Thủ tục cho nhận tử thi và mai táng người đã bị thi hành án tử hình được hướng dẫn bởi Chương IV Thông tư liên tịch 05/2013/TTLT-BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKSNDTC có hiệu lực từ ngày 21/07/2013 (VB hết hiệu lực: 01/12/2020)
Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc.
...
Chương IV THỦ TỤC CHO NHẬN TỬ THI VÀ MAI TÁNG NGƯỜI ĐÃ BỊ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH
Điều 19. Các trường hợp không được cho nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình
1. Người đã bị thi hành án tử hình phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Người đã bị thi hành án tử hình bị bệnh truyền nhiễm theo quy đinh tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
3. Người xin nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình không phải là thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người đã bị thi hành án tử hình.
Điều 20. Việc làm đơn xin nhận tử thi
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải thông báo cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình biết để làm đơn xin nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình.
2. Đơn xin nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình phải được gửi cho Chánh án Tòa án đã ra thông báo quy định tại khoản 1 Điều này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Đơn xin nhận tử thi về mai táng phải bảo đảm các nội dung được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 60 Luật Thi hành án hình sự.
Điều 21. Giải quyết việc cho nhận tử thi
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đơn xin nhận tử thi về mai táng của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hay không chấp nhận cho nhận tử thi về mai táng. Nếu không chấp nhận cho nhận tử thi về mai táng thì nêu rõ lý do.
2. Trước khi thi hành án tử hình 03 ngày làm việc, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu biết để giải quyết việc cho nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức việc mai táng người đã bị thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật.
3. Việc giải quyết cho nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Trường hợp Chánh án Tòa án đã ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình chấp nhận cho nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình, nhưng trong quá trình triển khai việc thi hành án tử hình Hội đồng thi hành án tử hình xét thấy việc cho nhận tử thi không bảo đảm an ninh, trật tự thì Hội đồng thi hành án tử hình quyết định không cho nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình, đồng thời giao cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức mai táng theo quy định của pháp luật.
5. Việc giao, nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình phải được lập thành văn bản và phải có chữ ký của bên giao và bên nhận. Không tổ chức việc giao nhận tử thi người đã bị thi hành án tử hình vào ban đêm (từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau).
Điều 22. Mai táng người đã bị thi hành án tử hình
1. Việc tổ chức mai táng người đã bị thi hành án tử hình phải đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự, không trái với phong tục, tập quán của địa phương và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm thi hành án tử hình để chỉ định nghĩa trang hoặc địa điểm nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình và làm thủ tục khai tử cho người đã bị thi hành án tử hình. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm thi hành án tử hình phải gửi văn bản thông báo về địa điểm nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình cho Cơ quan thi hành án hình sự đã ra thông báo.
3. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày thi hành án Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thông báo cho thân nhân hoặc người đại diện của người đã bị thi hành án biết, đồng thời bàn giao tiền, tài sản đồ vật khác có liên quan của người đã thi hành án tử hình (nếu có), việc giao nhận phải được lập biên bản theo quy định.
Xem nội dung VBĐiều 11. Trách nhiệm của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
...
5. Thực hiện các thủ tục giải quyết cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình nhận tử thi hoặc đưa hài cốt của người bị thi hành án tử hình về địa phương hoặc về nước an táng (nếu người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài).