BỘ
NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
******
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
Số:
99/2006/TT-BNN
|
Hà
Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2006
|
THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUY CHẾ QUẢN
LÝ RỪNG BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 186/2006/QĐ-TTG, NGÀY 14/8/2006 CỦA THỦ
TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Bảo
vệ và Phát triển rừng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật
Bảo vệ và Phát triển rừng;
Căn cứ Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ về
việc ban hành Quy chế quản lý rừng;
Căn cứ Nghị định số 86/2003/NĐ-CP, ngày 18/7/2003 của Chính phủ Quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy
chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày
14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ như sau:
Mục 1:
QUY ĐỊNH CHUNG
1. Phạm vi điều chỉnh:
Thông tư này hướng dẫn chi tiết một số điều theo quy định tại Quy chế quản lý rừng
ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng
Chính phủ.
2. Đối tượng áp dụng
của Thông tư là cơ quan Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng
đồng dân cư thôn; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước
ngoài có liên quan đến việc bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam.
Mục 2:
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
1.
Quy định việc phân chia, xác định ranh giới đơn vị quản lý rừng và đất quy hoạch
cho lâm nghiệp
1.1.
Rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp được phân chia thành các đơn vị quản lý:
Tiểu khu, khoảnh, lô theo quy định tại điều
42, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của
Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Tiểu khu có diện
tích không lớn hơn 1.000 hecta, trong cùng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là cấp xã). Thứ tự tiểu khu được ghi số bằng chữ số Ả Rập trong
phạm vi của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), từ tiểu khu số 1 đến tiểu khu cuối cùng (ví dụ: Tiểu khu 1, Tiểu khu 2).
Khoảnh có diện
tích không lớn hơn 100 hecta, trong cùng đơn vị hành chính cấp xã. Thứ tự khoảnh
được ghi số bằng chữ số Ả Rập, từ Khoảnh 1 đến khoảnh cuối cùng, trong phạm vi
từng tiểu khu (ví dụ: Khoảnh 1, Khoảnh 2).
Lô có diện tích
không lớn hơn 10 hecta, có trạng thái rừng hoặc đất lâm nghiệp tương đối đồng
nhất, cùng địa bàn trong cấp xã. Thứ tự lô được ghi bằng chữ cái Việt Nam trong
phạm vi từng khoảnh (ví dụ: Lô a, Lô b). Trong cùng một khoảnh, tên các lô rừng
không được trùng nhau.
Số thứ tự của tiểu
khu, khoảnh, lô về cơ bản được ghi số theo trình tự từ trên xuống dưới, từ trái
sang phải, trừ trường hợp được bổ sung sau này.
1.2. Việc xác định
mốc ranh giới, bảng chỉ dẫn thực hiện theo Quy chế xác định ranh giới và cắm mốc
các loại rừng, ban hành kèm theo Quyết định số 3013/1997/QĐ-BNN & PTNT,
ngày 20/11/1997 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
1.3. Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn (hoặc có thể uỷ quyền cho Chi cục Lâm nghiệp ở nơi có
Chi cục Lâm nghiệp) thống nhất quản lý các đơn vị quản lý rừng và đất lâm
nghiệp, quyết định việc thiết lập, điều chỉnh ranh giới, đơn vị quản lý rừng và
đất quy hoạch cho lâm nghiệp theo đề nghị của các tổ chức tư vấn về điều tra,
quy hoạch rừng tại địa phương.
2.
Tiêu chí rừng nghèo kiệt và các loại rừng nghèo kiệt được phép cải tạo; biện
pháp, trình tự, thủ tục cải tạo rừng
2.1. Cải tạo rừng
tự nhiên theo Thông tư này được hiểu là việc trồng lại rừng trên các khu rừng tự
nhiên nghèo kiệt, có năng suất, chất lượng thấp để thay thế bằng rừng trồng có
năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và phòng hộ, bảo vệ môi trường cao hơn.
2.2. Rừng tự nhiên
được xem xét để được phép cải tạo là rừng tự nhiên thoái hoá hoặc phát triển
kém, không có hoặc ít có khả năng phục hồi và phát triển, nếu áp dụng các biện
pháp lâm sinh như: Nuôi dưỡng rừng, làm giàu rừng, khoanh nuôi tái sinh sẽ đạt
hiệu quả thấp, cụ thể:
a) Đối với rừng gỗ thuần loại:
- Cây gỗ tái sinh
mục đích có chiều cao nhỏ hơn 5 mét và đường kính bình quân dưới 6 cen-ti-met,
có mật độ nhỏ hơn 800 cây trên một hecta.
- Trữ lượng gỗ nhỏ
hơn 50 mét khối trên một hecta.
b) Đối với rừng tre, nứa thuần loại:
- Rừng nứa, giang,
lồ ô đường kính bình quân dưới 3 cen-ti-met, có mật độ nhỏ hơn 8.000 cây trên một
hecta.
- Rừng vầu, tre,
luồng có đường kính lớn hơn 3 cen-ti-met, mật độ nhỏ hơn 3.000 cây trên một
hecta.
c) Đối với rừng hỗn
giao tre nứa và gỗ, tùy mức độ hỗn giao cụ thể để quy định. Thí dụ: Nếu 1/2 là
tre, nứa; 1/2 là gỗ, thì rừng nghèo kiệt có thể cải tạo là rừng có cây gỗ tái
sinh có mật độ dưới 400 cây (hoặc gỗ có trữ lượng dưới 25 mét khối) và nứa có
đường kính nhỏ hơn 3 cen-ti-met, có mật độ dưới 8.000 cây trên một hecta (hoặc
vầu, tre có mật độ dưới 1.500 cây trên một hecta).
Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương quyết định về loài cây mục đích, áp dụng tiêu
chí về trữ lượng hoặc mật độ cây để quyết định cải tạo rừng phù hợp với thực tế
của địa phương.
2.3. Biện pháp cải
tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt.
Tuỳ theo điều kiện
tự nhiên và đặc tính cây trồng mà áp dụng một trong hai phương thức sau:
- Cải tạo cục bộ:
Là trồng lại rừng theo băng hoặc đám.
- Cải tạo toàn diện:
Là thay toàn bộ lâm phần hiện tại bằng cách trồng lại rừng mới cây có mục đích,
trên toàn bộ diện tích lô.
2.4.
Trình tự, thủ tục cải tạo rừng.
a) Việc cải tạo rừng:
Đối với tổ chức phải lập dự án; đối với hộ gia đình và cá nhân phải có đơn đề nghị
cải tạo rừng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b) Đối với các chủ
rừng là các Vườn quốc gia, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn: Chủ rừng lập tờ trình, Cục Lâm nghiệp thẩm định, trình Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn quyết định.
c) Đối với các chủ
rừng khác: Chủ rừng lập dự án, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định,
trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
d) Chủ rừng là hộ
gia đình có yêu cầu cải tạo rừng dưới 5 hecta, có đơn đề nghị cải tạo rừng, có
xác nhận của kiểm lâm địa bàn và Ủy ban nhân dân xã, gửi về Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xã xem xét, quyết định. Nếu cải tạo từ 5 hecta trở lên thì Uỷ ban
nhân dân huyện gửi về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định trước
khi quyết định phê duyệt.
3.
Tiêu chí rừng trồng không thành rừng
Rừng trồng không
thành rừng: Là lô rừng sau thời kỳ đầu tư chăm sóc theo quy định, có tỉ lệ cây
sống dưới 50% so với quy phạm trồng rừng đã được quy định, hay so với mật độ
thiết kế trồng nếu không có quy phạm trồng rừng đối với loài cây đó và không có
khả năng khép tán, mật độ cây phân bố không đồng đều trên lô, chiều cao cây
bình quân dưới 2 mét, đường kính gốc bình quân dưới 2 cen-ti-met.
4.
Tiêu chí rừng phòng hộ đạt tiêu chuẩn
4.1. Rừng phòng hộ
đầu nguồn: Phải tạo thành vùng tập trung, có cấu trúc hỗn loài, nhiều tầng tán,
có độ tàn che từ 0,6 trở lên. Đảm bảo duy trì, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất,
giảm xói mòn.
