhà nước của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực đối với sản phẩm, hàng hóa hoặc phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa có quy mô lớn, tính chất phức tạp; kết quả kiểm tra, thông tin cảnh báo rủi ro phải được cập nhật, chia sẻ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và các hệ thống chuyên ngành có liên quan.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, địa phương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Điều 16. Kiểm soát viên chất lượng

1. Kiểm soát viên chất lượng là công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được sắp xếp, bố trí vào vị trí việc làm hoặc thay đổi vị trí việc làm và xếp ngạch “kiểm soát viên chất lượng” tương ứng phù hợp thuộc cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

2. Kiểm soát viên chất lượng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, lấy mẫu, phối hợp xử lý vi phạm hành chính và các nhiệm vụ chuyên môn khác liên quan đến quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

3. Kiểm soát viên chất lượng hoạt động theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, tuân thủ pháp luật; không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

4. Mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và chức danh nghề nghiệp đối với các ngạch công chức, viên chức, chuyên ngành kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ban Cơ yếu Chính phủ quy định. Mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và chức danh nghề nghiệp của sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân chuyên ngành kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ.

5. Kiểm soát viên chất lượng được cấp trang phục riêng, phù hiệu, thẻ kiểm soát viên chất lượng theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, trừ trang phục, phù hiệu, thẻ kiểm soát viên chất lượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Điều 17. Nguồn kinh phí cho hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Nguồn kinh phí kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm:

a) Ngân sách nhà nước hằng năm của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố;

b) Chi phí lấy mẫu, đánh giá sự phù hợp phục vụ khảo sát chất lượng, kiểm tra chất lượng và giải quyết khiếu nại, tố cáo về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được chi từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

c) Các nguồn hợp pháp khác.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính quy định cụ thể nội dung chi, việc bố trí, quản lý, sử dụng kinh phí quy định tại Điều này.

3. Việc lấy mẫu, thử nghiệm quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 là hoạt động kiểm tra chất lượng phục vụ quản lý nhà nước, được thực hiện theo quyết định, kế hoạch hoặc yêu cầu kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.

Hoạt động lấy mẫu, thử nghiệm này không bao gồm hoạt động khảo sát thông thường, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thị trường hoặc hoạt động lấy mẫu tự nguyện của tổ chức, cá nhân không nhằm mục đích kiểm tra, xử lý vi phạm hoặc áp dụng biện pháp quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6b. Hạ tầng chất lượng quốc gia

1. Hạ tầng chất lượng quốc gia là bộ phận cấu thành của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, công nhận và các chính sách, quy định có liên quan về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia gắn với định hướng phát triển bền vững, chuyển đổi số.

2. Phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia theo hướng tập trung, thống nhất, hiện đại và hội nhập quốc tế, dựa trên nền tảng công nghệ số, bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Thống nhất, đồng bộ hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp và kiểm tra chất lượng từ trung ương đến địa phương;

b) Kết nối, chia sẻ, khai thác hiệu quả các nguồn lực để phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia theo lộ trình và được đánh giá, báo cáo định kỳ. Việc chia sẻ dữ liệu được thực hiện định kỳ và đột xuất, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, chính xác để phục vụ công tác kiểm tra, cảnh báo và quản lý chất lượng trên phạm vi toàn quốc;

c) Phát triển tổ chức, mạng lưới chuyên gia và đội ngũ nhân lực về tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp đạt trình độ khu vực và quốc tế;

d) Ứng dụng công nghệ mới, xây dựng nền tảng số trong đánh giá sự phù hợp, thúc đẩy công nhận và thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp giữa Việt Nam và quốc tế;

đ) Xây dựng hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia giúp doanh nghiệp minh bạch thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cơ quan quản lý chủ động giám sát, kiểm tra và người dân tham gia cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

e) Tăng cường hội nhập quốc tế về đánh giá sự phù hợp, tham gia đầy đủ diễn đàn, chương trình công nhận khu vực, quốc tế để hỗ trợ xuất khẩu và mở rộng thị trường.

3. Nhà nước đầu tư và huy động nguồn lực trong nước, quốc tế để xây dựng hạ tầng chất lượng quốc gia, phát triển sản phẩm công nghiệp công nghệ chiến lược, sản phẩm có đặc tính mới, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm ứng dụng công nghệ cao và nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

4. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực xây dựng hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia, kết nối với dữ liệu hải quan, dữ liệu kiểm tra chất lượng, thông tin truy xuất nguồn gốc, phản ánh từ người tiêu dùng và cảnh báo quốc tế; bảo đảm năng lực theo dõi, cảnh báo sớm và ngăn chặn kịp thời sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Chương II Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Chương V Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Chương V GIẢI THƯỞNG CHẤT LƯỢNG QUỐC GIA

Điều 56. Mục đích

1. Giải thưởng chất lượng quốc gia là hình thức tôn vinh ở cấp quốc gia của Thủ tướng Chính phủ tặng cho sản phẩm, hàng hóa tiêu biểu của các tổ chức, doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2. Giải thưởng chất lượng quốc gia được xét tặng hằng năm.

3. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, quyết định danh sách tổ chức, doanh nghiệp được tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia.

Điều 57. Tiêu chí xét thưởng

1. Sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, doanh nghiệp tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia được đánh giá theo các tiêu chí sau đây:

a) Hiệu lực, hiệu quả của mô hình quản trị của tổ chức, doanh nghiệp (theo các khía cạnh về Lãnh đạo, Chiến lược, Khách hàng, Đo lường, Phân tích và Quản lý tri thức, Lực lượng lao động, Vận hành, Kết quả);

b) Chất lượng, mức độ tin cậy, sự vượt trội hoặc độc đáo của sản phẩm, hàng hóa.

2. Tổng điểm tối đa của các tiêu chí này là 1.000 điểm.

3. Nội dung chi tiết và cách thức đánh giá, cho điểm của từng tiêu chí và cách cho điểm đối với từng nội dung chi tiết của mỗi tiêu chí do Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn.

Điều 58. Hình thức giải thưởng

1. Giải thưởng chất lượng quốc gia được trao cho những sản phẩm, hàng hóa được phân theo nhóm ngành, lĩnh vực được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hằng năm, bao gồm 02 loại:

a) Giải Vàng chất lượng quốc gia (Vietnam Excellence);

b) Giải Bạc chất lượng quốc gia (Vietnam Best Quality).

2. Giải Bạc chất lượng quốc gia (Vietnam Best Quality) được tặng cho sản phẩm, hàng hóa đạt từ 600 điểm trở lên. Không hạn chế số lượng sản phẩm, hàng hóa được tặng Giải Bạc chất lượng quốc gia.

3. Giải Vàng chất lượng quốc gia (Vietnam Excellence) được tặng cho các sản phẩm, hàng hóa xuất sắc nhất trong ngành, lĩnh vực đăng ký tham dự hằng năm và đạt tối thiểu từ 800 điểm trở lên.

4. Tổ chức, doanh nghiệp đạt giải được nhận cúp, giấy chứng nhận danh hiệu và các hình thức khen thưởng khác theo quy định.

Điều 59. Điều kiện tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia

1. Tổ chức, doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, đã hoạt động liên tục tại Việt Nam tối thiểu 36 tháng tính đến thời điểm đăng ký tham dự; sản phẩm, hàng hóa đăng ký tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia phải được cung ứng ra thị trường tối thiểu 12 tháng tính đến thời điểm đăng ký tham dự.

2. Chấp hành các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp.

3. Không hạn chế số lần và thời gian tham dự của tổ chức, doanh nghiệp đã đạt Giải Bạc chất lượng quốc gia; tổ chức, doanh nghiệp đã đạt Giải Vàng chất lượng quốc gia, sau hai năm kể từ năm được tặng Giải Vàng chất lượng quốc gia được tiếp tục tham dự lại.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chi tiết mẫu cúp, biểu trưng, giấy chứng nhận của Giải thưởng chất lượng quốc gia.

Điều 60. Nguyên tắc xét thưởng

1. Không phân biệt đối xử giữa các loại hình, quy mô, không hạn chế số lượng các tổ chức, doanh nghiệp tham dự.

2. Việc xét thưởng phải bảo đảm công khai, khách quan và công bằng trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Điều 57 Nghị định này.

Điều 61. Cơ quan quản lý và điều hành giải thưởng

1. Bộ Khoa học và Công nghệ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Giải thưởng chất lượng, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Tổ chức triển khai Giải thưởng chất lượng quốc gia;

b) Phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tổ chức triển khai Giải thưởng chất lượng quốc gia và liên kết Giải thưởng chất lượng quốc gia với các chương trình quốc gia khác để hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp tham gia và đạt giải;

c) Thành lập Hội đồng quốc gia về Giải thưởng chất lượng quốc gia để triển khai xem xét, đánh giá các tổ chức, doanh nghiệp tham dự;

d) Lấy ý kiến Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố về những tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đủ điều kiện tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia;

đ) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định danh sách các tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đạt Giải thưởng chất lượng quốc gia hằng năm và cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức, doanh nghiệp đạt giải;

e) Báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình tổ chức và triển khai hoạt động về Giải thưởng chất lượng quốc gia hằng năm;

g) Thu hồi Giải thưởng chất lượng quốc gia đã tặng cho tổ chức, doanh nghiệp do có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình xét, tặng hoặc sau khi đạt giải;

h) Bảo đảm kinh phí tổ chức và triển khai hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia hằng năm từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

i) Chủ trì hoạt động hợp tác quốc tế về giải thưởng chất lượng; đại diện của Việt Nam tại các tổ chức khu vực và quốc tế về giải thưởng chất lượng;

k) Chủ trì, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương tuyên truyền, phổ biến, đưa tin về Giải thưởng chất lượng quốc gia;

l) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác liên quan đến Giải thưởng chất lượng quốc gia theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan thường trực Giải thưởng chất lượng quốc gia là Ủy ban Tiêu chuẩn đo lường chất lượng quốc gia, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Đề xuất các chương trình, dự án, hoạt động hợp tác trong và ngoài nước về Giải thưởng chất lượng quốc gia trình Bộ Khoa học và Công nghệ;

b) Chủ trì và phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai thực hiện các hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia;

c) Xây dựng nội dung chi tiết của từng tiêu chí, điểm số và cách thức đánh giá cho điểm đối với từng nội dung chi tiết của mỗi tiêu chí quy định tại Điều 57 Nghị định này; xây dựng và hướng dẫn thực hiện các văn bản, tài liệu nghiệp vụ về Giải thưởng chất lượng quốc gia;

d) Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện mô hình hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng hệ thống tiêu chí Giải thưởng chất lượng quốc gia;

đ) Đề nghị danh sách các thành viên Hội đồng quốc gia trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định;

e) Xây dựng, phát triển và bảo đảm đội ngũ chuyên gia đánh giá về Giải thưởng chất lượng quốc gia;

g) Phối hợp với Hội đồng quốc gia thực hiện xét tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia tổ chức xin ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc xét tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia;

h) Xây dựng và duy trì hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về Giải thưởng chất lượng quốc gia;

i) Tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và bảo đảm năng lực của chuyên gia đánh giá, thành viên Hội đồng quốc gia về Giải thưởng chất lượng quốc gia; đào tạo, hướng dẫn cho các tổ chức, doanh nghiệp tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia;

k) Thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền về Giải thưởng chất lượng quốc gia;

l) Tổ chức lễ trao giải cho các tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đạt giải;

m) Thực hiện hợp tác quốc tế về Giải thưởng chất lượng; là đại diện của Việt Nam tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế về Giải thưởng chất lượng theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đề cử tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải Vàng chất lượng quốc gia tham dự các Giải thưởng chất lượng quốc tế và khu vực;

n) Giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến Giải thưởng chất lượng quốc gia; báo cáo và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xử lý các vi phạm về Giải thưởng chất lượng quốc gia của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân khác có liên quan.

3. Các bộ, ngành, hội, hiệp hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Phối hợp triển khai hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia theo kế hoạch của Bộ Khoa học và Công nghệ;

b) Tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa thuộc lĩnh vực quản lý đăng ký tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia.

4. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chủ trì, triển khai các hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia tại địa phương, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức triển khai hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia hằng năm tại địa phương;

b) Bảo đảm kinh phí tổ chức và triển khai hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia hằng năm được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các hoạt động khác của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố;

c) Đề xuất nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình về Giải thưởng chất lượng quốc gia tại địa phương và báo cáo hoạt động hằng năm gửi Bộ Khoa học và Công nghệ;

d) Tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các tổ chức, doanh nghiệp tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia tại địa phương;

đ) Trả lời ý kiến về tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm hàng hóa được đề xuất tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia theo đề nghị của cơ quan thường trực Giải thưởng chất lượng quốc gia.

Điều 62. Thủ tục xét tặng

1. Giải thưởng chất lượng quốc gia được xét tặng thông qua Hội đồng quốc gia. Thành phần, cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn.

2. Thủ tục xét tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia bao gồm:

a) Đăng ký tham dự;

b) Xem xét, đánh giá, thẩm định của các nhóm chuyên gia và Hội đồng quốc gia;

c) Lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đối với tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm hàng hóa đủ điều kiện;

d) Thông báo kết quả xét tặng;

đ) Tổ chức Lễ trao Giải thưởng chất lượng quốc gia.

3. Quá trình xét tặng, mẫu hồ sơ, báo cáo do Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chi tiết.

Điều 63. Kinh phí hoạt động

1. Nguồn kinh phí tổ chức hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia được ngân sách nhà nước bảo đảm và bố trí trong dự toán chi sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ, tài trợ cho hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia.

2. Việc quản lý và sử dụng kinh phí cho hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn về quản lý tài chính.

3. Kinh phí từ ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán chi sự nghiệp khoa học và công nghệ bảo đảm tổ chức triển khai hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia bao gồm: hoạt động của hội đồng giải thưởng; xem xét, đánh giá trên hồ sơ và đánh giá tại chỗ tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia của hội đồng giải thưởng và chuyên gia đánh giá; họp báo công bố kết quả trao giải; tổ chức lễ trao giải; thông tin, tuyên truyền; tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho tổ chức, doanh nghiệp tham gia, thành viên hội đồng giải thưởng, chuyên gia đánh giá, xây dựng và duy trì hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu và các hoạt động khác liên quan trực tiếp đến công tác triển khai hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan quy định quản lý tài chính đối với việc tổ chức hoạt động Giải thưởng chất lượng quốc gia.

Điều 64. Quyền lợi của tổ chức, doanh nghiệp đạt giải

1. Các tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đạt Giải thưởng chất lượng quốc gia được phép thông báo, tuyên truyền, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức giới thiệu khác về đơn vị mình, được sử dụng biểu trưng của Giải thưởng chất lượng quốc gia trên sản phẩm, ấn phẩm của tổ chức, doanh nghiệp.

2. Tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đạt Giải vàng chất lượng quốc gia được Bộ Khoa học và Công nghệ đề cử tham dự các giải thưởng chất lượng khu vực và quốc tế.

3. Các tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đạt Giải được ưu tiên hỗ trợ từ Quỹ Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, các Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại các bộ, ngành, địa phương và các quỹ khác theo quy định của pháp luật.

4. Các tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa đạt giải được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định này.

5. Các tổ chức, doanh nghiệp đạt giải được các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố khen thưởng theo quy định.

Điều 65. Thu hồi, hủy bỏ kết quả đã trao tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia

1. Trong thời gian 03 năm, kể từ ngày tổ chức, doanh nghiệp đạt giải, nếu bị phát hiện có hành vi gian lận về hồ sơ trong quá trình tham dự Giải thưởng chất lượng quốc gia hoặc vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín của Giải thưởng chất lượng quốc gia thì cơ quan thường trực Giải thưởng chất lượng quốc gia căn cứ vào mức độ vi phạm của tổ chức, doanh nghiệp đạt giải để xem xét và kiến nghị việc thu hồi, hủy bỏ kết quả đã trao tặng và các quyền lợi liên quan.

2. Việc thu hồi, hủy bỏ kết quả đã trao tặng đối với tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải thưởng chất lượng quốc phải được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Việc xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm được thực hiện theo quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6c. Hỗ trợ nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong hạ tầng chất lượng quốc gia
...
2. Giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định như sau:
...
b) Điều kiện, tiêu chí, thủ tục xét tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia do Chính phủ quy định;
Điểm này được hướng dẫn bởi Chương V Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Chương III Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Chương III ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Mục 1. XÂY DỰNG VÀ ỨNG DỤNG NỀN TẢNG CÔNG NGHỆ TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 18. Ứng dụng công nghệ số để thu thập, lưu trữ và chia sẻ
...
Điều 19. Bảo đảm tính bảo mật và bảo vệ quyền lợi tổ chức, cá nhân tiêu dùng
...
Điều 20. Đánh giá và điều chỉnh chính sách
...
Mục 2. ỨNG DỤNG MÃ SỐ, MÃ VẠCH TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ TRUY XUẤT NGUỒN GỐC SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 21. Ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
...
Điều 22. Nguyên tắc thực hiện truy xuất nguồn gốc
...
Điều 23. Quy định hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu
...
Điều 24. Quản lý nhà nước về hoạt động mã số, mã vạch
...
Điều 25. Quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
...
Điều 26. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
...
Điều 27. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ, giải pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
...
Điều 28. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sử dụng mã số, mã vạch
...
Điều 29. Đăng ký quyền sử dụng mã số, mã vạch
...
Điều 30. Hình thức nộp hồ sơ
...
Điều 31. Trình tự, thủ tục cấp quyền sử dụng mã số, mã vạch
...
Mục 3. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỂ TRIỂN KHAI HỘ CHIẾU SỐ CỦA SẢN PHẨM VÀ NHÃN ĐIỆN TỬ HÀNG HÓA

Điều 32. Hộ chiếu số của sản phẩm và nhãn điện tử hàng hóa
...
Điều 33. Quản lý nhà nước về hộ chiếu số của sản phẩm
...
Điều 34. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa sử dụng hộ chiếu số của sản phẩm
...
PHỤ LỤC VII CÁC BIỂU MẪU
...
Mẫu số 5 ĐƠN ĐĂNG KÝ SỬ DỤNG MÃ SỐ, MÃ VẠCH
...
Mẫu số 6 QUYẾT ĐỊNH Về việc cấp quyền sử dụng mã số, mã vạch

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6đ. Ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa để bảo đảm minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, hàng hóa, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế.

2. Khuyến khích ứng dụng công nghệ trong các hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, kiểm tra, giám sát chất lượng và quản lý thông tin sản phẩm, hàng hóa, bao gồm:

a) Quản lý chuỗi cung ứng thông qua mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, nhãn điện tử và nền tảng số;

b) Thu thập, lưu trữ, phân tích dữ liệu phục vụ kiểm tra, kiểm tra sau lưu thông trên thị trường, thanh tra, cảnh báo và xử lý vi phạm;

c) Áp dụng hộ chiếu số của sản phẩm, nhãn điện tử và thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền;

d) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số tiên tiến trong các hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, kiểm tra, giám sát chất lượng và quản lý thông tin sản phẩm, hàng hóa.

3. Nhà nước có chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực phục vụ hoạt động ứng dụng công nghệ quy định tại Điều này.

4. Việc ứng dụng công nghệ số, nhãn điện tử, mã số, mã vạch và hệ thống truy xuất nguồn gốc phải bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu trong toàn bộ quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu; phải tuân thủ nguyên tắc về bảo mật thông tin, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Chương III Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 2 Chương VI Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Chương VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
...
Mục 2. ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Điều 71. Chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp và thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp

1. Tổ chức đánh giá sự phù hợp đã đăng ký hoạt động và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định theo quy định tại Nghị định này được tham gia hoạt động đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định tại Nghị định này. Việc chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp được thực hiện đối với trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định yêu cầu tổ chức đánh giá sự phù hợp phải được chỉ định.

2. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện việc thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng quy định tại khoản 1 Điều này đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc ngành, lĩnh vực được phân công theo yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm tổ chức được chỉ định đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật.

3. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm công bố công khai trên cơ sở dữ liệu của bộ quản lý ngành, lĩnh vực, địa phương, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và được cập nhật định kỳ trước ngày 25 hàng tháng, bảo đảm tính minh bạch để cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lựa chọn sử dụng:

a) Danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định;

b) Danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp đơn phương được bộ quản lý ngành, lĩnh vực được thừa nhận theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

4. Nguyên tắc ưu tiên, xem xét, sử dụng kết quả đánh giá sự phù hợp của cơ quan khác:

a) Trường hợp một bộ quản lý ngành, lĩnh vực đã đánh giá thực tế năng lực và chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khác có trách nhiệm xem xét, sử dụng kết quả đánh giá này trong phạm vi quản lý của mình;

b) Việc ưu tiên, xem xét, sử dụng kết quả đánh giá sự phù hợp phải bảo đảm nguyên tắc tuân thủ pháp luật, không chồng chéo, không làm phát sinh thủ tục hành chính và phù hợp với lĩnh vực chuyên ngành;

c) Trường hợp không đạt được sự thống nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan xem xét, đề xuất phương án xử lý thống nhất;

d) Trường hợp còn ý kiến khác nhau, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

5. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định có trách nhiệm duy trì năng lực, thực hiện đúng phạm vi, phương thức và yêu cầu kỹ thuật theo quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc pháp luật chuyên ngành; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

6. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xem xét, thực hiện chỉ định tổ chức chứng nhận theo quy định về trình tự, thủ tục tại Nghị định này đối với các quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCĐP) do mình ban hành và công bố công khai danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định.

Điều 72. Điều kiện chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp

1. Đối với tổ chức thử nghiệm:

a) Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trong đó có lĩnh vực thử nghiệm đăng ký chỉ định;

b) Phải được công nhận bởi tổ chức công nhận đã đăng ký hoạt động theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và lĩnh vực được phân công quản lý quy định phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của ngành, bộ quản lý ngành (nếu có) đối với phạm vi đăng ký chỉ định thử nghiệm;

c) Có kết quả tham gia thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đạt yêu cầu đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định;

d) Có tối thiểu 06 thử nghiệm viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ không xác định thời hạn), có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực thử nghiệm đăng ký chỉ định.

2. Đối với tổ chức chứng nhận, tổ chức kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng

a) Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; phải được công nhận đối với phạm vi đăng ký chỉ định.

b) Đối với tổ chức chứng nhận:

Có tối thiểu 06 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức (viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ không xác định thời hạn);

Có kinh nghiệm đánh giá tối thiểu 20 ngày công đối với sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định.

Đối với các chương trình chứng nhận hệ thống quản lý mới, chuyên gia phải có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 20 ngày công đối với chương trình chứng nhận các hệ thống quản lý khác có cùng bản chất, logic hoặc thuộc cùng một lĩnh vực hoặc có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 05 ngày công đối với chương trình chứng nhận đăng ký. Cụ thể:

Đối với chương trình chứng nhận sản phẩm mới, sản phẩm đăng ký bổ sung hoạt động chứng nhận, chuyên gia phải có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 05 ngày công đối với các sản phẩm có cùng chủng loại (sản phẩm có mục đích sử dụng tương tự hoặc thuộc cùng nhóm phân loại theo mã HS, mã ngành sản phẩm hoặc theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng), cùng công nghệ (sản phẩm có quy trình sản xuất, vật liệu cấu thành, cấu trúc kỹ thuật hoặc nguyên lý hoạt động tương đồng).

Trường hợp chuyên gia sử dụng kinh nghiệm đánh giá đối với chương trình chứng nhận các hệ thống quản lý khác để thay thế thì các hệ thống quản lý này phải được xác định là có cùng bản chất, logic hoặc thuộc cùng một lĩnh vực, đáp ứng theo một trong các tiêu chí sau đây:

Hệ thống quản lý được xây dựng theo cùng cấu trúc tiêu chuẩn do Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) ban hành;

Hệ thống quản lý có cùng lĩnh vực chuyên ngành, phạm vi quản lý như nhóm hệ thống quản lý chất lượng, nhóm hệ thống quản lý môi trường, nhóm hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, nhóm hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, nhóm hệ thống quản lý an toàn thông tin;

Hệ thống quản lý có mục tiêu quản lý tương đồng, được quốc tế thừa nhận trong các văn bản hướng dẫn của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF), Tổ chức Công nhận các phòng thử nghiệm Quốc tế (ILAC) hoặc các tổ chức hợp tác công nhận khu vực, quốc tế khác.

c) Đối với tổ chức kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng

Có tối thiểu 06 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức (viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ không xác định thời hạn);

Có kinh nghiệm đánh giá tối thiểu 10 ngày công đối với lĩnh vực kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng đăng ký chỉ định.

3. Đối với tổ chức giám định

a) Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giám định theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trong đó có lĩnh vực giám định đăng ký chỉ định;

b) Phải được công nhận bởi tổ chức công nhận đã đăng ký hoạt động theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với phạm vi đăng ký chỉ định giám định;

c) Có tối thiểu 06 giám định viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ không xác định thời hạn), đáp ứng điều kiện: có kinh nghiệm tối thiểu 02 năm trực tiếp thực hiện giám định đối tượng phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, với tối thiểu 20 ngày công giám định đã được xác nhận bởi tổ chức giám định.

Điều 73. Hồ sơ đăng ký chỉ định

1. Trường hợp chỉ định lần đầu, hồ sơ gồm:

a) Đơn đăng ký chỉ định hoạt động đánh giá sự phù hợp theo quy định tại Mẫu số 4 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng;

c) Bản sao Chứng chỉ công nhận của tổ chức công nhận đối với phạm vi đăng ký chỉ định tương ứng;

d) Danh sách thử nghiệm viên, chuyên gia đánh giá, giám định viên theo quy định tại Mẫu số 7 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này có bản sao chứng chỉ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ;

đ) Danh mục tài liệu kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình, thủ tục thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng tương ứng theo quy định tại Mẫu số 8 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này, có bản sao Quy trình, thủ tục thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng tương ứng với sản phẩm, hàng hóa, quá trình, môi trường đăng ký chỉ định kèm theo;

e) Danh mục máy móc, thiết bị thử nghiệm đối với lĩnh vực đăng ký chỉ định (đối với tổ chức thử nghiệm) theo quy định tại Mẫu số 9 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này, có bản sao Giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn còn hiệu lực, bằng chứng sở hữu hoặc thuê dài hạn thiết bị thử nghiệm kèm theo;

g) Bản sao kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định với ít nhất 02 tổ chức thử nghiệm khác được chỉ định hoặc được công nhận theo tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17025 hoặc ISO/IEC 17025 (đối với tổ chức thử nghiệm).

2. Trường hợp chỉ định thử nghiệm tạm thời

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định việc chỉ định tạm thời tổ chức thử nghiệm để phục vụ nhu cầu thử nghiệm các chỉ tiêu mới và chịu trách nhiệm về quyết định chỉ định tạm thời tổ chức thử nghiệm. Quyết định chỉ định tạm thời có hiệu lực 06 tháng kể từ ngày ký. Hồ sơ gồm:

a) Đơn đăng ký chỉ định hoạt động đánh giá sự phù hợp theo quy định tại Mẫu số 4 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Bản sao Quyết định chỉ định tổ chức thử nghiệm đã cấp;

c) Hồ sơ phương pháp thử, xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp thử nghiệm và chất chuẩn để kiểm soát chất lượng thử nghiệm.

3. Trường hợp thay đổi, bổ sung, thu hẹp phạm vi, lĩnh vực được chỉ định, hồ sơ gồm:

a) Đơn đăng ký thay đổi, bổ sung, thu hẹp phạm vi, lĩnh vực được chỉ định; mở rộng thêm cơ sở, địa điểm thực hiện đánh giá sự phù hợp theo quy định tại Mẫu số 11 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng; bản sao Quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp;

c) Danh sách thử nghiệm viên, giám định viên, chuyên gia đánh giá đối với phạm vi, lĩnh vực đăng ký thay đổi, bổ sung theo quy định tại Mẫu số 7 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này, có bản sao Chứng chỉ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ kèm theo;

d) Danh mục tài liệu kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng tương ứng đối với phạm vi, lĩnh vực đăng ký thay đổi, bổ sung theo quy định tại Mẫu số 8 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này có bản sao Quy trình, thủ tục thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng tương ứng kèm theo;

đ) Danh mục máy móc, thiết bị thử nghiệm đối với phạm vi, lĩnh vực đăng ký thay đổi, bổ sung (đối với tổ chức thử nghiệm) theo quy định tại Mẫu số 9 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này, có bản sao Giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm còn hiệu lực kèm theo;

e) Bản sao Chứng chỉ công nhận năng lực thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng do tổ chức công nhận hợp pháp cấp đối với phạm vi, lĩnh vực đăng ký thay đổi, bổ sung;

g) Bản sao kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký thay đổi, bổ sung được chỉ định hoặc được công nhận theo tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17025 hoặc ISO/IEC 17025 (đối với tổ chức thử nghiệm).

4. Trường hợp cấp lại đối với tổ chức đánh giá sự phù hợp có Quyết định chỉ định còn hiệu lực nhưng bị mất, thất lạc, hư hỏng hoặc thay đổi tên, địa chỉ

a) Trường hợp đề nghị cấp lại do thay đổi tên hoặc địa chỉ, tổ chức, cá nhân phải nộp bổ sung tài liệu chứng minh việc thay đổi, bao gồm: Đơn đề nghị cấp lại quyết định chỉ định theo quy định tại Mẫu số 12 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này; bản sao giấy tờ pháp lý thể hiện việc thay đổi tên hoặc địa chỉ, gồm một trong các giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, hoặc giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp đề nghị cấp lại do bị mất, thất lạc, hư hỏng, hồ sơ gồm: Đơn đề nghị cấp lại quyết định chỉ định theo quy định tại Mẫu số 12 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này.

5. Trước khi quyết định chỉ định hết thời hạn hiệu lực, trong thời hạn 60 ngày, nếu có nhu cầu, tổ chức đánh giá sự phù hợp phải lập hồ sơ như đối với trường hợp chỉ định lần đầu quy định tại khoản 1 Điều này. Riêng đối với tổ chức thử nghiệm đã được chỉ định, trong hồ sơ đăng ký chỉ định phải nộp kèm theo tài liệu chứng minh đã tham gia chương trình thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng ít nhất một lần đối với lĩnh vực thử nghiệm đã được chỉ định.

Điều 74. Hình thức nộp hồ sơ

Tổ chức đánh giá sự phù hợp khi có nhu cầu tham gia hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực cụ thể lập 01 bộ hồ sơ đăng ký chỉ định, nộp theo hình thức dịch vụ công trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia (sau đây viết tắt là cơ quan chỉ định).

Trường hợp Cổng dịch vụ công quốc gia bị lỗi hoặc thủ tục hành chính này chưa hoàn thiện hạ tầng Dịch vụ công trực tuyến, tổ chức đánh giá sự phù hợp nộp hồ sơ bản giấy theo quy định tại Nghị định này theo hình thức nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Điều 75. Trình tự, thủ tục chỉ định

1. Trường hợp chỉ định lần đầu, chỉ định tạm thời, thay đổi, bổ sung phạm vi, lĩnh vực chỉ định và quyết định chỉ định hết thời hạn hiệu lực:

a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký, nếu hồ sơ không đầy đủ, hợp lệ theo quy định, cơ quan chỉ định thông báo yêu cầu tổ chức đánh giá sự phù hợp sửa đổi, bổ sung hồ sơ;

b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chỉ định quyết định thực hiện đánh giá năng lực thực tế của tổ chức đánh giá sự phù hợp trên cơ sở các tiêu chí về nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống quản lý chất lượng, kết quả hoạt động và việc tuân thủ pháp luật của tổ chức đánh giá sự phù hợp. Việc đánh giá thực tế thông qua việc cử chuyên gia hoặc thành lập đoàn đánh giá. Nội dung đánh giá thực tế theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

Trường hợp tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được bộ quản lý ngành, lĩnh vực khác đánh giá năng lực và đã có quyết định được chỉ định thì khi thực hiện đánh giá thực tế, cơ quan chỉ định thừa nhận kết quả đánh giá hệ thống quản lý chất lượng tương ứng đối với loại hình tổ chức đánh giá sự phù hợp. Việc thừa nhận kết quả đánh giá chỉ có giá trị trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành kết quả đánh giá gần nhất.

Trường hợp chỉ định tạm thời, thay đổi, bổ sung, thu hẹp nếu hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ, cơ quan chỉ định tiến hành thẩm xét hồ sơ, không tổ chức đánh giá năng lực thực tế. Trường hợp hồ sơ đăng ký đầy đủ nhưng có nội dung không phù hợp hoặc có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc có thông tin, phản ánh về dấu hiệu vi phạm liên quan đến hồ sơ thì cơ quan chỉ định tổ chức đánh giá năng lực thực tế tại tổ chức đánh giá sự phù hợp.

Việc đánh giá năng lực thực tế tại tổ chức đánh giá sự phù hợp phải được thông báo bằng văn bản cho tổ chức đánh giá sự phù hợp đã nộp hồ sơ đăng ký biết. Chuyên gia hoặc ít nhất 01 thành viên đoàn đánh giá năng lực thực tế phải được đào tạo về hệ thống quản lý chất lượng tương ứng với từng loại hình tổ chức đánh giá sự phù hợp đăng ký chỉ định. Kết thúc việc đánh giá, chuyên gia hoặc đoàn đánh giá do cơ quan chỉ định thành lập phải ký biên bản đánh giá thực tế và gửi biên bản về cơ quan chỉ định trong vòng 05 ngày.

Trường hợp, tổ chức đánh giá sự phù hợp phải khắc phục các nội dung quy định trong biên bản đánh giá thực tế, trong thời hạn không quá 30 ngày, tổ chức đánh giá sự phù hợp phải gửi báo cáo kết quả hành động khắc phục về cơ quan chỉ định. Trường hợp các nội dung cần khắc phục phải kéo dài thêm thời hạn thì tổ chức đánh giá sự phù hợp báo cáo với cơ quan chỉ định bằng văn bản và nêu rõ thời hạn chính thức hoàn thành việc khắc phục các nội dung trên, thời gian phải gửi báo cáo kết quả hành động khắc phục về cơ quan chỉ định tối đa không quá 06 tháng.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả hành động khắc phục theo biên bản đánh giá thực tế, nếu tổ chức đánh giá sự phù hợp đáp ứng yêu cầu theo quy định, cơ quan chỉ định ban hành quyết định chỉ định cho tổ chức đánh giá sự phù hợp theo quy định tại Mẫu số 10 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này. Căn cứ năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp, bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định, nhưng không quá 05 năm kể từ ngày ký ban hành. Trong trường hợp từ chối việc chỉ định, cơ quan chỉ định phải thông báo lý do bằng văn bản cho tổ chức đánh giá sự phù hợp.

c) Nội dung đánh giá thực tế:

Mức độ tuân thủ quy định của pháp luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, pháp luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, cũng như các quy định quản lý chuyên ngành có liên quan của tổ chức đánh giá sự phù hợp, được đánh giá theo các nội dung sau:

Đối với tổ chức đề nghị chỉ định lần đầu: Đánh giá việc đáp ứng điều kiện năng lực, hệ thống quản lý và sự phù hợp của hồ sơ pháp lý theo quy định của pháp luật; không đánh giá nội dung tuân thủ trong hoạt động đánh giá sự phù hợp do chưa phát sinh hoạt động.

Đối với tổ chức đang hoạt động, đề nghị chỉ định lại hoặc mở rộng phạm vi chỉ định: Đánh giá việc tuân thủ pháp luật dựa trên các tài liệu sau: Báo cáo kết quả hoạt động đánh giá sự phù hợp của tổ chức trong thời hạn 03 năm gần nhất hoặc trong thời gian hoạt động nếu thời gian hoạt động dưới 03 năm; hồ sơ xử lý vi phạm (nếu có); kết quả giám sát của cơ quan quản lý và cơ quan công nhận (nếu có).

Xác minh tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ đăng ký chỉ định do tổ chức đánh giá sự phù hợp cung cấp. Ngoài ra, đối với tổ chức thử nghiệm, xác thực hiện trạng cơ sở vật chất, thử nghiệm viên, trang thiết bị thử nghiệm và kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật đối với các phương pháp thử tương ứng.

Chi phí phục vụ hoạt động đánh giá của chuyên gia hoặc đoàn đánh giá do tổ chức đánh giá sự phù hợp đăng ký chỉ định bảo đảm theo nguyên tắc công khai, minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật về tài chính. Danh mục chi phí phục vụ hoạt động đánh giá bao gồm chi phí đi lại, lưu trú, chi phí thuê chuyên gia (nếu có), chi phí thực hiện đánh giá tại cơ sở và các chi phí hợp lệ khác theo quy định của Bộ Tài chính và pháp luật chuyên ngành. Việc xác định mức chi thực hiện theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành.

2. Trường hợp cấp lại quyết định chỉ định:

Trong thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định, tổ chức đánh giá sự phù hợp có nhu cầu đăng ký cấp lại quyết định chỉ định, lập 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại theo quy định tại Điều 73 Nghị định này và nộp theo hình thức dịch vụ công trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan chỉ định xem xét, cấp lại quyết định chỉ định. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, cơ quan chỉ định trả lời và nêu rõ lý do.

Trường hợp cấp lại quyết định chỉ định khi quyết định chỉ định bị mất, rách, hỏng hoặc sai sót thông tin nhưng không làm thay đổi năng lực, phạm vi hoạt động của tổ chức đánh giá sự phù hợp. Quyết định chỉ định cấp lại giữ nguyên thời hạn hiệu lực còn lại của quyết định chỉ định đã được cấp.

3. Trường hợp tổ chức đánh giá sự phù hợp đề nghị thay đổi thông tin, bổ sung phạm vi hoặc lĩnh vực hoạt động, bộ quản lý ngành, lĩnh vực xem xét năng lực tương ứng để quyết định thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định, nhưng không quá 05 năm kể từ ngày ký ban hành.

4. Trước khi quyết định chỉ định hết thời hạn hiệu lực 60 ngày, nếu có nhu cầu, tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện thủ tục đề nghị chỉ định lại theo quy định tại Nghị định này như chỉ định lần đầu.

5. Trường hợp tổ chức đánh giá sự phù hợp có thay đổi về năng lực liên quan đến nhân sự kỹ thuật, thiết bị, quy trình hoặc hệ thống quản lý chất lượng trong quá trình hoạt động, tổ chức phải thông báo bằng văn bản đến bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Hồ sơ thông báo bao gồm:

a) Văn bản nêu rõ nội dung thay đổi;

b) Tài liệu chứng minh năng lực sau thay đổi (hồ sơ nhân sự, hồ sơ thiết bị, quy trình cập nhật);

c) Báo cáo đánh giá nội bộ về tác động của sự thay đổi;

d) Các tài liệu khác theo yêu cầu của bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực xem xét hồ sơ, đánh giá sự phù hợp của thay đổi (đánh giá thực tế nếu cần) và quyết định việc chấp thuận thay đổi, điều chỉnh phạm vi chỉ định hoặc yêu cầu tổ chức đánh giá sự phù hợp khắc phục. Việc đánh giá và cập nhật thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 76. Thu hồi quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp

1. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực xem xét, quyết định thu hồi quyết định chỉ định trong trường hợp tổ chức đánh giá sự phù hợp vi phạm một trong các trường hợp sau:

a) Vi phạm 02 lần liên tiếp các quy định về đánh giá sự phù hợp theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các quy định tại Nghị định này;

b) Không thực hiện đầy đủ trách nhiệm tương ứng quy định tại Điều 77 Nghị định này trong 02 năm liên tiếp;

c) Không bảo đảm một trong các điều kiện tương ứng đối với tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định theo quy định tại Nghị định này;

d) Giả mạo hoặc khai man các tài liệu trong hồ sơ đăng ký chỉ định; cấp khống kết quả đánh giá sự phù hợp;

đ) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung trên quyết định chỉ định được cấp;

e) Không thực hiện khắc phục các vi phạm theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm tra;

g) Tổ chức đánh giá sự phù hợp không còn hoạt động trong phạm vi đã được chỉ định, bị giải thể, thu hồi quyết định theo đề nghị của tổ chức đánh giá sự phù hợp.

2. Tổ chức đánh giá sự phù hợp đã bị thu hồi quyết định chỉ định chỉ được xem xét hồ sơ đăng ký chỉ định tối thiểu sau 06 tháng, kể từ khi có thông báo thu hồi quyết định chỉ định và đã khắc phục các vi phạm.

3. Trình tự, thủ tục thu hồi quyết định chỉ định được thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi quyết định chỉ định, trong đó nêu rõ lý do thu hồi;

b) Quyết định thu hồi phải được gửi cho tổ chức liên quan và công bố trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

4. Trường hợp lý do thu hồi đồng thời là hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cơ quan có thẩm quyền thực hiện:

a) Ban hành quyết định thu hồi quyết định chỉ định;

b) Chuyển hồ sơ cho cơ quan thanh tra để xử lý, xử phạt vi phạm hành chính theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

5. Trường hợp lý do thu hồi không phải là hành vi vi phạm hành chính (tổ chức tự nguyện rút, không duy trì năng lực sau chu kỳ đánh giá,...) thì cơ quan có thẩm quyền chỉ ban hành quyết định thu hồi, không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 77. Trách nhiệm của tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định

1. Thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Trường hợp vi phạm quy định của Nghị định này hoặc quy định pháp luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thì tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với tổ chức thử nghiệm đã được chỉ định, trong thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định, phải tham gia chương trình thử nghiệm thành thạo, so sánh liên phòng ít nhất một lần đối với lĩnh vực thử nghiệm và sản phẩm, hàng hóa đã được chỉ định.

2. Định kỳ hàng quý trước ngày 25 hoặc đột xuất khi có yêu cầu, cập nhật kết quả hoạt động đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định theo quy định tại Mẫu số 13 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

3. Thông báo cho cơ quan chỉ định về mọi thay đổi có ảnh hưởng tới năng lực hoạt động đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có sự thay đổi.
...
PHỤ LỤC VI PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO

PHỤ LỤC VII CÁC BIỂU MẪU
...
Mẫu số 7 DANH SÁCH THỬ NGHIỆM VIÊN/CHUYÊN GIA ĐÁNH GIÁ/GIÁM ĐỊNH VIÊN
...
Mẫu số 8 DANH MỤC TÀI LIỆU KỸ THUẬT, TIÊU CHUẨN VÀ QUY TRÌNH, THỦ TỤC THỬ NGHIỆM/GIÁM ĐỊNH/CHỨNG NHẬN/XÁC NHẬN GIÁ TRỊ SỬ DỤNG/KIỂM TRA XÁC NHẬN
...
Mẫu số 9 DANH MỤC MÁY MÓC, THIẾT BỊ PHỤC VỤ THỬ NGHIỆM
...
Mẫu số 10 QUYẾT ĐỊNH Về việc chỉ định tổ chức thử nghiệm/giám định/chứng nhận/kiểm tra xác nhận/xác nhận giá trị sử dụng
...
Mẫu số 11 ĐƠN ĐĂNG KÝ THAY ĐỔI/BỔ SUNG PHẠM VI/LĨNH VỰC ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH
...
Mẫu số 12 ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP LẠI QUYẾT ĐỊNH CHỈ ĐỊNH

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
16. Sửa đổi, bổ sung Điều 23; bổ sung Điều 23a và Điều 23b vào sau Điều 23 như sau:
...
Điều 23b. Chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp, thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp

1. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định là tổ chức đánh giá sự phù hợp đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Hệ thống quản lý được công nhận phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế tương ứng theo quy định của pháp luật;

b) Có kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đạt yêu cầu đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định thử nghiệm đối với tổ chức thử nghiệm;

c) Đăng ký hoạt động chỉ định với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

2. Việc chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp dựa trên cơ sở đánh giá tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ, năng lực kỹ thuật, khả năng duy trì điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này và nhu cầu phục vụ quản lý nhà nước trong từng thời kỳ.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ quyết định chỉ định và công khai danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và được cập nhật định kỳ, bảo đảm tính minh bạch.

4. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định phải chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất của cơ quan nhà nước để bảo đảm duy trì điều kiện hoạt động và chất lượng kết quả đánh giá.

5. Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định nếu vi phạm quy định của pháp luật, tùy mức độ vi phạm, tổ chức đánh giá sự phù hợp sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét, quyết định thu hồi quyết định chỉ định trong trường hợp tổ chức đánh giá sự phù hợp vi phạm quy định về hoạt động đánh giá sự phù hợp được chỉ định.

6. Nhà nước khuyến khích tổ chức đánh giá sự phù hợp tham gia phục vụ quản lý nhà nước. Việc chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện trên nguyên tắc minh bạch, không trùng lặp, chồng chéo cạnh tranh, bảo đảm chất lượng và hiệu quả quản lý.

7. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ ưu tiên xem xét, sử dụng kết quả đánh giá, kiểm tra của cơ quan khác khi thực hiện đánh giá tổ chức đánh giá sự phù hợp đăng ký hoạt động chỉ định, bảo đảm công khai, không trùng lặp, chồng chéo và tuân thủ quy định của pháp luật liên quan.

8. Quy định về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp phục vụ quản lý nhà nước thực hiện theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 2 Chương VI Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 82 đến Điều 86 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 82. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu

1. Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân nhập khẩu không phải thực hiện kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu nhưng phải thực hiện công bố hợp quy phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng hoặc thực hiện biện pháp quản lý chất lượng được quy định tại luật khác có liên quan theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 70/2025/QH15. Việc công bố hợp quy thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

2. Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện đăng ký kiểm tra chất lượng theo quy định tại Điều 83 Nghị định này.

3. Đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao đã được cấp giấy phép lưu hành hoặc đã thực hiện một biện pháp quản lý chất lượng tương ứng nêu trong danh mục theo quy định của pháp luật chuyên ngành, thì không cần thực hiện việc kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Điều 83. Trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao

1. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu đã có Giấy chứng nhận hợp quy

a) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu thực hiện đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi tắt là cơ quan kiểm tra). Hồ sơ đăng ký gồm:

Đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo Mẫu số 1 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;

Giấy chứng nhận hợp quy do tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định cấp, trong đó có các thông tin liên quan đến hàng hóa nhập khẩu. Trường hợp Giấy chứng nhận hợp quy cấp cho lô hàng, phải có các thông tin liên quan đến lô hàng nhập khẩu (tên hàng hóa; nhãn hiệu, kiểu loại; đặc tính kỹ thuật; xuất xứ, nhà sản xuất; khối lượng/số lượng; tờ khai hàng hóa nhập khẩu; hóa đơn);

Ảnh hoặc bản mô tả đặc tính hàng hóa kèm theo các nội dung của nhãn chính (đối với hàng hóa phải ghi nhãn);

Mẫu nhãn phụ (nếu nhãn chính chưa đủ nội dung theo quy định) đối với hàng hóa phải ghi nhãn.

Trường hợp sử dụng nhãn điện tử, việc ghi nhãn phải đáp ứng quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ nhập khẩu.

b) Cơ quan kiểm tra thực hiện kiểm tra và xử lý theo trình tự sau:

Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo Mẫu số 2 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, cơ quan kiểm tra xác nhận các nội dung còn thiếu, đồng thời xác nhận việc tổ chức, cá nhân nhập khẩu đã đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu trên bản đăng ký kiểm tra và yêu cầu tổ chức, cá nhân nhập khẩu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. Nếu quá thời hạn nêu trên mà hồ sơ vẫn chưa được bổ sung đầy đủ, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải có văn bản gửi cơ quan kiểm tra nêu rõ lý do và thời gian dự kiến hoàn thành việc bổ sung hồ sơ.

