Luật Đất đai 2024

Luật Thi hành án dân sự 2025

Số hiệu 106/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 05/12/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Thủ tục Tố tụng
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 106/2025/QH15

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2025

 

LUẬT

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật Thi hành án dân sự.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định, phán quyết theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); tổ chức, hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự.

Điều 2. Bản án, quyết định được thi hành

1. Bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, phá sản; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định về vụ án hành chính, bao gồm:

a) Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật gồm: bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định của Tòa án nhân dân tối cao được thi hành theo quy định của pháp luật; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định tuyên bố phá sản;

b) Bản án, quyết định được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

c) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành theo quy định của Luật Cạnh tranh.

3. Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại.

4. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.

5. Bản án, quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đương sự là người được thi hành án, người phải thi hành án.

2. Người được thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.

3. Người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, bao gồm cả người có tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trong quá trình tổ chức thi hành án phát sinh quyền, nghĩa vụ của họ.

5. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì đương sự không còn quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

6. Có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

7. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án bao gồm việc chuyển giao và kế thừa quyền, nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này.

8. Mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án.

9. Văn bản, hồ sơ, tài liệu bao gồm văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy và văn bản, hồ sơ, tài liệu điện tử.

10. Phí thi hành án là khoản tiền mà đương sự phải nộp khi người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định.

11. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự là tập hợp thông tin về hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên.

Điều 4. Nguyên tắc thi hành án dân sự

1. Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trong phạm vi trách nhiệm của mình, chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp và thực hiện các quyết định về thi hành án, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên.

2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án.

Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của Luật này.

3. Lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

4. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự là tiếng Việt. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Trường hợp người đó là người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt hoặc là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn thì cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự phải bố trí hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bố trí phiên dịch.

5. Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên hoặc có các hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự

1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp quản lý, được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác có trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự về việc truy cập, khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu đó để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

Việc kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. Cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu theo quy định của pháp luật.

3. Các thủ tục về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật.

Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác dữ liệu vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 6. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án

1. Người được thi hành án có các quyền sau đây:

a) Lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự để yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;

b) Xác minh và cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

c) Được thông báo về thi hành án theo quy định của Luật này;

d) Thỏa thuận với các đương sự khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc thi hành án;

đ) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án; yêu cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai; yêu cầu Tòa án giải thích bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;

e) Yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án theo quy định của Luật này;

g) Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;

h) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án theo quy định của pháp luật. Việc yêu cầu xác nhận kết quả thi hành án được thực hiện trên môi trường số hoặc trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua đường bưu điện;

i) Chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác;

k) Ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;

l) Tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án và được xét miễn, giảm phí thi hành án theo quy định của pháp luật;

m) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.

2. Người được thi hành án có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định;

b) Thực hiện các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong thi hành án; cung cấp số định danh, số tài khoản ngân hàng hoặc phương tiện thanh toán khác theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

c) Thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

d) Chịu chi phí (nếu có) khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật;

đ) Chịu phí, chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án

1. Người phải thi hành án có các quyền sau đây:

a) Lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự để yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;

b) Quyền quy định tại các điểm c, d, đ, g, h và m khoản 1 Điều 6 của Luật này;

c) Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án cho người khác theo quy định của Luật này;

d) Ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án, yêu cầu xác nhận kết quả thi hành án và các trường hợp khác được ủy quyền theo quy định của Luật này;

đ) Được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án; được xét miễn, giảm phí và chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

2. Người phải thi hành án có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định; thực hiện các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong thi hành án;

b) Cung cấp số định danh; kê khai trung thực tài khoản, tài sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai, cung cấp thông tin đó;

c) Thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

d) Chịu phí, chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền sau đây:

a) Được thông báo, tham gia vào việc thi hành án mà mình có liên quan theo quy định của pháp luật;

b) Quyền quy định tại điểm đ và điểm m khoản 1 Điều 6 của Luật này.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong thi hành án;

b) Thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

c) Cung cấp thông tin liên quan đến việc thi hành án theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.

Điều 9. Bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự

1. Nhà nước bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, kinh phí, trụ sở làm việc, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác và nguồn lực chuyển đổi số cho hệ thống thi hành án dân sự; công cụ hỗ trợ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

Khoán phí thi hành án dân sự và các khoản thu hợp pháp khác của cơ quan thi hành án dân sự được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước. Sau khi nộp ngân sách nhà nước, khoản phí thi hành án dân sự và các khoản thu hợp pháp khác được bố trí tương ứng cho cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện các nhiệm vụ chi tăng cường, hiện đại hóa trụ sở làm việc, chuyển đổi số, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác và các hoạt động nghiệp vụ đặc thù phục vụ công tác quản lý thi hành án dân sự, công tác thi hành án dân sự.

2. Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác thi hành án khác trong hệ thống thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, thẻ để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác.

3. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được bảo vệ an ninh, an toàn, trật tự về trụ sở, phương tiện, tài liệu, tài sản.

Người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự được bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật, an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân, tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện các biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự;

b) Chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

c) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

d) Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự.

2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác thi hành án dân sự và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

b) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

c) Hướng dẫn, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thanh tra viên, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự và Thừa hành viên; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

d) Ban hành và thực hiện chế độ thống kê, thủ tục quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.

3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội.

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước liên quan đến thi hành án dân sự theo quy định của Chính phủ và quy định của pháp luật có liên quan.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ;

b) Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;

c) Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên; đăng ký hành nghề và cấp Thẻ Thừa hành viên; tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên; thành lập, đăng ký hoạt động, chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về khiếu nại;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.

5. Ủy ban nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong việc vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn;

b) Giải quyết kịp thời những kiến nghị, vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật;

c) Cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

d) Tham gia và phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án trên địa bàn theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;

đ) Tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung quỹ nhà nước và bảo quản tài sản theo quy định của Luật này;

e) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.

Điều 11. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong thi hành án dân sự

1. Tòa án nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chuyển giao bản án, quyết định, tài liệu có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật;

b) Trả lời theo thẩm quyền các kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn theo quy định của pháp luật;

c) Phối hợp với các cơ quan liên quan trong thi hành án dân sự;

d) Thực hiện trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định quy định tại Điều 13 của Luật này;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

2. Tòa án nhân dân tối cao có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;

c) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự, tổng kết công tác thi hành án dân sự;

d) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật;

đ) Yêu cầu Tòa án nhân dân các cấp giải quyết, trả lời yêu cầu, kiến nghị của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nhận được phản ánh về vướng mắc trong việc trả lời yêu cầu, kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự thì Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa án nhân dân các cấp giải quyết;

e) Yêu cầu Tòa án nhân dân các cấp phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự trong thi hành án dân sự;

g) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp trong tiếp nhận, chuyển giao văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin trên môi trường số.

3. Tòa án quân sự trung ương có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

4. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu và tương đương có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Giải quyết kháng nghị về quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

c) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

5. Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Xem xét, quyết định việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;

c) Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự.

Khi kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và quy định của Luật này; chịu trách nhiệm về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự và kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thi hành án dân sự, kiểm sát thi hành án dân sự;

b) Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật;

c) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự;

d) Chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp phối hợp với Tòa án nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương thực hiện rà soát, đánh giá, xác định và giải quyết các trường hợp bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành;

đ) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; chỉ đạo, hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong tiếp nhận, chuyển giao văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin trên môi trường số.