4.2. Rừng phòng hộ
chắn gió, chắn cát bay: Phải có ít nhất một đai rừng chính rộng tối thiểu 20
mét, kết hợp với các đai rừng phụ tạo thành ô khép kín; rừng phòng hộ đối với sản
xuất nông nghiệp và các công trình kinh tế được trồng theo băng, theo hàng, mỗi
đai, băng rừng gồm nhiều hàng cây, khép tán theo cả bề mặt cũng như theo chiều thẳng
đứng. Đảm bảo phát huy tác dụng ngăn chặn hoặc làm suy giảm tác hại của gió,
cát.
4.3. Rừng phòng hộ
chắn sóng, lấn biển: Phải có ít nhất một đai rừng rộng tối thiểu 30 mét, gồm
nhiều hàng cây khép tán. Các đai rừng có cửa so le nhau theo hướng sóng chính;
cây rừng đã khép tán, hệ rễ phát triển đảm bảo phát huy tác dụng chắn sóng, ổn
định đất, tăng khả năng bồi lấp bờ biển, ngăn chặn hoặc giảm sạt lở.
4.4. Rừng phòng hộ
bảo vệ môi trường: Là hệ thống các đai rừng, dải rừng và hệ thống cây xanh xen
kẽ các khu dân cư, khu công nghiệp, khu du lịch. Bảo đảm chống ô nhiễm không
khí, tạo môi trường trong sạch, kết hợp với vui chơi giải trí, tham quan du lịch.
5.
Các biện pháp lâm sinh và định mức kinh tế - kỹ thuật để phát triển rừng sản xuất
Trong những năm
qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các quy trình, quy phạm
kỹ thuật lâm sinh cho một số loài cây trồng. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên của
địa phương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh hướng dẫn thực hiện
cho phù hợp. Loài cây trồng nào chưa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn ban hành thì tuỳ theo đặc điểm và điều kiện tự nhiên, Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn ban hành quy trình hoặc hướng dẫn biện pháp kỹ thuật lâm
sinh để thực hiện.
6.
Quy định về việc xây dựng công trình hạ tầng, tỉ lệ diện tích đất được xây dựng
các công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng trong rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ và rừng sản xuất
6.1. Đối với rừng
đặc dụng:
a) Trong phân khu
bảo vệ nghiêm ngặt: Được lập các tuyến đường mòn, lều trú chân, cắm biển chỉ dẫn
để tuần tra kết hợp phục vụ dịch vụ du lịch sinh thái. Tuyệt đối không được làm
thay đổi cảnh quan tự nhiên của khu rừng. Tuyến đường mòn quy định tối đa không
quá 1,5 mét chiều rộng. Trong xây dựng, không được có những hành vi xâm hại đến
sinh cảnh sống của những loài động vật.
b) Trong phân khu
phục hồi sinh thái: Được mở các đường trục chính, xây dựng công trình để bảo vệ
và phát triển rừng kết hợp phục vụ các hoạt động dịch vụ - du lịch. Mức độ tác
động của các công trình hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái tối đa
là 20% tổng diện tích được thuê môi trường rừng đặc dụng đối với diện tích thuê
từ 50 ha trở xuống, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng
các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 15% diện tích còn lại được làm đường
mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe; Đối với diện tích thuê lớn hơn 50 hecta, mức độ
tác động tối đa là 15% tổng diện tích được thuê, trong đó cho phép sử dụng 5%
diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 10% diện
tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe. Phần diện tích được
thuê các công trình hạ tầng phải được xác định rõ trên bản đồ và phân định rõ
ngoài thực địa, thông qua hệ thống biển báo.
c) Trong phân khu
dịch vụ hành chính, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu khoa học: Tỉ lệ
diện tích đất được xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng không vượt
quá 20% diện tích để phục vụ du lịch.
6.2. Đối với rừng
phòng hộ:
- Nếu không có sản
xuất nông, ngư nghiệp kết hợp thì thực hiện như quy định tại tiết b, điểm 6.1.