Các bước kiểm tra tiếp theo chỉ được thực hiện sau khi tổ chức, cá nhân nhập khẩu hoàn thiện đầy đủ hồ sơ. Trình tự thực hiện như sau:

Trường hợp hồ sơ đầy đủ và phù hợp: Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan kiểm tra ra Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu đáp ứng yêu cầu chất lượng theo Mẫu số 3 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này, gửi cho tổ chức, cá nhân nhập khẩu để thực hiện thủ tục thông quan;

Trường hợp hồ sơ đầy đủ nhưng không đáp ứng yêu cầu về nhãn: Cơ quan kiểm tra yêu cầu tổ chức, cá nhân nhập khẩu khắc phục trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc. Cơ quan kiểm tra chỉ ra Thông báo lô hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng khi có bằng chứng chứng minh việc khắc phục về nhãn theo quy định. Trường hợp không khắc phục được, cơ quan kiểm tra ra Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu về nhãn theo Mẫu số 3 Phụ lục VII;

Trường hợp hồ sơ đầy đủ nhưng Giấy chứng nhận hợp quy không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc không phù hợp với hồ sơ của lô hàng nhập khẩu: Cơ quan kiểm tra ra Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu chất lượng, nêu rõ các nội dung không phù hợp và gửi cho tổ chức, cá nhân nhập khẩu và cơ quan hải quan để xử lý theo thẩm quyền;

Trường hợp tổ chức, cá nhân nhập khẩu không hoàn thiện đầy đủ hồ sơ trong thời hạn quy định: Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi hết thời hạn bổ sung hồ sơ, cơ quan kiểm tra ra Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo Mẫu số 3 Phụ lục VII, trong đó ghi rõ: “Lô hàng không hoàn thiện đầy đủ hồ sơ”, gửi cho tổ chức, cá nhân nhập khẩu và cơ quan hải quan;

Trường hợp phát hiện dấu hiệu rủi ro, gian lận hoặc thông tin không thống nhất giữa hồ sơ và dữ liệu quản lý, cơ quan kiểm tra ban hành Thông báo kết quả kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu theo Mẫu số 3 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu chưa có Giấy chứng nhận hợp quy

a) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu thực hiện đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi tắt là cơ quan kiểm tra). Hồ sơ đăng ký gồm: đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo Mẫu số 1 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này; ảnh hoặc bản mô tả đặc tính hàng hóa kèm theo các nội dung của nhãn chính (đối với hàng hóa phải ghi nhãn); mẫu nhãn phụ (nếu nhãn chính chưa đủ nội dung theo quy định) đối với hàng hóa phải ghi nhãn.

Trường hợp sử dụng nhãn điện tử, việc ghi nhãn phải đáp ứng quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ nhập khẩu.

b) Cơ quan kiểm tra thực hiện kiểm tra và xử lý theo trình tự sau:

Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo Mẫu số 2 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, cơ quan kiểm tra xác nhận các nội dung còn thiếu, đồng thời xác nhận việc tổ chức, cá nhân nhập khẩu đã đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và yêu cầu tổ chức, cá nhân nhập khẩu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

Nếu quá thời hạn nêu trên mà hồ sơ vẫn chưa được bổ sung đầy đủ, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải có văn bản gửi cơ quan kiểm tra nêu rõ lý do và thời gian dự kiến hoàn thành việc bổ sung hồ sơ.

Tổ chức, cá nhân làm thủ tục với cơ quan hải quan để đưa hàng hóa nhập khẩu về địa điểm bảo quản hàng hóa theo quy định của pháp luật hải quan.

Tổ chức, cá nhân liên hệ với tổ chức chứng nhận được chỉ định để thực hiện đánh giá phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

Các bước kiểm tra tiếp theo chỉ được thực hiện sau khi tổ chức, cá nhân nhập khẩu hoàn thiện đầy đủ hồ sơ. Trình tự thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Nguyên tắc áp dụng đối với việc đưa hàng hóa về địa điểm bảo quản

Việc cho phép đưa hàng hóa nhập khẩu về địa điểm bảo quản quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được áp dụng thống nhất đối với các trường hợp hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện kiểm tra chất lượng, bảo đảm phù hợp với pháp luật về hải quan, nguyên tắc quản lý rủi ro và không làm phát sinh thủ tục hành chính mới.

4. Thủ tục đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia.

Trường hợp các hệ thống này gặp sự cố hoặc trường hợp bất khả kháng khiến không thể trao đổi thông tin điện tử, việc xử lý được thực hiện theo Điều 17 Nghị định số 85/2019/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

5. Hàng hóa có mức độ rủi ro cao nhập khẩu được phép thông quan và lưu thông trên thị trường sau khi cơ quan kiểm tra ra Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu đáp ứng yêu cầu chất lượng, đồng thời chịu sự kiểm tra chất lượng theo Điều 88 của Nghị định này.

6. Việc thử nghiệm chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao được thực hiện tại tổ chức thử nghiệm được chỉ định theo quy định của pháp luật. Kết quả thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm chỉ định là căn cứ để đánh giá phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

Trường hợp phương pháp thử tương ứng chưa được quy định, chưa thống nhất hoặc chưa có tổ chức thử nghiệm được chỉ định, Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định phương pháp thử tạm thời để áp dụng cho đến khi ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc chỉ định tổ chức thử nghiệm phù hợp.

Điều 84. Tăng cường tần suất kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu

1. Hàng hóa nhập khẩu quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15, phải áp dụng biện pháp kiểm tra tăng cường khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hàng hóa đã được áp dụng biện pháp miễn, giảm kiểm tra chất lượng theo quy định tại Điều 86 Nghị định này nhưng khi kiểm tra lưu thông trên thị trường có kết quả không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng;

b) Hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thuộc danh sách cảnh báo có mức độ rủi ro cao về chất lượng do cơ quan có thẩm quyền công bố;

c) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu có lịch sử vi phạm nhiều lần quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo đánh giá của cơ quan kiểm tra.

2. Tăng cường tần suất kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao thực hiện như sau:

a) Cơ quan kiểm tra thuộc bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm:

Theo dõi, tổng hợp, cập nhật và công bố danh sách quốc gia, vùng lãnh thổ bị cảnh báo có mức độ rủi ro cao về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu trên Cổng thông tin một cửa quốc gia hoặc hệ thống thông tin chuyên ngành theo quy định;

Thu thập, quản lý và cập nhật thông tin về lịch sử tuân thủ của tổ chức, cá nhân nhập khẩu để phục vụ việc phân loại mức độ rủi ro trong kiểm tra chất lượng;

Tổ chức thực hiện biện pháp tăng cường tần suất kiểm tra đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại Điều này và các quy định có liên quan.

Tổng hợp các thông tin tại khoản này để xác định, công bố, cập nhật danh sách tổ chức, cá nhân không được tiếp tục áp dụng chế độ giảm kiểm tra trên hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Trường hợp các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sử dụng hệ thống thông tin chuyên ngành hoặc Cổng thông tin một cửa quốc gia thì các hệ thống này phải được kết nối, chia sẻ dữ liệu tự động với hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia, bảo đảm dữ liệu thống nhất, không trùng lặp.

b) Cơ quan hải quan thực hiện thông quan hàng hóa trên cơ sở tra cứu, sử dụng thông tin, dữ liệu về danh sách tổ chức, cá nhân không được tiếp tục áp dụng chế độ giảm kiểm tra trên hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia;

c) Việc áp dụng tăng cường tần suất kiểm tra không được làm phát sinh thủ tục hành chính mới và bảo đảm không kéo dài thời gian thông quan, trừ trường hợp phải áp dụng biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 85. Xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao

1. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu đã có giấy chứng nhận hợp quy còn hiệu lực nhưng không đáp ứng yêu cầu về nhãn hàng hóa hoặc dấu hợp quy, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa yêu cầu tổ chức, cá nhân nhập khẩu thực hiện biện pháp khắc phục.

Việc cấp Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu đáp ứng yêu cầu chất lượng chỉ được thực hiện sau khi người nhập khẩu cung cấp đầy đủ bằng chứng khắc phục và giấy chứng nhận hợp quy của lô hàng.

2. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu có giấy chứng nhận hợp quy không phù hợp với hồ sơ của lô hàng nhập khẩu hoặc không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, cơ quan kiểm tra xử lý theo quy định của pháp luật và phối hợp với cơ quan hải quan xử lý theo thẩm quyền khi có yêu cầu.

3. Đối với hàng hóa vi phạm có biện pháp khắc phục hậu quả là tái chế:

a) Tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện đánh giá sự phù hợp đối với lô hàng sau tái chế;

b) Trường hợp lô hàng sau tái chế có kết quả phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, cơ quan kiểm tra ban hành Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu đáp ứng yêu cầu chất lượng để người nhập khẩu thực hiện thủ tục thông quan;

c) Trường hợp lô hàng sau tái chế không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, cơ quan kiểm tra ban hành Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu chất lượng và gửi cho người nhập khẩu, cơ quan hải quan để xử lý theo quy định.

4. Người nhập khẩu có trách nhiệm gửi bằng chứng khắc phục hậu quả cho cơ quan kiểm tra trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc khắc phục.

5. Hàng hóa nhập khẩu sau khi được thông quan được phép lưu thông trên thị trường và chịu sự kiểm tra chất lượng theo quy định tại Điều 88 của Nghị định này.

Điều 86. Miễn, giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao; không phải thực hiện lại việc công bố hợp quy đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình

1. Hàng hóa có mức độ rủi ro cao được miễn kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu trong các trường hợp sau:

a) Hành lý của tổ chức, cá nhân nhập cảnh, tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân trong định mức miễn thuế (không bao gồm xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, xe đạp điện);

b) Hàng hóa của các tổ chức, cá nhân ngoại giao, tổ chức quốc tế trong định mức miễn thuế (không bao gồm xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, xe đạp điện);

c) Mẫu hàng để quảng cáo không bán ra thị trường; hàng mẫu để nghiên cứu khoa học, nghiên cứu phục vụ sản xuất; mẫu hàng khảo nghiệm; mẫu hàng để thử nghiệm phục vụ giám định, chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, thử nghiệm liên phòng;

d) Hàng hóa tạm nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu tại hội chợ triển lãm thương mại, không bán thanh lý sau triển lãm, không đưa vào lưu thông trên thị trường;

đ) Quà biếu, tặng trong định mức miễn thuế (không bao gồm xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, xe đạp điện);

e) Hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới trong định mức miễn thuế;

g) Hàng hóa, vật tư, thiết bị, máy móc tạm nhập - tái xuất không tiêu thụ tại Việt Nam;

h) Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển;

i) Nguyên liệu, vật tư, hàng mẫu để gia công cho nước ngoài, để sản xuất hàng xuất khẩu, để tạm nhập, tái xuất; nguyên liệu để sản xuất hàng hóa tiêu thụ nội địa, lưu thông trên thị trường trong trường hợp hàng hóa đã được quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng; hàng nhập khẩu số lượng ít không đủ lấy mẫu thử nghiệm quy định trong các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;

k) Hàng hóa kinh doanh bán miễn thuế cho khách xuất cảnh (quản lý theo chế độ tạm nhập - tái xuất);

l) Hàng hóa tái nhập khẩu để sửa chữa, tái chế theo yêu cầu của đối tác nước ngoài;

m) Hàng hóa nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

n) Hàng hóa nhập khẩu chuyên dụng phục vụ mục đích an ninh;

o) Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh có trị giá hải quan được miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế;

p) Hàng hóa tạm nhập khẩu để bán tại cửa hàng miễn thuế;

q) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ;

r) Hàng hóa chuyên dùng được nhập khẩu để sử dụng trong trụ sở thuộc sở hữu của cơ quan đại diện ngoại giao các nước tại Việt Nam;

s) Hàng hóa do thương nhân nhập khẩu trở lại Việt Nam của chính thương nhân đã xuất khẩu nhưng bị trả lại hoặc do thương nhân chủ động thu hồi;

t) Hóa chất thuộc danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam nhập khẩu để làm chất chuẩn hoặc phục vụ nghiên cứu khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật cho phép;

u) Hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu theo quy định pháp luật về quản lý ngoại thương.

2. Việc miễn kiểm tra chất lượng không áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Hàng hóa có cảnh báo mất an toàn theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tổ chức quốc tế có liên quan;

b) Hàng hóa thuộc danh mục kiểm soát đặc thù do bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành;

c) Hàng hóa thuộc diện rủi ro cao theo quy định của pháp luật chuyên ngành khác có yêu cầu bắt buộc kiểm tra khi nhập khẩu.