3. Thẩm quyền kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thi hành án dân sự thực hiện tương ứng với thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quy định tại khoản 1 Điều 112 của Luật này.

Điều 13. Trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định

1. Bảo đảm bản án, quyết định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế.

2. Giải quyết, trả lời các yêu cầu, kiến nghị của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

3. Có văn bản sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai, giải thích bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không có căn cứ để sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 14. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự

1. Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kịp thời các quyết định về thi hành án, văn bản, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các thủ tục thi hành án khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an bảo đảm trật tự, an toàn theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm của cơ quan Công an theo khoản 1 Điều này không cản trở việc thực hiện các nhiệm vụ quốc tế và hình sự khẩn cấp của cơ quan Công an theo quy định của Luật Dân độ và các luật khác có liên quan.

Điều 15. Giám sát hoạt động thi hành án dân sự

Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án dân sự

1. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sau đây:

a) Không chấp hành bản án, quyết định; không chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; chống đối, trì hoãn hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình tổ chức thi hành án;

b) Nhận hối lộ; chiếm đoạt, sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án; phá hủy niêm phong, tiêu dùng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại, tẩu tán vật chứng, tài sản tạm giữ, thay đổi hiện trạng, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án;

c) Cố ý không ra quyết định về thi hành án hoặc ra quyết định về thi hành án trái pháp luật; áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;

d) Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn cản trở, can thiệp trái pháp luật việc giải quyết việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án; cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để thi hành trái pháp luật, trì hoãn việc thi hành án;

đ) Giả mạo, làm sai lệch văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin, dữ liệu điện tử để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian tổ chức thi hành án; làm lộ thông tin hoặc lợi dụng, lạm dụng thông tin về tài khoản, thu nhập, tài sản của người phải thi hành án để sử dụng trái phép hoặc làm ảnh hưởng đến việc thi hành án;

e) Xâm phạm, đe dọa xâm phạm an ninh, an toàn, trật tự đối với trụ sở làm việc của cơ quan thi hành án và địa điểm diễn ra các hoạt động thi hành án;

g) Khiếu nại, tố cáo, phản ánh, lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm kích động, vu cáo, vu khống, xúc phạm uy tín, sự tôn nghiêm, danh dự, nhân phẩm của cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án;

h) Thiếu trách nhiệm, cố ý chậm trễ trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án;

i) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm, tài sản của Chấp hành viên, Thừa hành viên, những người khác tham gia vào hoạt động thi hành án hoặc người thân của họ;

k) Trốn tránh việc nộp phí thi hành án hoặc các khoản phải nộp khác.

2. Nghiêm cấm Chấp hành viên thực hiện các hành vi sau đây:

a) Hành vi quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này;

b) Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm;

c) Vi phạm chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên;

d) Trực tiếp tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và của vợ, chồng, con đẻ, con nuôi của Chấp hành viên; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

3. Nghiêm cấm Thừa hành viên thực hiện các hành vi sau đây:

a) Hành vi quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều này;

b) Vi phạm chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên;

c) Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, sử dụng thông tin được cung cấp để đe dọa, nhũng nhiễu hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tổ chức thi hành án;

d) Trực tiếp tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và của vợ, chồng, con đẻ, con nuôi của Thừa hành viên; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa hành viên, của vợ hoặc chồng của Thừa hành viên; cháu ruột mà Thừa hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì;

đ) Đồng thời hành nghề tại 02 văn phòng thi hành án dân sự trở lên; đồng thời là luật sư, công chứng viên, quản tài viên, đấu giá viên, giám định viên, thẩm định viên về giá.

Chương II

HỆ THỐNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ VĂN PHÒNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Mục 1. HỆ THỐNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ CHẤP HÀNH VIÊN

Điều 17. Hệ thống thi hành án dân sự

1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

2. Cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án cấp quân khu).

3. Hệ thống thi hành án dân sự được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 18. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự

1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước, tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên theo quy định của pháp luật.

Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng.

2. Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

Điều 19. Cơ quan thi hành án dân sự

1. Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có chức năng tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan.

2. Cơ quan thi hành án dân sự có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng. Người đứng đầu cơ quan thi hành án dân sự là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

3. Cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố bao gồm các đơn vị sau đây:

a) Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự;

b) Phòng Thi hành án dân sự khu vực;

c) Các đơn vị cấp phòng khác.

4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án cấp quân khu.

Điều 20. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố

1. Quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố; bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự.

2. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật này.

3. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị xét đặc xá, xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho người phải thi hành án.

4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.

5. Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.

6. Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

7. Báo cáo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về kết quả thi hành án dân sự; việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định, giải quyết kiến nghị của Tòa án; công tác phối hợp và các nội dung khác trong hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.

8. Tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.

9. Được truy cập, truy xuất dữ liệu, khai thác, sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

10. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự khác, văn phòng thi hành án dân sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.

11. Tổng kết thực tiễn thi hành án dân sự; thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.

12. Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 21. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án cấp quân khu

1. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định quy định tại khoản 3 Điều 32 của Luật này.

2. Tổng kết thực tiễn công tác thi hành án dân sự theo thẩm quyền; thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.

4. Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án cấp quân khu theo quy định của pháp luật và hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị xét đặc xá, xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho người phải thi hành án.

6. Giúp Tư lệnh quân khu và tương đương thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án theo quy định của pháp luật.

7. Tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.

8. Được truy cập, truy xuất dữ liệu, khai thác, sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

9. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.

10. Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 22. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

1. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự là Chấp hành viên trung cấp trở lên.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Ra quyết định thi hành án và các quyết định, văn bản khác về thi hành án theo thẩm quyền;

b) Quản lý, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự;

c) Yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các yêu cầu, kiến nghị hoặc phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự;

d) Đề nghị cơ quan đã ra bản án, quyết định sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai, giải thích những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành.

Trường hợp nhận thấy việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án chưa rõ, khó thi hành thì có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết. Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định có văn bản trả lời;

đ) Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền để kiến nghị quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nếu nhận thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật;

e) Giải quyết và trả lời kháng nghị, yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm;

g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự;

h) Tổ chức thực hiện báo cáo, thống kê thi hành án dân sự;

i) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền;

k) Khi trực tiếp tổ chức thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên quy định tại Điều 25 của Luật này;

l) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố điều động, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án dân sự; thực hiện những việc khác được phân cấp, phân quyền theo quy định của pháp luật;

m) Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, người làm công tác thi hành án thuộc quyền quản lý; thực hiện những việc khác được phân cấp, phân quyền theo quy định của pháp luật;

n) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

3. Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể phân công, ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp không được ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc phân công, ủy quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân công, ủy quyền, trừ trường hợp người được phân công, ủy quyền thực hiện không đúng nội dung, phạm vi, thời hạn đã được phân công, ủy quyền.

Người được phân công, ủy quyền phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đã được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, ủy quyền.

4. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, miễn nhiệm.

5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này và tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

Điều 23. Chấp hành viên, Chấp hành viên trưởng

1. Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.

2. Trưởng phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực đồng thời là Chấp hành viên trưởng.

Chấp hành viên trưởng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên; hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động tổ chức thi hành án của Chấp hành viên Phòng Thi hành án dân sự khu vực và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân công, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

Chấp hành viên trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

3. Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Điều 24. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên

1. Công chức được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp phải có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;

b) Có trình độ cử nhân luật trở lên;

c) Có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên;

d) Đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự;

đ) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên.

2. Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp phải đáp ứng một trong các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên và đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm Chấp hành viên trung cấp;

b) Chấp hành viên sơ cấp được bổ nhiệm Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực, Trưởng phòng Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự.

3. Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên cao cấp phải đáp ứng một trong các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên và đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm Chấp hành viên cao cấp;

b) Chấp hành viên trung cấp được bổ nhiệm Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

4. Sỹ quan quân đội tại ngũ được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp trong quân đội phải có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này.

Điều kiện, tiêu chuẩn để được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp trong quân đội thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự, người đã từng là Chấp hành viên nhưng được điều động, bố trí vào vị trí việc làm khác và có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên ở ngạch tương đương.

6. Trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp, từ 15 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên cao cấp.

Trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực, người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp, từ 10 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp.

7. Chấp hành viên đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác đến cơ quan khác hoặc được bố trí vào vị trí việc làm khác.

8. Chấp hành viên có thể bị xem xét miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

a) Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên;

b) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà không còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên;

c) Theo nguyện vọng của Chấp hành viên.

9. Chấp hành viên có thể bị cách chức khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án chưa đến mức bị buộc thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy cần phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức;

b) Vi phạm nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này mà xét thấy cần thiết phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức.

10. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 25. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên

1. Tổ chức thi hành vụ việc được phân công, ra các quyết định, văn bản khác về thi hành án theo thẩm quyền.

2. Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

3. Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án.

4. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp, chia sẻ thông tin, dữ liệu, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.

5. Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.

6. Đề nghị cơ quan Công an xử lý người có hành vi gây rối trật tự công cộng, chống đối, cản trở việc tổ chức thi hành án, chống người thi hành công vụ khi tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

7. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.

8. Áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật hoặc để thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.

9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.

10. Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật hoặc theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

12. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định, hành vi của mình.

Mục 2. VĂN PHÒNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỪA HÀNH VIÊN

Điều 26. Văn phòng thi hành án dân sự

1. Văn phòng thi hành án dân sự là tổ chức hành nghề của Thừa hành viên để thực hiện việc tổ chức thi hành án và các công việc khác theo quy định của pháp luật.

2. Văn phòng thi hành án dân sự được tổ chức, hoạt động theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan đối với loại hình doanh nghiệp tương ứng; có trụ sở, con dấu, tài khoản riêng.

3. Văn phòng thi hành án dân sự do 01 Thừa hành viên thành lập được tổ chức theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là Trưởng văn phòng thi hành án dân sự và phải là Thừa hành viên đã hành nghề Thừa hành viên từ đủ 02 năm trở lên.

Văn phòng thi hành án dân sự do 02 Thừa hành viên trở lên thành lập được tổ chức theo loại hình công ty hợp danh. Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải là thành viên hợp danh của văn phòng thi hành án dân sự và đã hành nghề Thừa hành viên từ đủ 02 năm trở lên.

Trưởng văn phòng thi hành án dân sự là người đại diện theo pháp luật của văn phòng thi hành án dân sự, thực hiện việc quản lý và điều hành hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, không được thuê người khác điều hành văn phòng thi hành án dân sự, không được cho thuê văn phòng thi hành án dân sự.

4. Các tranh chấp về hợp đồng, thực hiện hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan đến việc thực hiện công việc của văn phòng thi hành án dân sự và Thừa hành viên do cơ quan thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật về tố tụng dân sự.

5. Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự.

Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng thi hành án dân sự

1. Tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật này.

2. Thỏa thuận, ký hợp đồng với người yêu cầu; thực hiện công việc theo hợp đồng, nhận thù lao, được thanh toán các chi phí theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.

3. Ký hợp đồng lao động và quản lý Thừa hành viên, người lao động khác thuộc văn phòng mình trong việc tuân thủ pháp luật, chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

4. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên của Văn phòng mình theo quy định của Chính phủ.

5. Bồi thường thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên, người lao động khác thuộc văn phòng mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Trường hợp văn phòng thi hành án dân sự đã chuyển đổi, hợp nhất, sáp nhập thì văn phòng thi hành án dân sự kế thừa quyền và nghĩa vụ của văn phòng thi hành án dân sự đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại; trường hợp văn phòng thi hành án dân sự đã giải thể, chấm dứt hoạt động thì Thừa hành viên, người lao động khác trực tiếp gây thiệt hại phải tự mình bồi thường thiệt hại, kể cả trường hợp người đó không còn là Thừa hành viên hoặc người lao động của 01 văn phòng thi hành án dân sự.

6. Thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thống kê, báo cáo, kiểm tra, thanh tra, kháng nghị, kiến nghị, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo và các yêu cầu khác liên quan đến hoạt động thi hành án theo quy định của pháp luật.

7. Lập, quản lý, sử dụng sổ sách, hồ sơ nghiệp vụ và thực hiện lưu trữ theo quy định của pháp luật; thu, quản lý, sử dụng chi phí thực hiện công việc của Thừa hành viên theo quy định của pháp luật.

8. Phát triển, tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật; khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.

9. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.

10. Tạo điều kiện, khuyến khích các đương sự thỏa thuận về việc thi hành án theo quy định của pháp luật; hỗ trợ, ghi nhận và tổ chức thực hiện thỏa thuận của đương sự nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong thi hành án dân sự.

11. Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 28. Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự

1. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng thi hành án dân sự.

2. Trong hoạt động thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và h khoản 2 Điều 22 của Luật này;

b) Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này;

c) Khi trực tiếp tổ chức thi hành án, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa hành viên quy định tại Điều 30 của Luật này.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 29. Thừa hành viên

1. Thừa hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định và thực hiện các công việc khác theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan.

2. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, được đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên và có tiêu chuẩn khác thì có thể được bổ nhiệm làm Thừa hành viên.

3. Thừa hành viên có quyền thành lập, tham gia thành lập văn phòng thi hành án dân sự hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng tại văn phòng thi hành án dân sự và phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên.

Thừa hành viên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật và hoàn trả cho văn phòng thi hành án dân sự khoản tiền mà tổ chức này đã bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp Thừa hành viên có lỗi, gây thiệt hại.

4. Thừa hành viên do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm.

5. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa hành viên.

Điều 30. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa hành viên

1. Thừa hành viên được thực hiện các công việc sau đây:

a) Tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này;

b) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

c) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu;

d) Lập vi bằng theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

đ) Thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật.

2. Khi tổ chức thi hành án dân sự, Thừa hành viên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức thi hành vụ việc được phân công;

b) Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

c) Yêu cầu đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến văn phòng thi hành án dân sự để giải quyết việc thi hành án;

d) Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án theo quy định của Luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Thừa hành viên có quyền xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở.

Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên có nghĩa vụ thanh toán chi phí (nếu có) theo quy định của pháp luật khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo quy định của Luật này;

đ) Đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản;

e) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật;

g) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

3. Khi thực hiện xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu, Thừa hành viên thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.

4. Thực hiện các công việc quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này theo quy định của Chính phủ.

5. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Thừa hành viên tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và trước pháp luật về việc thực hiện công việc của mình.