- Nếu có sản xuất
nông, ngư nghiệp kết hợp kinh doanh du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng trên phần
diện tích không có rừng thì diện tích cả 2 loại không vượt quá 25% diện tích
trên đất rừng ngập mặn hoặc không quá 20% diện tích đối với những khu vực phòng
hộ đầu nguồn, chắn gió, chắn cát bay.
Ngoài ra, các khu
rừng phòng hộ vẫn phải đảm bảo về tiêu chí như quy định tại khoản 4, Mục II
Thông tư này.
6.3. Đối với rừng
sản xuất:
- Nếu không có sản
xuất nông, ngư nghiệp kết hợp thì thực hiện như quy định tại tiết c, điểm 6.1.
- Nếu có sản xuất
nông, ngư nghiệp kết hợp trên phần diện tích không có rừng thì diện tích cả 2
loại không vượt quá 25% diện tích.
7.
Quy định việc sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ
7.1. Không thực hiện
sản xuất kết hợp nông - ngư nghiệp ở những vùng phòng hộ rất xung yếu, đỉnh
núi, trong phạm vi 30 mét ven sông, suối hoặc những nơi có độ dốc trên 30 độ.
7.2. Các Ban quản
lý rừng phòng hộ có trách nhiệm quy hoạch, xác định vị trí, ranh giới đất đai
và phối hợp với các cơ quan khuyến lâm, khuyến nông hướng dẫn các mô hình sản
xuất kết hợp lâm, nông, ngư nghiệp cụ thể cho từng khu rừng phòng hộ. Những nơi
sản xuất kết hợp phải là nơi đất tốt, thuận lợi cho việc tưới tiêu. Các mô hình
sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ là các mô hình canh
tác bền vững trên đất dốc ở vùng đồi núi, hoặc các mô hình canh tác tổng hợp ở
vùng ven biển. Loài cây và vật nuôi trong các mô hình sản xuất kết hợp lâm,
nông, ngư nghiệp là những loài không gây xói lở đất, có tác dụng cố định
bãi cát, thích hợp với điều kiện môi trường, không gây thoái hoá đất đai, không
gây tình trạng sa mạc hoá.
7.3.
Các chủ rừng thực hiện sản xuất nông, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ được
hưởng toàn bộ thành quả từ quá trình sản xuất kết hợp trong rừng phòng hộ. Các
chủ rừng thực hiện sản xuất nông, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ có
trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về quản lý bảo vệ rừng phòng hộ.
Diện tích sản xuất
kết hợp được quy định cụ thể như sau:
- Chủ rừng là tổ
chức được sử dụng diện tích đất chưa có rừng để sản xuất nông, ngư nghiệp kết hợp
theo quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Chủ rừng là hộ
gia đình, cá nhân được sử dụng không quá 25% diện tích đất không có rừng trên đất
rừng ngập mặn hoặc không quá 20% diện tích không có rừng đối với khu vực phòng
hộ đầu nguồn, chắn gió, chắn cát bay để sản xuất nông, ngư nghiệp kết hợp.
Vị trí khu vực sản
xuất kết hợp trong rừng phải ổn định trong suốt kỳ quy hoạch rừng.
7.4. Các chủ rừng
thực hiện sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ, không được
thực hiện những hoạt động gây ảnh hưởng xấu tới quá trình sinh trưởng và phát
triển của khu rừng phòng hộ, hoặc làm đảo lộn quá trình sinh thái tự nhiên của
khu rừng, như đắp đê cản trở lưu thông của thủy triều ở vùng ven biển, hoặc đắp
đập gây tích đọng nước ở vùng đồi núi. Chủ rừng vi phạm các quy định về quản lý
bảo vệ rừng, làm tổn hại tới tài nguyên rừng thì sẽ bị xử phạt theo quy định của
pháp luật.
7.5. Việc kết hợp
sản xuất lâm - nông – ngư nghiệp trong rừng phòng hộ phải thực hiện theo quy hoạch
được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc uỷ quyền cho Chi cục Lâm nghiệp)
phê duyệt. Trong quy hoạch phải quy định rõ tỉ lệ, quy mô các công trình nhà,
đường, công trình phụ trợ phù hợp với quy định hiện hành.
Uỷ ban nhân dân quận,
huyện, thị xã thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
8.