3. Giảm kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao thực hiện như sau:

a) Hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao được áp dụng chế độ giảm kiểm tra nhà nước về chất lượng khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này:

Hàng hóa có cùng tên gọi, công dụng, nhãn hiệu, kiểu loại, đặc tính kỹ thuật, cơ sở sản xuất và xuất xứ, do cùng một tổ chức, cá nhân nhập khẩu thực hiện;

Có 03 lần nhập khẩu liên tiếp có Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu đáp ứng yêu cầu chất lượng.

Doanh nghiệp tự xác định việc đáp ứng yêu cầu giảm kiểm tra và tự lưu giữ hồ sơ chứng minh để phục vụ hậu kiểm.

b) Cách thức áp dụng chế độ giảm kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao:

Việc áp dụng chế độ giảm kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro, thông qua việc trao đổi, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu giữa cơ quan kiểm tra và cơ quan hải quan; không quy định là thủ tục hành chính.

Tổ chức, cá nhân nhập khẩu khai báo đầy đủ, chính xác trên tờ khai hải quan các mã nhận diện hàng hóa và thông tin định danh tương ứng, bao gồm: mã số HS; mã số, mã vạch; số hiệu, model; thông tin về nhà sản xuất, nước xuất xứ và các thông tin định danh khác theo quy định của pháp luật hải quan và pháp luật có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin đã khai báo.

Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm xác định, cập nhật và công bố danh sách tổ chức, cá nhân nhập khẩu được áp dụng chế độ giảm kiểm tra chất lượng; thời hạn áp dụng chế độ giảm kiểm tra là 02 năm, tính từ thời điểm phát sinh kết quả đánh giá phù hợp của lần nhập khẩu thứ ba; trường hợp dừng áp dụng chế độ giảm kiểm tra khi phát sinh vi phạm hoặc dấu hiệu rủi ro, trên hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành, Cổng thông tin một cửa quốc gia theo quy định, hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Cơ quan hải quan thực hiện thông quan hàng hóa trên cơ sở tra cứu, sử dụng thông tin, dữ liệu về danh sách tổ chức, cá nhân nhập khẩu được áp dụng chế độ giảm kiểm tra do cơ quan kiểm tra cung cấp và cập nhật.

Việc trao đổi, chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan theo cơ chế một cửa quốc gia, hệ thống thông tin của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia được thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện hạ tầng kỹ thuật. Trong thời gian hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia chưa được vận hành đầy đủ, việc áp dụng chế độ giảm kiểm tra được thực hiện trên cơ sở dữ liệu, thông tin do cơ quan kiểm tra quản lý, cung cấp và cập nhật theo quy định.

Việc áp dụng chế độ giảm kiểm tra chất lượng không làm phát sinh thủ tục hành chính mới, không làm kéo dài thời gian thông quan, trừ trường hợp phải áp dụng biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

c) Quản lý, giám sát và hậu kiểm:

Doanh nghiệp thực hiện báo cáo định kỳ 03 tháng/lần về tình hình nhập khẩu hàng hóa thuộc diện được giảm kiểm tra để phục vụ công tác hậu kiểm và giám sát chất lượng;

Cơ quan kiểm tra thực hiện hậu kiểm theo kế hoạch hoặc đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm, cảnh báo rủi ro, khiếu nại, tố cáo hoặc theo đề nghị của cơ quan hải quan;

Hoạt động hậu kiểm không làm ảnh hưởng đến tiến độ thông quan hàng hóa.

d) Cơ quan kiểm tra dừng áp dụng chế độ giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:

Hàng hóa lưu thông trên thị trường bị xác định không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc tiêu chuẩn công bố áp dụng;

Có khiếu nại, tố cáo về chất lượng hoặc về kết quả đánh giá sự phù hợp và được xác minh là đúng;

Qua hậu kiểm hoặc kiểm tra đột xuất phát hiện kết quả đánh giá sự phù hợp không đạt yêu cầu;

Doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo hoặc cung cấp thông tin theo quy định.

4. Trách nhiệm của cơ quan kiểm tra và cơ quan hải quan

a) Cơ quan kiểm tra theo phân công quản lý ngành, lĩnh vực; Ban Cơ yếu Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức giám sát, hậu kiểm chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật;

b) Cơ quan kiểm tra duy trì, cập nhật thông tin doanh nghiệp thuộc diện giảm kiểm tra vào hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia; phối hợp với cơ quan hải quan trong trao đổi, khai thác dữ liệu để phục vụ quản lý rủi ro;

c) Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm tổng hợp thông tin làm cơ sở áp dụng chế độ giảm kiểm tra quy định tại khoản 2 Điều này, bao gồm danh sách tổ chức, cá nhân được áp dụng chế độ giảm kiểm tra; cập nhật, chia sẻ đầy đủ, kịp thời các thông tin, kết quả kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu trên hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia;

d) Cơ quan hải quan thực hiện việc tra cứu, khai thác thông tin phục vụ thủ tục hải quan trên hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia; trường hợp dữ liệu được cập nhật từ Cổng thông tin một cửa quốc gia hoặc hệ thống thông tin của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực thì việc tra cứu được thực hiện thông qua hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia mà không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại thông tin.

5. Không phải thực hiện lại việc công bố hợp quy đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình theo các quy định sau đây:

a) Nguyên tắc áp dụng

Hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình đã thực hiện công bố hợp quy đối với lô hàng trước đó không phải công bố lại khi hàng hóa nhập khẩu tiếp theo có cùng tên gọi, công dụng, nhãn hiệu, kiểu loại, đặc tính kỹ thuật, cơ sở sản xuất và xuất xứ;

Doanh nghiệp tự lưu giữ hồ sơ về tình trạng công bố hợp quy và chịu trách nhiệm về việc áp dụng cơ chế không công bố lại;

Trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thay đổi, đặc tính sản phẩm thay đổi hoặc có cảnh báo rủi ro từ cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp phải thực hiện lại công bố hợp quy theo quy định.

b) Theo dõi và hậu kiểm

Doanh nghiệp lập văn bản nội bộ ghi nhận việc hàng hóa thuộc diện không phải công bố lại để phục vụ hậu kiểm;

Cơ quan kiểm tra đối chiếu thông tin công bố hợp quy trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và cập nhật vào hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận thông tin doanh nghiệp cung cấp;

Thông tin được cập nhật là căn cứ phục vụ hoạt động hậu kiểm và đánh giá tuân thủ của doanh nghiệp.
...
PHỤ LỤC VII CÁC BIỂU MẪU

Mẫu số 1 ĐĂNG KÝ KIỂM TRA NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
...
Mẫu số 2 PHIẾU TIẾP NHẬN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ KIỂM TRA NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
...
Mẫu số 3 THÔNG BÁO Kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
19. Sửa đổi, bổ sung Điều 34; bổ sung Điều 34a và Điều 34b vào sau Điều 34 như sau:

Điều 34. Bảo đảm chất lượng hàng hóa nhập khẩu
...
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục kiểm tra, việc miễn, giảm kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 82 đến Điều 86 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 69, Điều 88, Điều 89 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 69. Bảo đảm chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

1. Hàng hóa lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các điều kiện Điều 34a của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 trước khi lưu thông trên thị trường.

2. Tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm:

a) Bảo đảm chất lượng hàng hóa do mình cung cấp phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;

b) Thiết lập, vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ để duy trì chất lượng hàng hóa;

c) Cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến chất lượng hàng hóa khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;

d) Thực hiện lưu giữ hồ sơ, tài liệu liên quan đến chất lượng hàng hóa tối thiểu 03 năm kể từ thời điểm hàng hóa được đưa ra lưu thông, trừ trường hợp hàng hóa có thời hạn sử dụng dài hơn thì phải lưu giữ ít nhất bằng thời hạn sử dụng;

đ) Phối hợp với cơ quan kiểm tra chất lượng, cơ quan quản lý thị trường trong việc kiểm tra, truy xuất, xử lý vi phạm về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường.

3. Kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Hàng hóa lưu thông trên thị trường thuộc diện kiểm tra chất lượng theo nguyên tắc quản lý rủi ro quy định tại Điều 45 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15.

b) Phương thức kiểm tra bao gồm:

Kiểm tra trực tiếp tại cơ sở kinh doanh, kho chứa, điểm phân phối;

Kiểm tra gián tiếp thông qua hệ thống dữ liệu điện tử, thông tin truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy.

c) Trường hợp phát hiện hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, cơ quan kiểm tra áp dụng biện pháp đình chỉ lưu thông, thu hồi, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
...
Điều 88. Kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

1. Căn cứ kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường thực hiện như sau:

a) Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa căn cứ tình hình diễn biến chất lượng hàng hóa trên thị trường để xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí kiểm tra hằng năm, đối tượng hàng hóa phải kiểm tra;

b) Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đột xuất hoặc trong trường hợp có chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Dữ liệu hiện có về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa, thông tin truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy;

d) Dữ liệu từ hệ thống quản lý chất lượng được công nhận hoặc có kết nối với cơ quan quản lý nhà nước, kết hợp với cảnh báo vi phạm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiến hành kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường theo các nội dung sau:

a) Kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

b) Sau khi kiểm tra các yêu cầu quy định tại điểm a khoản này, nếu xét thấy có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng thì tiến hành lấy mẫu, thử nghiệm mẫu tại tổ chức đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật để kiểm tra sự phù hợp của hàng hóa với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Tổ chức đánh giá sự phù hợp phải độc lập, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đánh giá sự phù hợp của mình;

c) Đối với sản phẩm, hàng hóa có rủi ro cao, ngoài việc thực hiện theo yêu cầu tại điểm b khoản này, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lập kế hoạch lấy mẫu định kỳ hoặc đột xuất tại các địa điểm phù hợp theo yêu cầu quản lý nhằm tăng cường kiểm tra đối với sản phẩm, hàng hóa này theo quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15.

Điều 89. Trình tự, thủ tục kiểm tra và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra theo trình tự, thủ tục như sau:

1. Công bố quyết định kiểm tra.

2. Tiến hành thu thập, xem xét, đánh giá thông tin, hồ sơ, tài liệu, dữ liệu kiểm tra theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 88 Nghị định này.

3. Lập biên bản kiểm tra, biên bản vi phạm hành chính (đối với trường hợp có vi phạm hành chính), xử lý kết quả kiểm tra theo quy định pháp luật về kiểm tra chuyên ngành và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
19. Sửa đổi, bổ sung Điều 34; bổ sung Điều 34a và Điều 34b vào sau Điều 34 như sau:
...
Điều 34a. Bảo đảm chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
...
5. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 2 và 3 Điều này; quy định trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý vi phạm chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 69, Điều 88, Điều 89 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục 3 Chương VI Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Chương VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
...
Mục 3. KIỂM TRA NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA VÀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA LƯU THÔNG TRÊN THỊ TRƯỜNG

Điều 78. Ứng dụng công nghệ, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia trong kiểm tra và khảo sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
Điều 79. Kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất
...
Điều 80. Thành lập và hoạt động của Đoàn kiểm tra
...
Điều 81. Trình tự, thủ tục và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất
...
Điều 82. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu
...
Điều 83. Trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao
...
Điều 84. Tăng cường tần suất kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu
...
Điều 85. Xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao
...
Điều 86. Miễn, giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro cao; không phải thực hiện lại việc công bố hợp quy đối với hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình
...
Điều 87. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa xuất khẩu và xử lý vi phạm
...
Điều 88. Kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
...
Điều 89. Trình tự, thủ tục kiểm tra và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
...
Điều 90. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường
...
Điều 91. Khảo sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
Điều 92. Đoàn khảo sát
...
PHỤ LỤC VII CÁC BIỂU MẪU

Mẫu số 1 ĐĂNG KÝ KIỂM TRA NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
...
Mẫu số 2 PHIẾU TIẾP NHẬN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ KIỂM TRA NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
...
Mẫu số 3 THÔNG BÁO Kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu
...
Mẫu số 14 TEM NIÊM PHONG MẪU
...
Mẫu số 15 BIÊN BẢN LẤY MẪU
...
Mẫu số 16 BIÊN BẢN GIAO NHẬN MẪU

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 45. Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
11. Chính phủ quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa, hoạt động của Đoàn kiểm tra và việc khảo sát chất lượng hàng hóa.
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục 3 Chương VI Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 79, Điều 81 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 79. Kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất

1. Việc kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất (sau đây gọi tắt là kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất) do cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiến hành.