Điều 31. Việc tổ chức thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên

1. Văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với những bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật này trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở, trừ quy định tại điểm k khoản 1 Điều 32 và khoản 2 Điều 33 của Luật này.

Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền tổ chức thi hành án giữa cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp quyết định.

2. Việc yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật này.

Trong cùng một bản án, quyết định mà các đương sự yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự khác nhau tổ chức thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm phối hợp trong quá trình tổ chức thi hành án.

3. Thỏa thuận về việc tổ chức thi hành án giữa người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự được thể hiện dưới hình thức hợp đồng dịch vụ.

Người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận về thù lao, chi phí thi hành án và các chi phí khác (nếu có).

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án.

Quy định tại Chương III của Luật này được áp dụng trong trường hợp văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án như Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; Thừa hành viên thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án như Chấp hành viên. Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên không được áp dụng các quy định liên quan đến ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các quy định liên quan đến trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

5. Việc thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt và các bên thanh lý hợp đồng dịch vụ trong các trường hợp sau đây:

a) Có căn cứ quy định tại Điều 55 của Luật này;

b) Theo thỏa thuận chấm dứt việc thi hành án giữa văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu thi hành án;

c) Có căn cứ xác định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này, trừ trường hợp văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu có thỏa thuận khác;

d) Người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;

đ) Người phải thi hành án yêu cầu thi hành án mà không thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ theo bản án, quyết định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án, trừ thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Sau khi thanh lý hợp đồng, người phải thi hành án không được yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.

6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều này, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, trừ trường hợp người yêu cầu không đồng ý. Việc giao, nhận hồ sơ thi hành án được lập thành biên bản.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

Kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật được công nhận và sử dụng. Văn phòng thi hành án dân sự chịu trách nhiệm đối với các thủ tục đã thực hiện.

7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng dịch vụ theo quy định tại khoản 5 Điều này, văn phòng thi hành án dân sự phải thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân sự cùng địa bàn tỉnh, thành phố.

8. Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện các quyết định về thi hành án, văn bản, đề nghị của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên khi tổ chức thi hành án.

9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Chương III

THỦ TỤC, BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Mục 1. THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 32. Thẩm quyền thi hành án

1. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

b) Bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

d) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;

đ) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;

e) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

g) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

h) Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

i) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh; quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do cơ quan thi hành án dân sự nơi các cơ quan này có trụ sở thi hành;

k) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

l) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

m) Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

n) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

2. Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự, Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành các bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này theo phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.

3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;

b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

c) Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

d) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở;

đ) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

e) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Chuyển giao, gửi bản án, quyết định và chủ động ra quyết định thi hành án

1. Việc chuyển giao, gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng. Trường hợp pháp luật không có quy định thì cơ quan ra bản án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án đối với phần bản án, quyết định sau đây:

a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án;

b) Trả lại tiền, tài sản, vật, giấy tờ cho đương sự;

c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu khác cho Nhà nước; tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản;

d) Khoản tiền bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên trong bản án, quyết định;

đ) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;

e) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án;

h) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

3. Thời hạn chủ động ra quyết định thi hành án như sau:

a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 2 Điều này và bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan (nếu có);

b) Ngay sau khi nhận được quyết định quy định tại điểm e khoản 2 Điều này;

c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định quy định tại điểm g khoản 2 Điều này.

Điều 34. Yêu cầu và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

1. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật này. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Cạnh tranh.

Việc yêu cầu thi hành án được thực hiện trên môi trường số hoặc trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua đường bưu điện.

2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật này.

3. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu, các tài liệu kèm theo và thông báo cho người yêu cầu.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án và bản án, quyết định, trừ trường hợp từ chối yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó.

4. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án, thông báo cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định;

b) Bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

c) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;

d) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án;

đ) Nội dung yêu cầu thi hành án đã có quyết định thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 35. Thông báo thi hành án, gửi quyết định về thi hành án

1. Quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

Việc thông báo được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung quyết định đó để thi hành.

3. Việc thông báo thi hành án được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;

b) Niêm yết công khai;

c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

4. Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.

Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu tương trợ tư pháp để tống đạt giấy tờ theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự;

c) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cho người được thông báo là công dân Việt Nam;

d) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của người được thông báo đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với hình thức này;

đ) Thông báo qua văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc người đại diện tại Việt Nam của người được thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Điều 36. Tự nguyện và thỏa thuận thi hành án

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, trừ trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về việc thi hành án và phải chịu trách nhiệm về thỏa thuận đó. Khi thỏa thuận về việc thi hành án, các đương sự phải thỏa thuận về phí thi hành án và các chi phí phát sinh (nếu có).

Thỏa thuận phải được lập thành văn bản, thể hiện rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.

Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án.

Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Điều 37. Xác minh điều kiện thi hành án

1. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay.

Người phải thi hành án có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó.

3. Việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật.

Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án.

Trường hợp xác minh trực tiếp, Chấp hành viên lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh, có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.

Trường hợp xác minh bằng văn bản thì văn bản yêu cầu cung cấp thông tin phải nêu rõ nội dung cần cung cấp và các thông tin cần thiết khác.

4. Khi xác minh điều kiện thi hành án, trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên thực hiện như sau:

a) Yêu cầu đương sự cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án; yêu cầu người phải thi hành án nộp các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và các tài liệu khác có liên quan đến điều kiện thi hành án;

b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ thông tin tài sản, tài khoản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cung cấp thông tin, giao nộp hoặc cung cấp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất; những tài liệu có liên quan đến giải quyết việc thi hành án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ;

c) Xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, thu nhập và các điều kiện khác của người phải thi hành án. Trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên có quyền:

Yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn để xem xét hiện trạng tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản của người phải thi hành án hoặc làm rõ các nội dung cần xác minh.

Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định số cổ phần, phần vốn góp, tài sản số và các tài sản đặc thù khác của người phải thi hành án.

Trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định giá trị tài sản của người phải thi hành án.

Tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan chuyên môn thực hiện đo vẽ, xác định ranh giới, mốc giới đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh;

d) Cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.

5. Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án; cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện khác của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân về kết quả xác minh thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.

6. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm:

a) Chia sẻ dữ liệu theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;

b) Cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn theo yêu cầu của Chấp hành viên, người được thi hành án theo quy định của pháp luật; ký vào biên bản xác minh trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; đối với thông tin về tài khoản hoặc trường hợp thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải cung cấp ngay;

c) Cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký tài sản có trách nhiệm cung cấp thông tin về người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.

7. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp, chậm cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cá nhân, người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

8. Chấp hành viên có thể sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên thực hiện để tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

Điều 38. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;

b) Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;

c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao cho người khác nuôi dưỡng hoặc chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao nuôi dưỡng;

d) Thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự không có thỏa thuận khác; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này;

đ) Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;

e) Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật này nhưng sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;

g) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật này mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và người được thi hành án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;

h) Tài sản của người phải thi hành án đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm cho khoản nợ xấu theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà người phải thi hành án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án.

2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.

4. Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 39. Xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án

1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác thì Chấp hành viên xử lý như sau:

a) Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;

b) Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Tài sản thi hành án thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:

a) Trường hợp tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với phần tài sản tương ứng với phần sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án;

b) Trường hợp tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của họ.

3. Trường hợp tài sản để thi hành án có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trừ trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó. Sau khi thông báo, Chấp hành viên thực hiện như sau:

a) Trường hợp đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất thì thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 46 của Luật này. Việc xử lý tài sản thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền;

b) Trường hợp hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không khởi kiện tại Tòa án, không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc tranh chấp được Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thụ lý không liên quan đến quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định của Luật này.

4. Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật thì xử lý như sau:

a) Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó;

b) Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

5. Trường hợp có giao dịch về tài sản thi hành án nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng mà cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.

6. Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều này thì không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án; nếu Chấp hành viên không thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập.

Điều 40. Bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án

1. Việc giao bảo quản tài sản thi hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Trường hợp tài sản đang do người phải thi hành án hoặc người khác quản lý, sử dụng, bảo quản thì giao cho người đó bảo quản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Tài sản là vàng, bạc, đồ cổ, kim khí quý, đá quý, tiền mặt, ngoại tệ tiền mặt hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước;

c) Giao cho cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;

d) Do cơ quan thi hành án dân sự bảo quản;

đ) Trường hợp không thực hiện được việc giao bảo quản theo quy định tại các điểm a, c và d khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo quản trong thời gian chưa xử lý được tài sản.

2. Tài sản thi hành án là quyền sử dụng đất đang được khai thác, sử dụng thì người được giao bảo quản được tiếp tục khai thác, sử dụng tài sản đó.

3. Trường hợp phát sinh lợi tức thu được từ việc khai thác tài sản thì sau khi trừ các chi phí có liên quan, người được giao bảo quản tài sản phải nộp cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

4. Trong thời gian được giao bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án, người được giao không được chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản hoặc thực hiện các giao dịch khác liên quan đến tài sản; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản, làm thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng, mục đích sử dụng tài sản.

Người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 41. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án

1. Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện như sau:

a) Trường hợp hợp nhất thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Trường hợp sáp nhập thì tổ chức sáp nhập tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

c) Trường hợp chia, tách thì cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ cá nhân, tổ chức tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án theo quyết định chia, tách, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu quyết định chia, tách không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia, tách các tổ chức mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị chia, tách;

d) Trường hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp doanh nghiệp giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tài sản để thi hành án không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản đó;

đ) Trường hợp phá sản thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo quyết định về phá sản;

e) Trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án;

g) Trường hợp sắp xếp lại thì tổ chức sau sắp xếp tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án; trường hợp chưa xác định được tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ thi hành án thì cơ quan có thẩm quyền xác định;

h) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế và hướng dẫn của Chính phủ.

Nếu thi hành nghĩa vụ về trả tài sản mà người phải thi hành án chết thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành án theo quy định của Luật này.

Nếu thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà người phải thi hành án chết nhưng có tài sản để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án theo quy định của Luật này, trừ trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về việc phân chia di sản thừa kế hoặc những người thừa kế thỏa thuận về việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án.

3. Trường hợp đương sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba thì thực hiện như sau:

a) Người được thi hành án chuyển giao quyền được thi hành án của mình thì không cần có sự đồng ý của người phải thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác;

b) Người phải thi hành án chuyển giao nghĩa vụ thi hành án của mình thì phải được sự đồng ý của người được thi hành án;

c) Người chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự và các đương sự khác về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án.

4. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền hoặc xác định được người nhận chuyển giao, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án. Người được chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án có quyền, nghĩa vụ của đương sự tương ứng với phần quyền, nghĩa vụ được chuyển giao. Chấp hành viên căn cứ quyết định thi hành án và quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án để tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

Điều 42. Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

1. Người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;

b) Hết thời hạn 05 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

2. Người phải thi hành án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:

a) Hết thời hạn 05 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án;

b) Hết thời hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.

3. Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần nghĩa vụ thi hành án nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được nghĩa vụ thi hành án còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành nghĩa vụ thi hành án còn lại.

4. Phần nghĩa vụ được xét miễn, giảm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không bao gồm lãi chậm thi hành án theo bản án, quyết định; phần lãi chậm thi hành án trên số tiền được miễn, giảm đương nhiên được miễn, giảm.

Người phải thi hành án quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.

5. Quyết định thi hành án lần đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

6. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều này.

Điều 43. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau đây:

1. Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

2. Bản sao bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;

3. Bản sao biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;

4. Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;

5. Ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

Điều 44. Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

1. Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

3. Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.

Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang chấp hành hình phạt tù.

Điều 45. Kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

1. Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Hết thời hạn kháng nghị, Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành.

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Tòa án cấp trên trực tiếp.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Tòa án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để xét kháng nghị.

Phiên họp xét kháng nghị do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại diện cơ quan thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tham gia. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị.

Quyết định của Tòa án về giải quyết kháng nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi hành.

4. Trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị. Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

5. Trường hợp sau khi quyết định cho miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực mà phát hiện người phải thi hành án có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm có trách nhiệm đề nghị Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự xem xét việc kháng nghị quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo thủ tục tái thẩm.

Điều 46. Hoãn thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà người phải thi hành án bị bệnh hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của pháp luật;

b) Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án;

c) Đương sự thỏa thuận bằng văn bản về việc hoãn thi hành án hoặc người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu hoãn thi hành án làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;

d) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác để thi hành án;

đ) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu hủy kết quả đấu giá, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá;

e) Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

g) Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật;

h) Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

i) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;

k) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật chưa thực hiện được vì tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng;

l) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 2 của Luật này.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế.

Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.

Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định hoãn thi hành án đối với phần hoặc việc thi hành án đã thi hành xong và có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.

Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.

Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.

Điều 47. Tạm đình chỉ thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Trường hợp thi hành nghĩa vụ về tài sản mà nhận được thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc áp dụng thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trợ cấp thôi việc, trả lương cho người lao động; quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để sung vào công quỹ nhà nước; bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật;

b) Nhận được yêu cầu của Tòa án về việc tạm đình chỉ thi hành quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp vụ việc đã được thi hành xong toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án mà có văn bản thông báo cho Tòa án biết.

2. Cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tạm đình chỉ thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị hoặc Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia. Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án.

3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được một trong các văn bản sau đây:

a) Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền;

b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên hoặc sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị;

c) Thông báo của Tòa án về việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong trường hợp nghĩa vụ về tài sản bị tạm đình chỉ chưa được thanh toán;

d) Quyết định của Tòa án về việc không mở thủ tục phá sản.

Điều 48. Đình chỉ thi hành án

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

1. Người được thi hành án là cá nhân chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế, không có người thừa kế; người được thi hành án là tổ chức bị giải thể, kết thúc hoạt động mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của tổ chức đó không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác;

2. Người phải thi hành án là cá nhân chết không có tài sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế; người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, kết thúc hoạt động mà không còn tài sản và theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác;

3. Người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết, đã thành niên hoặc có bản án, quyết định của Tòa án thay đổi người nuôi dưỡng;

4. Đương sự có thỏa thuận hoặc người được thi hành án yêu cầu đình chỉ một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh việc nộp phí thi hành án.

Sau khi có quyết định đình chỉ thi hành án, đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án trở lại đối với nội dung đã đình chỉ;

5. Có quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án;

6. Nhận được bản án, quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đang thi hành; trường hợp giao tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 86 của Luật này thì việc đình chỉ được thực hiện sau khi giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá;

7. Nhận được thông báo của Tòa án về việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với người phải thi hành án theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản trong trường hợp nghĩa vụ về tài sản bị tạm đình chỉ đã được thanh toán;

8. Nhận được quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án đối với người phải thi hành án.

Điều 49. Ủy thác thi hành án

1. Cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở sau khi đã xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên trên địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này, trường hợp tài sản là tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản hoặc trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ về tài sản thì ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; trường hợp không xác định được nơi có tài sản thì ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này;

b) Ủy thác thi hành án đối với khoản phải thi hành án cụ thể có tài sản bảo đảm theo bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản.

Ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có vật chứng, tài sản mà bản án, quyết định tuyên tịch thu sung quỹ, tiêu hủy.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định ủy thác. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ra quyết định ủy thác thi hành án trong thời hạn 24 giờ kể từ khi có căn cứ. Trường hợp đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và hồ sơ kèm theo, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác ra quyết định thi hành án. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án.

Các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, quyết định tạm hoãn xuất cảnh và các quyết định về thi hành án khác liên quan đến khoản ủy thác của cơ quan ủy thác có hiệu lực cho đến khi có quyết định thay thế của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.

3. Trường hợp người phải thi hành án có tài sản ở nhiều nơi thì việc ủy thác thi hành án thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 50. Ủy thác xử lý tài sản

1. Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở, đồng thời có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản được bản án, quyết định tuyên kê biên, phong tỏa hoặc xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án trong trường hợp tài sản ở nhiều địa phương khác nhau.

2. Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới, cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở không đủ để thi hành án;

b) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở đã được Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mà người phải thi hành án không có tài sản khác trên địa bàn tỉnh, thành phố đó để thi hành án.

3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định ủy thác xử lý tài sản khi có căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác xử lý tài sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác ra quyết định xử lý tài sản ủy thác. Chấp hành viên căn cứ quyết định thi hành án, kết quả tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác và quyết định xử lý tài sản ủy thác để tiếp tục thực hiện trình tự, thủ tục xử lý tài sản theo quy định của Luật này.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 51. Bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án

Trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án.

Điều 52. Thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án

1. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án thu hồi quyết định về thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền;

b) Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;

c) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn;

d) Trường hợp ủy thác thi hành án theo quy định của Luật này;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án trong trường hợp quyết định về thi hành án có sai sót mà không làm thay đổi nội dung vụ việc thi hành án.

3. Văn bản giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của cơ quan đã ra bản án, quyết định là căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án đã ban hành hoặc tiếp tục tổ chức thi hành án.

4. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định hủy hoặc yêu cầu hủy quyết định về thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp trong các trường hợp sau đây:

a) Phát hiện các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp không tự khắc phục sau khi có yêu cầu;

b) Quyết định về thi hành án có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

5. Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ.

Điều 53. Phí, chi phí thi hành án

1. Đương sự yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án theo quy định của pháp luật.

Người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản tiền, tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án hoặc trong thời hạn tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người phải thi hành án trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản phải thi hành theo quy định của Luật này.

2. Chi phí thi hành án là các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án, bao gồm chi phí cưỡng chế và chi phí khác. Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định do ngân sách nhà nước, người được thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chịu.

3. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;

b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;

c) Chi phí cho việc thẩm định giá, xác định giá, giám định tài sản, bán tài sản; chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi phí xác minh, thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;

đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;

e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án;

g) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.

4. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại hoặc trường hợp hoãn thi hành án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 của Luật này dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực;

b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ;

c) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.

5. Ngân sách nhà nước trả chi phí thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 82 của Luật này;

b) Xác minh điều kiện thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế;

c) Đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;

d) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

6. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.

7. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán tài sản. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.

8. Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí bảo đảm cho việc tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án.

9. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.

Điều 54. Thanh toán tiền thi hành án

1. Sau khi trừ các chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì số tiền thi hành án được thanh toán cho các nghĩa vụ thi hành án theo thứ tự sau đây:

a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần;

b) Án phí, lệ phí Tòa án;

c) Tiền phạt; khoản truy thu tiền để sung quỹ nhà nước;

d) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế;

đ) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.

2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:

a) Theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;

b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án theo một hoặc nhiều bản án, quyết định đã có yêu cầu của đương sự đang do cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế.

Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán;

c) Sau khi thanh toán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.

3. Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể đã được xác định trong bản án, quyết định thì số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đó được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ các chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này, các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản và án phí của bản án, quyết định đó.

Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này.

4. Thứ tự thanh toán trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng sau khi trừ khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này.

5. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản thực hiện theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản.

6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền thi hành án hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều này, trừ trường hợp cần kéo dài thời hạn thanh toán theo quy định của Chính phủ.

Việc thanh toán tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp không thể chuyển khoản thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ. Trường hợp đương sự không đến nhận thì số tiền đó được xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Điều 55. Kết thúc thi hành án

Việc thi hành án kết thúc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình;

2. Có quyết định đình chỉ thi hành án;

3. Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

Mục 2. THỦ TỤC THI HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

Điều 56. Bảo quản, nhập, xuất vật chứng, tài sản tạm giữ

1. Vật chứng, tài sản tạm giữ được tuyên trong bản án, quyết định hình sự được bảo quản theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bảo quản vật chứng, tài sản, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan tài chính, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan khác có liên quan trong việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ để thi hành khoản tịch thu, sung quỹ nhà nước, tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc xử lý để thi hành án.

Điều 57. Thi hành khoản xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước

1. Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thông báo và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ cho cơ quan tài chính cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vật chứng, tài sản để xử lý theo quy định của pháp luật.

Chi phí bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ chi trả theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp quyết định tịch thu vật chứng, tài sản tạm giữ đã được thi hành nhưng sau đó phát hiện có sai lầm và đã được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định tịch thu thì cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với cơ quan tài chính quy định tại khoản 1 Điều này để làm thủ tục hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

3. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan tài chính, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này.

4. Đối với khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản án, quyết định của Tòa án mà sau 05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Đối với khoản tiền đã tạm thu nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa nhận được bản án, quyết định thì được xử lý theo quy định tại khoản này.

Điều 58. Tiêu hủy vật chứng, tài sản

1. Cơ quan thi hành án dân sự tiêu hủy vật chứng, tài sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bản án, quyết định tuyên tiêu hủy vật chứng, tài sản;

b) Các trường hợp tiêu hủy tài sản theo quy định của Luật này.

2. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này hoặc kể từ ngày có quyết định tiêu hủy đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy ngay.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản do cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thành lập gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức tiêu hủy là thành viên và đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan chuyên môn có trách nhiệm cử đại diện tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản do cơ quan thi hành án cấp quân khu thành lập gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên và đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần thiết.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản quyết định cách thức tiêu hủy vật chứng, tài sản phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

3. Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu hủy vật chứng, tài sản.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 59. Trả lại tiền, tài sản cho đương sự

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với trường hợp bản án, quyết định tuyên trả lại tiền, tài sản cho đương sự hoặc kể từ ngày có căn cứ trả lại tiền, tài sản, cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho đương sự về việc nhận tiền, tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền hoặc không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số tiền đó vào Kho bạc Nhà nước hoặc gửi theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho họ biết.

Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tài sản thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này; trường hợp tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận thì Chấp hành viên bán tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 83 của Luật này, đồng thời thông báo cho đương sự. Số tiền thu được sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản (nếu có) được gửi vào Kho bạc Nhà nước hoặc gửi theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự biết.