Quy định khai thác lâm sản trong rừng trồng theo mức độ xung yếu về phòng hộ của
rừng sản xuất
8.1. Việc khai
thác gỗ và lâm sản khác từ rừng tự nhiên thực hiện theo quy chế ban hành kèm
theo Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN, ngày 07/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn.
8.2. Đối với rừng
sản xuất là rừng trồng có mức độ ít xung yếu về phòng hộ, được khai thác trắng
toàn diện theo lô rừng.
8.3. Đối với rừng
sản xuất là rừng trồng có mức độ xung yếu về phòng hộ, được khai thác 50% diện
tích theo băng hoặc theo đám, cụ thể:
- Chiều rộng băng
khai thác không quá 60 mét. Băng khai thác, băng chừa bố trí song song với đường
đồng mức và không liền kề nhau;
- Diện tích đám
khai thác lớn nhất không quá 5 hecta, không được khai thác 2 đám liền kề nhau;
- Chỉ khai thác tiếp
các băng, đám chừa sau khi đã trồng rừng khép tán trên băng, đám đã chặt.
9.
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ quản lý và sử dụng tài nguyên trong rừng đặc dụng
9.1. Ban quản lý rừng
đặc dụng phải lập hồ sơ quản lý rừng: Hồ sơ quản lý bao gồm số liệu về diện
tích rừng và tình trạng rừng, tình hình quản lý rừng và bản đồ kèm theo thể hiện
đến lô, khoảnh và tiểu khu rừng. Hồ sơ phải đảm bảo cập nhật thường xuyên, kịp
thời, được lưu giữ và quản lý dưới dạng tài liệu trên giấy và dữ liệu trên máy
tính, gồm các nội dung sau:
a) Lập bản đồ: Bản
đồ dùng để quản lý rừng đặc dụng là bản đồ địa hình chính xác, có tỷ lệ
1/10.000 đối với các khu rừng đặc dụng có diện tích dưới 5.000 hecta; 1/25.000
đối với khu rừng đặc dụng từ 5.000 hecta đến 10.000 hecta; 1/50.000 đối với khu
rừng có diện tích trên 10.000 hecta, có đầy đủ chi tiết địa hình, địa vật làm
căn cứ để phân chia hệ thống đường ranh giới đến mức tiểu khu, khoảnh, lô.
b) Phân chia các
phân khu chức năng rừng đặc dụng: Việc phân chia các phân khu rừng đặc dụng được
thực hiện theo Điều 14 của Quyết định 186/2006/QĐ-TTg; các
đơn vị quản lý rừng như tiểu khu, khoảnh, lô được quy định tại điểm 1.1, khoản
1, Mục II Thông tư này.
9.2. Ban quản lý
các khu rừng đặc dụng có trách nhiệm thu thập thông tin cho từng lô, khoảnh, tiểu
khu gồm các nội dung sau: Diện tích; trạng thái rừng, độ che phủ, loài thực vật
ưu thế, loài động vật xuất hiện trong khoảnh và dấu hiệu ghi nhận, thông tin về
các loài sinh vật xâm hại, các số liệu phải được lưu trữ trên giấy, máy tính và
được cập nhật vào bản đồ.
9.3. Ban quản lý rừng
đặc dụng phải xác định các vùng ưu tiên quản lý, bảo vệ rừng, theo dõi diễn thế
sinh thái tự nhiên của rừng. Đối với các phân khu được quy hoạch phục vụ cho phát
triển du lịch như phân khu dịch vụ hành chính, các tuyến du lịch sinh thái, cần
xem xét các tác động làm ảnh hưởng đến diễn thế tự nhiên của khu rừng và đề xuất
các phương án quản lý, bảo vệ rừng.
9.4. Trình tự, thủ
tục lập hồ sơ sử dụng tài nguyên trong rừng đặc dụng:
a)
Chặt nuôi dưỡng rừng: Sau khi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho
phép chặt nuôi dưỡng rừng đối với những khu rừng đặc dụng thuộc Bộ quản lý, Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép chặt nuôi dưỡng rừng
đối với những khu rừng đặc dụng thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản
lý thì chủ rừng tiến hành thiết kế.