2. Hàng năm cơ quan kiểm tra tiến hành xây dựng, lập kế hoạch kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất căn cứ vào mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và căn cứ vào các nội dung sau:

a) Thông tin về hàng hóa xuất khẩu không phù hợp với các quy định tại Điều 32 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 dẫn tới việc các nước nhập khẩu có quy định áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam;

b) Thông tin về sự không phù hợp có tính hệ thống của hàng hóa lưu thông trên thị trường với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;

c) Kết quả phân tích, xử lý dữ liệu từ hệ thống cảnh báo, khảo sát, phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng; dữ liệu truy xuất nguồn gốc, hồ sơ đánh giá sự phù hợp;

d) Thông tin, cảnh báo từ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức đánh giá sự phù hợp và kênh giám sát xã hội khác;

đ) Thông tin về việc tổ chức, cá nhân sản xuất áp dụng các tiêu chuẩn hệ thống quản lý tiên tiến phù hợp với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa;

e) Yêu cầu quản lý của cơ quan có thẩm quyền.

3. Nội dung kiểm tra:

a) Kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định về bảo đảm chất lượng sản phẩm liên quan đến điều kiện của quá trình sản xuất và các biện pháp quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất;

b) Kiểm tra việc thực hiện kết quả đánh giá sự phù hợp, ghi nhãn hàng hóa, sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các tài liệu đi kèm sản phẩm cần kiểm tra;

c) Thử nghiệm mẫu tại tổ chức thử nghiệm được chỉ định theo quy định của pháp luật để kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Việc kiểm tra theo nội dung quy định tại điểm này được thực hiện khi phát hiện có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng sau khi thực hiện các nội dung quy định tại điểm a, b khoản này và được tiến hành thông qua việc thử nghiệm do tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định thực hiện.

4. Cơ quan kiểm tra có thể mời chuyên gia hoặc đại diện tổ chức đánh giá sự phù hợp, nhưng phải bảo đảm tính độc lập, khách quan, chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả đánh giá.
...
Điều 81. Trình tự, thủ tục và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất

Trình tự, thủ tục và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất được quy định như sau:

1. Công bố quyết định kiểm tra;

2. Tiến hành thu thập, xem xét, đánh giá thông tin, hồ sơ, tài liệu theo các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 80 Nghị định này;

3. Lập biên bản kiểm tra, biên bản vi phạm hành chính, xử lý kết quả kiểm tra theo quy định pháp luật về kiểm tra chuyên ngành và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
...
Điều 46. Kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất
...
5. Chính phủ quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 79, Điều 81 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 6. Cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ quản lý ngành, lĩnh vực

1. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối xây dựng, quản lý và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

2. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm:

a) Cập nhật và chia sẻ thông tin, dữ liệu về sản phẩm, hàng hóa thuộc mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao (bao gồm kết quả kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và cảnh báo vi phạm) lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện cập nhật và chia sẻ dữ liệu định kỳ hàng quý, trước ngày 25 của tháng cuối quý nếu có thay đổi; đồng thời thực hiện cập nhật đột xuất khi phát sinh cảnh báo khẩn cấp;

b) Khai thác, sử dụng dữ liệu thống nhất trong xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao, giám sát, kiểm tra thị trường;

c) Đối với sản phẩm, hàng hóa có chứa bí mật nhà nước thì không phải thực hiện việc cập nhật thông tin, báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau lưu thông (hậu kiểm) trên cơ sở dữ liệu.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
...
Điều 48. Phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
6. Chính phủ quy định về cơ chế phối hợp, xây dựng, chia sẻ dữ liệu và vận hành hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa quốc gia.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 16. Kiểm soát viên chất lượng

1. Kiểm soát viên chất lượng là công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được sắp xếp, bố trí vào vị trí việc làm hoặc thay đổi vị trí việc làm và xếp ngạch “kiểm soát viên chất lượng” tương ứng phù hợp thuộc cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

2. Kiểm soát viên chất lượng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, lấy mẫu, phối hợp xử lý vi phạm hành chính và các nhiệm vụ chuyên môn khác liên quan đến quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

3. Kiểm soát viên chất lượng hoạt động theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, tuân thủ pháp luật; không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

4. Mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và chức danh nghề nghiệp đối với các ngạch công chức, viên chức, chuyên ngành kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ban Cơ yếu Chính phủ quy định. Mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và chức danh nghề nghiệp của sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân chuyên ngành kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ.

5. Kiểm soát viên chất lượng được cấp trang phục riêng, phù hiệu, thẻ kiểm soát viên chất lượng theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, trừ trang phục, phù hiệu, thẻ kiểm soát viên chất lượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
...
Điều 49. Kiểm soát viên chất lượng

1. Kiểm soát viên chất lượng là công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của Luật này và quy định khác của luật có liên quan.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 12 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 12. Hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho doanh nghiệp

1. Hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải thưởng chất lượng quốc gia:

a) Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp danh sách tổ chức, doanh nghiệp đạt giải hằng năm để làm căn cứ hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ tài chính được thực hiện thông qua các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về năng suất, chất lượng;

c) Nội dung, mức hỗ trợ tài chính, hình thức hỗ trợ quảng bá, kết nối hợp tác quốc tế, phát triển thương hiệu thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6c. Hỗ trợ nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong hạ tầng chất lượng quốc gia
...
2. Giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định như sau:

a) Giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm Giải thưởng chất lượng quốc gia và giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, cá nhân;

b) Điều kiện, tiêu chí, thủ tục xét tặng Giải thưởng chất lượng quốc gia do Chính phủ quy định;

c) Điều kiện, tiêu chí, thủ tục xét tặng giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, cá nhân do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 12 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 12 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 12. Hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho doanh nghiệp
...
2. Hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng quy định tại khoản 4 Điều 6c Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 với mức tối đa 80% chi phí theo giá trị hợp đồng, ưu tiên doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp, công nghệ cao.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6c. Hỗ trợ nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong hạ tầng chất lượng quốc gia
...
4. Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Chương trình quốc gia nâng cao năng suất, chất lượng theo quy định của pháp luật với các nội dung sau đây:

a) Áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng cơ bản và đặc thù theo ngành, lĩnh vực; tiêu chuẩn hệ thống quản lý mới; hệ thống truy xuất nguồn gốc, thực hành nông nghiệp tốt, nông nghiệp hữu cơ, năng suất xanh và sản xuất thông minh;

b) Tư vấn, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế; thử nghiệm, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế; hoạt động tư vấn, thử nghiệm và chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế theo hình thức tài trợ không hoàn lại.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 12 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Điều 12 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 12. Hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho doanh nghiệp
...
3. Hỗ trợ một lần cho một doanh nghiệp chi phí thử nghiệm và chứng nhận đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực theo quy định tại khoản 5 Điều 6c Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 với mức tối đa 30% giá trị hợp đồng thử nghiệm và chứng nhận, khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:

a) Các sản phẩm trong quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm chủ lực;

b) Tổ chức thử nghiệm phải được công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc được chỉ định theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Phương thức hỗ trợ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thực hiện quy định tại khoản này.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6c. Hỗ trợ nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong hạ tầng chất lượng quốc gia
...
5. Nhà nước chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thử nghiệm đối với sản phẩm xuất khẩu chủ lực của quốc gia do tổ chức thử nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế thực hiện; hỗ trợ chi phí chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy do cơ quan nhà nước chỉ định theo quy định của pháp luật.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Điều 12 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Điều 17 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 17. Nguồn kinh phí cho hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
3. Việc lấy mẫu, thử nghiệm quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 là hoạt động kiểm tra chất lượng phục vụ quản lý nhà nước, được thực hiện theo quyết định, kế hoạch hoặc yêu cầu kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.

Hoạt động lấy mẫu, thử nghiệm này không bao gồm hoạt động khảo sát thông thường, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thị trường hoặc hoạt động lấy mẫu tự nguyện của tổ chức, cá nhân không nhằm mục đích kiểm tra, xử lý vi phạm hoặc áp dụng biện pháp quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 45. Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
7. Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lấy mẫu định kỳ hoặc đột xuất tại các địa điểm phù hợp theo yêu cầu quản lý nhằm tăng cường kiểm tra đối với sản phẩm, hàng hóa này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Điều 17 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 22. Nguyên tắc thực hiện truy xuất nguồn gốc

1. Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc truy xuất nguồn gốc là bắt buộc theo quy định tại Nghị định này.

2. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực căn cứ vào mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Nghị định này để ban hành danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và có lộ trình bắt buộc áp dụng truy xuất nguồn gốc.

3. Tiêu chí xác định danh mục và xây dựng lộ trình bao gồm: mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường, an toàn và quyền lợi người tiêu dùng; thông tin cảnh báo trong nước và quốc tế; khả năng truy xuất và minh bạch chuỗi cung ứng; mức độ sẵn sàng về hạ tầng kỹ thuật và năng lực tuân thủ của doanh nghiệp.

4. Danh mục và lộ trình thực hiện truy xuất nguồn gốc bắt buộc phải được lấy ý kiến Bộ Khoa học và Công nghệ, công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của bộ quản lý ngành, lĩnh vực và kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

5. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đối với các sản phẩm, hàng hóa không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được lựa chọn thực hiện truy xuất nguồn gốc theo quy định tại Nghị định này.

6. Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nhu cầu kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia thì thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

7. Cơ quan chức năng có trách nhiệm bảo đảm các quy định về bảo mật thông tin, an ninh mạng trong quá trình thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và kết nối, chia sẻ với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

8. Trường hợp sản phẩm, hàng hóa trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh có yêu cầu bảo mật về nguồn gốc, xuất xứ thì không áp dụng quy định về truy xuất nguồn gốc.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

1. Sửa đổi, bổ sung các điều 1, 2, 3, 4, 5 và 6; bổ sung các điều 6a, 6b, 6c, 6d, 6đ vào sau Điều 6 như sau:
...
Điều 6d. Truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng sản phẩm, hàng hóa

1. Việc truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng sản phẩm, hàng hóa phải được thực hiện trên nguyên tắc trung thực, khách quan, bảo đảm tính xác thực và khả năng xác minh, không gây cản trở lưu thông hàng hóa và thống nhất với quy định của pháp luật về hải quan, thương mại, thuế, phòng vệ thương mại và quy định khác của luật có liên quan; hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc xác minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, thành phần và chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

2. Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc truy xuất nguồn gốc là bắt buộc và do Bộ, cơ quan ngang Bộ xác định, có lộ trình thực hiện, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và đặc thù phát triển của từng ngành hàng.

3. Tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông sản phẩm, hàng hóa được khuyến khích và hỗ trợ triển khai truy xuất nguồn gốc, phù hợp với quy mô, đặc điểm ngành hàng và điều kiện sản xuất, kinh doanh.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 66, Điều 88, Điều 89, Điều 90 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 66. Bảo đảm chất lượng sản phẩm trong sản xuất trước khi đưa ra thị trường trong nước

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm theo quy định tại Điều 28 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 trước khi đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường, đồng thời có trách nhiệm:

a) Bảo đảm sản phẩm an toàn cho tổ chức, cá nhân, động vật, thực vật, tài sản, môi trường;

b) Tự xác định và thể hiện thông tin để cảnh báo về mức độ rủi ro của sản phẩm;

c) Trường hợp sử dụng mã số, mã vạch, nhãn điện tử trên sản phẩm, hàng hóa hoặc bao bì sản phẩm, hàng hóa, phải tuân thủ theo quy định tại Điều 28 và Chương IV Nghị định này.

2. Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao, tổ chức, cá nhân sản xuất phải công bố hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng:

a) Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, việc công bố hợp quy được quy định chi tiết tại các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng dựa trên một trong những kết quả sau:

Kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được công nhận theo quy định của pháp luật;

Kết quả tự đánh giá của tổ chức, cá nhân trên cơ sở kết quả thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm được công nhận hoặc được chỉ định theo quy định của pháp luật.

b) Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro cao, việc công bố hợp quy được quy định chi tiết tại các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định của pháp luật;

Trường hợp sản phẩm sản xuất đang được áp dụng biện pháp quy định tại điểm a khoản này, nếu phát hiện chất lượng không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, ảnh hưởng đến sức khỏe cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường hoặc khi có khiếu nại, tố cáo về hoạt động sản xuất thì khi đó sản phẩm sản xuất sẽ chuyển sang áp dụng biện pháp quy định tại điểm b khoản này.

Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao có yêu cầu đặc thù về quá trình sản xuất thì bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của quá trình sản xuất hoặc quy định cụ thể yêu cầu về quá trình sản xuất trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm đó. Tổ chức, cá nhân sản xuất có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến quá trình sản xuất và được chứng nhận hợp quy bởi tổ chức chứng nhận đã được công nhận theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao có đặc tính mới hoặc sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam theo quy định tại Điều 68 Nghị định này, tổ chức, cá nhân chứng minh sự an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường theo quy định tại Điều 67 Nghị định này.
...
Điều 88. Kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

1. Căn cứ kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường thực hiện như sau:

a) Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa căn cứ tình hình diễn biến chất lượng hàng hóa trên thị trường để xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí kiểm tra hằng năm, đối tượng hàng hóa phải kiểm tra;

b) Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đột xuất hoặc trong trường hợp có chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Dữ liệu hiện có về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa, thông tin truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy;

d) Dữ liệu từ hệ thống quản lý chất lượng được công nhận hoặc có kết nối với cơ quan quản lý nhà nước, kết hợp với cảnh báo vi phạm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2. Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiến hành kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường theo các nội dung sau:

a) Kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

b) Sau khi kiểm tra các yêu cầu quy định tại điểm a khoản này, nếu xét thấy có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng thì tiến hành lấy mẫu, thử nghiệm mẫu tại tổ chức đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật để kiểm tra sự phù hợp của hàng hóa với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Tổ chức đánh giá sự phù hợp phải độc lập, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đánh giá sự phù hợp của mình;

c) Đối với sản phẩm, hàng hóa có rủi ro cao, ngoài việc thực hiện theo yêu cầu tại điểm b khoản này, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lập kế hoạch lấy mẫu định kỳ hoặc đột xuất tại các địa điểm phù hợp theo yêu cầu quản lý nhằm tăng cường kiểm tra đối với sản phẩm, hàng hóa này theo quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15.

Điều 89. Trình tự, thủ tục kiểm tra và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra theo trình tự, thủ tục như sau:

1. Công bố quyết định kiểm tra.

2. Tiến hành thu thập, xem xét, đánh giá thông tin, hồ sơ, tài liệu, dữ liệu kiểm tra theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 88 Nghị định này.

3. Lập biên bản kiểm tra, biên bản vi phạm hành chính (đối với trường hợp có vi phạm hành chính), xử lý kết quả kiểm tra theo quy định pháp luật về kiểm tra chuyên ngành và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Điều 90. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường

1. Sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường phải bảo đảm không gây rủi ro cho tổ chức, cá nhân, động vật, thực vật, tài sản, môi trường.

2. Khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc có khả năng gây rủi ro cho tổ chức, cá nhân, động vật, thực vật, tài sản, môi trường thì tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xử lý, thu hồi sản phẩm, hàng hóa đó và thực hiện theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
15. Sửa đổi, bổ sung tên Chương III như sau:

“Chương III

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA TRONG SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU, LƯU THÔNG TRÊN THỊ TRƯỜNG VÀ TRÊN NỀN TẢNG SỐ PHỤC VỤ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ’.
...
17. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:

Điều 28. Bảo đảm chất lượng sản phẩm trong sản xuất trước khi lưu thông trên thị trường

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm trong sản xuất như sau:

a) Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm kiểm soát quá trình sản xuất, bảo đảm sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và quy định khác của luật có liên quan;

b) Công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định tại Điều 23 của Luật này; thực hiện ghi nhãn hàng hóa, nhãn điện tử hoặc hộ chiếu số của sản phẩm; thể hiện các thông tin về truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch cho sản phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc;

c) Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất;

d) Công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao;

đ) Lưu giữ hồ sơ, tài liệu về chất lượng sản phẩm, kết quả đánh giá sự phù hợp, hồ sơ công bố hợp quy, công bố hợp chuẩn theo quy định của pháp luật để phục vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm tra sau lưu thông trên thị trường.

2. Đối với cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, việc bảo đảm chất lượng sản phẩm được thực hiện theo quy định và hướng dẫn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trên cơ sở phù hợp với quy mô, đặc thù ngành nghề và yêu cầu quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 66, Điều 88, Điều 89, Điều 90 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 70 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 70. Bảo đảm chất lượng hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử

Tổ chức, cá nhân bán hàng, chủ quản nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu quản lý quy định tại Điều 34b của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 trước khi lưu thông trên thị trường.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
19. Sửa đổi, bổ sung Điều 34; bổ sung Điều 34a và Điều 34b vào sau Điều 34 như sau:
...
Điều 34b. Bảo đảm chất lượng hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử

1. Hàng hóa mua bán trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử phải bảo đảm tuân thủ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34a của Luật này.

2. Tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử bao gồm:

a) Tên hàng hóa, xuất xứ, tên tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa;

b) Dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy theo quy định của pháp luật;

c) Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo an toàn (nếu có);

d) Thông tin khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử bao gồm:

a) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hàng hóa bán trên nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử cung cấp thông tin quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Có biện pháp kiểm tra, xử lý đối với hàng hóa vi phạm pháp luật về chất lượng khi phát hiện hoặc khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

c) Thiết lập và vận hành hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

d) Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

đ) Tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

4. Chủ quản nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 70 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 80 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 80. Thành lập và hoạt động của Đoàn kiểm tra

1. Đoàn kiểm tra được thành lập bằng văn bản của cơ quan kiểm tra quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 khi thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định.

2. Đoàn kiểm tra gồm:

a) Trưởng đoàn là người được giao thực hiện công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15;

b) Các thành viên gồm: Kiểm soát viên chất lượng và cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia kỹ thuật có liên quan (nếu cần thiết);

c) Thư ký đoàn kiểm tra.

3. Đoàn kiểm tra có trách nhiệm:

a) Thực hiện kiểm tra hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa, kiểm tra thực tế;

b) Tiến hành lấy mẫu và giám sát thử nghiệm mẫu theo quy định;

c) Lập biên bản kiểm tra và đề xuất biện pháp xử lý;

d) Chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan của kết quả kiểm tra.

4. Kinh phí hoạt động của Đoàn kiểm tra được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp hoặc từ nguồn kinh phí hợp lệ khác theo quy định của pháp luật.

5. Kinh phí lấy mẫu, thử nghiệm mẫu được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15.

Việc thanh quyết toán thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về tài chính, kế toán.

6. Về lấy mẫu

Trong quá trình kiểm tra tại cơ sở sản xuất, nhập khẩu, lưu thông, việc lấy mẫu phục vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thực hiện như sau:

a) Việc lấy mẫu được thực hiện theo tiêu chuẩn về phương pháp lấy mẫu, theo quy định về phương pháp lấy mẫu trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng (nếu có) hoặc quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp không có tiêu chuẩn, quy định về phương pháp lấy mẫu trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định của pháp luật về phương pháp lấy mẫu thì tùy theo tính chất của sản phẩm, hàng hóa, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định việc lấy mẫu đối với sản phẩm, hàng hóa do bộ, ngành quản lý;

b) Trong quá trình kiểm tra, trường hợp hàng hóa không đủ số lượng để lấy mẫu theo quy định tại điểm a khoản này hoặc không xác định được lô sản phẩm, hàng hóa thì Đoàn kiểm tra thực hiện lấy mẫu khảo sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 Nghị định này;

c) Mẫu sản phẩm, hàng hóa sau khi lấy phải được niêm phong (theo Mẫu số 14 Phụ lục VII kèm theo Nghị định này), lập biên bản lấy mẫu (theo Mẫu số 15 Phụ lục VII kèm theo Nghị định này) có chữ ký của người lấy mẫu, đại diện cơ sở được lấy mẫu. Việc bàn giao mẫu cho tổ chức thử nghiệm phải có biên bản giao nhận mẫu (theo Mẫu số 16 Phụ lục VII kèm theo Nghị định này), tổ chức thử nghiệm phải xác nhận nguyên trạng niêm phong trước khi nhận mẫu thử nghiệm;

d) Trường hợp sản phẩm, hàng hóa không có quy định riêng về thời gian gửi mẫu đi thử nghiệm, trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày lấy mẫu, đoàn kiểm tra phải gửi mẫu sản phẩm, hàng hóa đến tổ chức thử nghiệm được chỉ định theo quy định của pháp luật để thử nghiệm. Tổ chức thử nghiệm được chỉ định có trách nhiệm ưu tiên thử nghiệm mẫu sản phẩm, hàng hóa của đoàn kiểm tra thực hiện chức năng quản lý nhà nước, bảo đảm thời gian thử nghiệm mẫu đúng quy định.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
20. Sửa đổi, bổ sung Chương IV như sau:

“Chương IV

KIỂM TRA VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

Điều 45. Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
9. Căn cứ yêu cầu kiểm tra, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quyết định thành lập Đoàn kiểm tra. Thành phần Đoàn kiểm tra bao gồm: kiểm soát viên chất lượng và cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia kỹ thuật có liên quan. Đoàn kiểm tra hoạt động theo kế hoạch được phê duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị, biên bản kiểm tra.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 80 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 87 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 87. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa xuất khẩu và xử lý vi phạm

1. Hàng hóa đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 32 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15, được phép xuất khẩu mà không bị kiểm tra của cơ quan kiểm tra.

Hàng hóa chỉ dành cho xuất khẩu phải tuân thủ đầy đủ các quy định của nước nhập khẩu, không phải tuân thủ các quy định cho hàng hóa lưu thông trong nước; trừ những hàng hóa vừa xuất khẩu vừa lưu thông trong nước thì phải tuân thủ đầy đủ quy định của cả nước nhập khẩu và của Việt Nam.

2. Trường hợp hàng hóa xuất khẩu không bảo đảm chất lượng gây ảnh hưởng đến lợi ích và uy tín quốc gia thì cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất theo quy định tại Điều 79 và xử lý theo quy định tại Điều 81 Nghị định này.

3. Hàng hóa xuất khẩu khi đưa vào lưu thông trong nước, phải tuân thủ các yêu cầu quản lý quy định tại Điều 88, Điều 89 và Điều 90 Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 và Điều 33 như sau:

“Điều 32. Bảo đảm chất lượng hàng hóa xuất khẩu

Tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa phải bảo đảm hàng hóa xuất khẩu phù hợp với quy định của nước nhập khẩu, hợp đồng hoặc điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp với nước, vùng lãnh thổ có liên quan.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 87 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 68 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
...
Điều 68. Bảo đảm chất lượng hàng hóa nhập khẩu trước khi đưa ra thị trường

Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng hàng hóa theo quy định tại Điều 34 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường.

Trường hợp hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao có đặc tính mới tiềm ẩn rủi ro mất an toàn trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích mà đặc tính mới này chưa được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng hoặc hàng hóa lần đầu tiên nhập khẩu tiềm ẩn rủi ro mất an toàn thì tổ chức, cá nhân nhập khẩu có trách nhiệm chứng minh sản phẩm đó an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường theo quy định của bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Hàng hóa loại này chỉ được đưa ra lưu thông trên thị trường sau khi được bộ quản lý ngành, lĩnh vực cho phép.

Xem nội dung VB
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
...
19. Sửa đổi, bổ sung Điều 34; bổ sung Điều 34a và Điều 34b vào sau Điều 34 như sau:

“Điều 34. Bảo đảm chất lượng hàng hóa nhập khẩu

1. Trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường, hàng hóa nhập khẩu phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Được công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định tại Điều 23 của Luật này;

b) Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật, bao gồm: ghi nhãn bằng hình thức vật lý, nhãn điện tử hoặc hộ chiếu số của sản phẩm; thể hiện các thông tin về mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 68 Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2026