Nội dung thiết kế:
- Xác định rõ ranh
giới, diện tích theo lô, khoảnh, tiểu khu;
- Tính toán khối
lượng sản phẩm có thể tận dụng theo kích thước, loài cây, nhóm gỗ;
- Lập hồ sơ thiết
kế các biện pháp lâm sinh (chặt nuôi dưỡng rừng).
Thủ tục trình duyệt:
- Cục Lâm nghiệp
phê duyệt hồ sơ thiết kế chặt nuôi dưỡng rừng cho những khu rừng đặc dụng thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý.
- Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn phê duyệt hồ sơ thiết kế chặt nuôi dưỡng rừng cho những
khu rừng đặc dụng do tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý.
Những nguyên tắc
trong quá trình chặt nuôi dưỡng rừng:
- Chặt nuôi dưỡng
rừng phải tuân thủ các quy trình, quy phạm nhằm đảm bảo tái sinh, hạn chế tối
đa ảnh hưởng đến cây còn lại, không mở đường vận xuất, vận chuyển và kho bãi mới
mà phải lợi dụng các công trình đã có hoặc đường mòn để vận xuất, vận chuyển.
- Chặt nuôi dưỡng
rừng phải đúng địa điểm, đúng diện tích, đúng đối tượng đã được cấp có thẩm quyền
phê duyệt và cấp phép. Nghiêm cấm lợi dụng chặt gỗ nơi khác đưa vào khu vực được
phép chặt nuôi dưỡng.
b) Khai thác tận thu:
Lập hồ sơ tận thu (đối với những
khu rừng có cây rừng bị chết khô, gãy đổ trong các phân khu hành chính, dịch vụ
và phục hồi sinh thái).
Sau khi được Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cho phép tận thu đối với những khu rừng đặc dụng do Bộ quản
lý, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép tận thu đối
với những khu rừng đặc dụng do tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý,
chủ rừng tiến hành thu gom ở từng lô, gỗ được tập kết tại đường phân lô, khoảnh,
tiểu khu, sau đó thống kê cụ thể số lóng, số khúc, số cây, số tấm; đo kích thước,
tính khối lượng theo chủng loại gỗ cho từng lô, khoảnh, tiểu khu.
Thủ tục trình duyệt:
- Cục Lâm nghiệp phê duyệt hồ sơ
thiết kế và cấp phép tận thu cho những khu rừng đặc dụng thuộc Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn quản lý.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn phê duyệt hồ sơ thiết kế và cấp phép tận thu những khu rừng đặc dụng
thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý.
Tổ chức tận thu:
- Tận thu phải đúng địa điểm, diện
tích, đối tượng đã được cấp có thẩm quyền cho phép.
- Nghiêm cấm lợi dụng đưa gỗ nơi
khác vào khu vực được phép tận thu.
10. Quy định
thả động vật hoang dã vào rừng
10.1. Động vật hoang dã bị bắt
giữ do vi phạm pháp luật: Nếu còn khoẻ mạnh, không có bệnh tật phải khẩn trương
xử lý để thả chúng về môi trường thiên nhiên phù hợp với vùng sinh cảnh, nguồn
thức ăn của từng loài. Trong trường hợp động vật hoang dã không được khoẻ mạnh
(bị ốm, bị thương) lập biên bản chuyển giao về các Trung tâm cứu hộ động vật
hoang dã (nếu có điều kiện) để chăm sóc, cứu hộ rồi thả về môi trường tự nhiên.
Trường hợp động vật hoang dã bị
chết hoặc bị thương không thể cứu chữa được thì lập biên bản bàn giao cho cơ
quan nghiên cứu khoa học xử lý làm tiêu bản để phục vụ đào tạo nghiên cứu khoa
học (nếu có) hoặc tổ chức tiêu huỷ bảo đảm làm sạch môi trường, hoặc hoá giá để
tiêu thụ (nếu có đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm).
10.2. Động vật hoang dã từ Trung
tâm cứu hộ: Trước khi chuyển giao thả về môi trường tự nhiên trình tự thủ tục
như sau:
- Văn bản tiếp nhận chuyển giao
động vật hoang dã của ban quản lý khu bảo tồn.
- Hội đồng giám định Trung tâm cứu
hộ lập biên bản giám định động vật hoang dã đủ điều kiện sống trong môi trường
tự nhiên. Nội dung trong biên bản giám định cần ghi đầy đủ tên loài động vật,
tình trạng sức khoẻ, tập tính sinh học.
- Quyết định của cơ quan có thẩm
quyền về thả động vật hoang dã; biên bản kiểm dịch của cơ quan thú y và giấy
phép vận chuyển động vật hoang dã theo quy định hiện hành.
11. Quy định
việc lưu giữ, sưu tầm mẫu vật, nguồn gen sinh vật rừng trong khu rừng đặc dụng
11.1. Ban quản lý khu rừng đặc dụng
được phép tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, thu thập mẫu vật nguồn gen
sinh vật rừng theo kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với
các khu rừng đặc dụng trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì Bộ
phê duyệt kế hoạch. Đối với các khu rừng đặc dụng trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh
thì Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch.
11.2. Các Tổ chức, cá nhân trước
khi tiến hành thu thập mẫu vật phải có chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu
khoa học được cấp có thẩm quyền phê duyệt (cấp Trường, Viện trở lên), trong đó
có thể hiện nội dung thu thập mẫu vật, nguồn gen. Việc nghiên cứu khoa học, giảng
dạy, thực tập trong rừng đặc dụng được thực hiện theo quy định tại Điều 54 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP.
11.3. Đối với
mẫu vật của những loài động, thực vật hoang dã thông thường, muốn thu thập nhằm
phục vụ nghiên cứu khoa học, phải được ban quản lý các khu rừng đặc dụng hay
đơn vị chủ quản lý các khu rừng đó thống nhất cho phép. Đối với mẫu vật của những
loài động, thực vật rừng quý hiếm, muốn thu thập nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học,
phải có ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
11.4. Việc sưu tầm mẫu vật, nguồn
gen phải chịu sự giám sát của Ban quản lý khu rừng đặc dụng, hay đơn vị trực tiếp
quản lý khu rừng đó. Đối với mẫu vật, nguồn gen của động, thực vật hoang dã
thông thường thì đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học được phép thu mỗi loại mẫu
vật của một loài 3 mẫu. Trường hợp đặc biệt cần thu số lượng mẫu nhiều thì phải
có ý kiến của Ban quản lý rừng đặc dụng. Các mẫu sau nghiên cứu định loại khoa
học phải được trả lại Ban quản lý rừng đặc dụng một mẫu (đối với các Ban quản
lý rừng có nhà bảo tàng đủ khả năng lưu giữ mẫu vật). Đối với các nghiên cứu
khác như phân tích hoá học, sinh, y học phải có báo cáo tóm tắt kết quả nghiên
cứu gửi cho ban quản lý rừng đặc dụng chậm nhất 90 ngày kể từ ngày thu mẫu.
11.5. Mẫu vật động, thực vật
hoang dã không có khả năng giám định khoa học trong nước, tổ chức, cá nhân muốn
giám định khoa học tại nước ngoài phải được sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn. Số lượng mẫu vật gửi đi giám định tối đa là 03 mẫu mỗi loại
của một loài (trường hợp đặc biệt phải có giải trình khoa học). Sau khi giám định,
phải trả về Việt Nam ít nhất 02 mẫu đã xuất khẩu kèm theo kết quả giám định.
11.6. Bản quyền đối với mẫu vật,
nguồn gen thu thập trong rừng đặc dụng do ban quản lý khu rừng đặc dụng thoả
thuận với tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học và được quy định cụ thể
trong chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học.
11.7. Việc thu thập mẫu vật, nguồn
gen giống cây trồng lâm nghiệp phải tuân theo quy chế quản lý giống cây trồng
lâm nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 89/2005/QĐ-BNN, ngày 29/12/2005 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Mục 3:
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực thi
hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủ trưởng các cơ
quan, đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm thực hiện thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu
có khó khăn, vướng mắc đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ảnh về Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để kịp thời sửa đổi, bổ sung./.
|
KT.
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Hứa Đức Nhị
|