Trường hợp người được nhận tiền, tài sản đến nhận hoặc cung cấp số tài khoản nhận tiền thì cơ quan thi hành án dân sự chi tiền, trả tài sản cho người được nhận, sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản (nếu có). Phần lãi tiền gửi (nếu có) được cộng vào số tiền gửi ban đầu và trả cho người được nhận.

Hết thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc 01 năm kể từ ngày thông báo đối với trường hợp thu được tiền sau thời điểm 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà người được nhận tiền, tài sản không đến nhận thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định sung quỹ nhà nước và chuyển nộp số tiền đó vào ngân sách nhà nước.

2. Đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng mà đương sự không đến nhận thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy theo quy định tại Điều 58 của Luật này,

Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó để xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình bảo quản và đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng Nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự.

Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định và các trường hợp trả lại tiền, tài sản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều này.

5. Trường hợp người được trả tiền, tài sản đồng thời là người phải thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà không thi hành thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 60. Xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án

1. Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bản tài sản theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này đối với tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án.

2. Trường hợp hiện trạng tài sản thực tế khác với biên bản kê biên, lệnh kê biên, quyết định kê biên hoặc giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất thì trước khi thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan đã kê biên giải thích. Căn cứ kết quả giải thích, cơ quan thi hành án dân sự xử lý như sau:

a) Trường hợp việc kê biên không đúng hiện trạng tài sản thực tế thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Tòa án giải thích hoặc kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Văn bản trả lời của Tòa án là căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản;

b) Trường hợp có căn cứ xác định tài sản thay đổi sau thời điểm kê biên hoặc hết thời hạn trả lời theo quy định của pháp luật mà không nhận được văn bản trả lời của Tòa án quy định tại điểm a khoản này thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo hiện trạng tài sản thực tế theo quy định của Luật này và quy định của luật có liên quan.

Điều 61. Thi hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù

1. Trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án, người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù phối hợp trong việc thông báo về thi hành án, cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, thu, trả tiền, tài sản liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án, người được thi hành án.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 62. Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định thi hành án theo phân công, Chấp hành viên thông báo quyết định thi hành án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để thi hành.

2. Chấp hành viên phải ra ngay quyết định cưỡng chế và kịp thời tổ chức thi hành khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 6 Điều 71 của Luật này để thi hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho người được giao trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán tài sản của một hoặc các bên tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác;

b) Biện pháp cưỡng chế quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 71 của Luật này để thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;

c) Biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật này để thi hành quyết định về kê biên tài sản đang tranh chấp;

d) Việc thi hành quyết định bắt giữ tàu bay, tàu biển thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa phương khác thì tùy từng trường hợp cụ thể, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

4. Cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản, quyết định về thi hành án cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trường hợp không thi hành được thì phải nêu rõ lý do.

5. Trường hợp nhận được quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bị thay đổi.

Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho cơ quan ra quyết định và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu cơ quan ra quyết định giải quyết.

6. Trường hợp cơ quan đã ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ngay sau khi nhận được quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án.

Điều 63. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

1. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đang được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.

2. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án, quyết định mà bản án, quyết định đó chưa thi hành được phần nào thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành án.

Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án, quyết định mà bản án, quyết định đó đã thi hành được một phần thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ đối với phần chưa thi hành xong.

Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy một phần bản án, quyết định thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ đối với phần bị hủy nhưng chưa thi hành xong và ra quyết định tiếp tục thi hành án đối với phần không bị hủy.

3. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định thì việc thi hành án được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án và quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành phù hợp với nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định bị kháng nghị đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát có thẩm quyền và đương sự.

Việc giải quyết hậu quả đối với phần bản án, quyết định đã được thi hành xong nhưng bị hủy được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và bản án, quyết định mới.

Điều 64. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản

1. Việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án được thực hiện theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản và Luật này.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ thủ tục phá sản của Tòa án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định đình chỉ thi hành án và tiếp tục thi hành án theo quy định của Luật này.

Điều 65. Thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án là người nước ngoài hoặc có điều kiện thi hành án ở nước ngoài

1. Người phải thi hành án là người nước ngoài thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.

2. Người phải thi hành án là công dân Việt Nam hoặc là người nước ngoài mà có điều kiện thi hành án ở nước ngoài thì thực hiện như sau:

Đối với bản án, quyết định hình sự tuyên tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản mà tài sản đó ở nước ngoài thì cơ quan thi hành án dân sự phải phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu xử lý tài sản theo quy định của pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự.

Đối với các bản án, quyết định khác mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án ở nước ngoài thì cơ quan thi hành án dân sự hướng dẫn người được thi hành án về quyền yêu cầu công nhận, cho thi hành bản án, quyết định đó ở nước ngoài.

Mục 3. ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án

1. Người phải thi hành án bị áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm thi hành án sau đây nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án:

a) Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ;

b) Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản;

c) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

d) Tạm hoãn xuất cảnh.

2. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.

Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không phải thông báo trước cho đương sự.

3. Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

4. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này.

Điều 67. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

1. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản đang gửi giữ.

2. Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án. Chấp hành viên phải thông báo ngay quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án theo quy định của Chính phủ; trường hợp số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.

3. Quyết định phong tỏa tài sản phải xác định rõ tài sản, nơi gửi giữ tài sản và thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tài sản của người phải thi hành án để thực hiện việc phong tỏa tài sản.

4. Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự tẩu tán tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 68. Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

1. Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

2. Quyết định tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thi hành.

3. Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định tại Điều 39 của Luật này.

4. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản, thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định khác của Chấp hành viên.

Trường hợp người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến tài sản bị chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch hoặc thay đổi hiện trạng thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 69. Tạm giữ tài sản, giấy tờ

1. Tạm giữ tài sản, giấy tờ được áp dụng trong trường hợp phát hiện tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án đang do đương sự, tổ chức, cá nhân khác quản lý, sử dụng nhằm ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

2. Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Chấp hành viên giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng.

Trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ phải giao nộp tài sản, giấy tờ theo yêu cầu của Chấp hành viên. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hỗ trợ việc tạm giữ tài sản, giấy tờ để thi hành án.

Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ theo quy định tại Điều 39 của Luật này.

Điều 70. Tạm hoãn xuất cảnh

1. Người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trừ các trường hợp sau đây:

a) Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản mà có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự giao, xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó;

b) Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật này;

c) Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ;

d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh phải được thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý xuất nhập cảnh.

3. Việc tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn, giải tỏa, hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và quy định của Chính phủ.

Điều 71. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án

Người phải thi hành án bị áp dụng một hoặc một số biện pháp cưỡng chế thi hành án sau đây:

1. Khấu trừ tiền trong tài khoản, thư tiền, xử lý giấy tờ có giá;

2. Trừ vào thu nhập;

3. Khai thác tài sản;

4. Kê biên, xử lý tài sản, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ;

5. Giao tài sản, vật, giấy tờ;

6. Buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

Điều 72. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án

1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.

2. Căn cứ ra quyết định cưỡng chế thi hành án:

a) Bản án, quyết định;

b) Quyết định thi hành án;

c) Người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án.

3. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:

a) Tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản;

b) Tài sản đã được bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án;

c) Tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

d) Người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế thi hành án khi có quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc bản án, quyết định đã tuyên kê biên tài sản.

5. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

6. Trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng thì thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Kế hoạch cưỡng chế phải có tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế và các nội dung khác theo quy định của pháp luật;

b) Cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế thi hành án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế.

Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội;

c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

7. Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho đương sự biết ít nhất 02 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay.

Điều 73. Khấu trừ tiền trong tài khoản

1. Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, trừ trường hợp không được khấu trừ theo quy định của pháp luật. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.

2. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.

Điều 74. Thu tiền của người phải thi hành án

1. Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.

Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình.

2. Trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án, trừ trường hợp có căn cứ xác định khoản tiền đó không phải của người phải thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp số tiền cho cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án. Trường hợp họ không thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định thu số tiền đó để thi hành án.

Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên mà giao số tiền đó cho người phải thi hành án hoặc người khác dẫn đến không thể thi hành cho người được thi hành án thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân khác phải trả tiền cho người phải thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp tiền để thi hành án. Nếu họ không thực hiện thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với tổ chức, cá nhân đó để thu tiền. Chi phí cưỡng chế trong trường hợp này do tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế chịu;

b) Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự khác thi hành thì Chấp hành viên thông báo và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

Điều 75. Thu giữ, xử lý giấy tờ có giá

1. Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án.

2. Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án.

3. Việc xử lý giấy tờ có giá thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 76. Trừ vào thu nhập

1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

3. Khi khấu trừ, Chấp hành viên phải để lại số tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quyết định của cơ quan thi hành án dân sự.

5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.

Điều 77. Khai thác tài sản

1. Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành mà tài sản đó có thể khai thác để thi hành án;

b) Người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

2. Việc cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án được thực hiện như sau:

a) Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác.

Trường hợp tài sản chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng để khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản;

b) Người khai thác tài sản quy định tại điểm a khoản này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết;

c) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng để khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.

Điều 78. Quyết định kê biên tài sản

1. Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Trường hợp người thứ ba đang giữ hoặc phải trả tài sản cho người phải thi hành án mà tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc trường hợp khác được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.

2. Chấp hành viên không ra quyết định kê biên tài sản trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Ra quyết định kê biên đối với một số loại tài sản cụ thể:

a) Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp quyền sử dụng đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất. Việc xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật này.

Trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất đó thì Chấp hành viên kê biên khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp người phải thi hành án có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình thì Chấp hành viên chỉ kê biên khi người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở đó để thi hành án hoặc trường hợp nhà ở được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

c) Trường hợp tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó thì không phải kê biên cả quyền sử dụng đất.

Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng và quyền sử dụng đất nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng của người phải thi hành án nếu việc tách rời nhà ở, công trình xây dựng và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản;

d) Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án.

Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang được bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;

đ) Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi thì Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 79 của Luật này;

e) Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.

Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.

Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 79. Tài sản không được kê biên

1. Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.

2. Tài sản của người phải thi hành án là cá nhân, bao gồm:

a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;

b) Số thuốc, thiết bị y tế cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;

c) Vật dụng cần thiết của người khuyết tật, vật dụng dùng để chăm sóc người bệnh;

d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;

đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;

e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.

3. Tài sản của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bao gồm:

a) Số thuốc, thiết bị y tế phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;

b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;

c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường, trừ trường hợp tài sản đó gắn liền với các tài sản bị kê biên, xử lý.

4. Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Điều 80. Thực hiện kê biên

1. Khi kê biên, Chấp hành viên phải lập biên bản kê biên. Biên bản kê biên có các nội dung chính sau đây: thời gian, địa điểm, thành phần tham gia; tài sản được kê biên; tài sản khác (nếu có); việc giao bảo quản tài sản; ý kiến của các bên tham gia; các vấn đề phát sinh. Biên bản kê biên có chữ ký của Chấp hành viên, những người tham gia và người lập biên bản.

Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được ủy quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.

Khi kê biên tài sản là bất động sản thì phải có sự tham gia của đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện thôn, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan có thẩm quyền quản lý về đất đai tại địa phương.

2. Thực hiện kê biên đối với một số tài sản cụ thể:

a) Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền; cơ quan có thẩm quyền quản lý về đất đai; đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện thôn, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế; đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án;

b) Khi kê biên tài sản là nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo cho người đang thuê, mượn, ở nhờ biết.

Trường hợp tài sản cho thuê, mượn, ở nhờ mà thời hạn thuê, mượn, ở nhờ vẫn còn thì người đang thuê, mượn, ở nhờ có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự giao tài sản cho người mua tài sản hoặc người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án. Quyền, lợi ích hợp pháp của người thuê, mượn, ở nhờ thực hiện theo quy định của pháp luật.

Nếu người thuê, mượn, ở nhờ có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án thì Chấp hành viên buộc họ, những người khác có mặt tự chuyển tài sản và ra khỏi nhà, kể cả chưa đến hạn theo hợp đồng. Trường hợp họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà bị kê biên;

c) Khi kê biên quyền sử dụng đất, phương tiện giao thông, tài sản là quyền sở hữu trí tuệ hoặc các tài sản khác phải đăng ký theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản và các giấy tờ khác có liên quan phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự;

d) Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên, Chấp hành viên thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được thay đổi kết cấu hiện trạng tài sản, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp hoặc thực hiện các giao dịch khác đối với tài sản.

Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao thông;

đ) Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình xây dựng hoặc tài sản khác mà người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản vắng mặt hoặc không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế mở khóa, mở gói; buộc ra khỏi nhà, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất; các biện pháp cần thiết khác để tiến hành kê biên, cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng. Người phải thi hành án phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại do việc cưỡng chế;

e) Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.

3. Khi kê biên mà phát hiện thêm tài sản khác của người phải thi hành án tại địa điểm kê biên chưa có trong quyết định kê biên thì Chấp hành viên kê biên tài sản đó và ghi nhận trong biên bản kê biên. Ngay sau khi kết thúc việc kê biên, Chấp hành viên phải ra quyết định kê biên bổ sung đối với tài sản đó.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này.

Điều 81. Xử lý tài sản sau khi kê biên

1. Sau khi kê biên, Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán, giao tài sản và các thủ tục khác theo quy định của Luật này.

2. Trường hợp có tài sản của người khác mà không thuộc tài sản kê biên thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi tài sản kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo. Hết thời hạn trên mà người có tài sản không di dời, tháo dỡ thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản đó theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này. Trong thời gian chờ xử lý, tài sản đó được bảo quản cùng tài sản đã kê biên và người có tài sản có quyền nhận lại tài sản sau khi thanh toán các chi phí phát sinh.

Đối với tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc việc di dời, tháo dỡ làm giảm đáng kể giá trị tài sản thì được thẩm định giá, xác định giá, bán cùng tài sản đã kê biên.

Người có tài sản đó được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật này.

3. Đối với tài sản là cây trồng hàng năm, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ xử lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.

Điều 82. Thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên

1. Việc thẩm định giá, xác định giá tài sản thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp thẩm định giá, trừ trường hợp nhận được văn bản thỏa thuận của đương sự về giá tài sản;

b) Chấp hành viên xác định giá trong trường hợp tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng hoặc tài sản có giá trị nhỏ hoặc không lựa chọn được doanh nghiệp thẩm định giá;

c) Việc thẩm định giá, xác định giá tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Việc thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá, xác định giá;

b) Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục sử dụng giá theo chứng thư đó;

c) Đương sự có văn bản yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá, xác định giá lần đầu. Việc thẩm định giá lại, xác định giá lại theo yêu cầu của đương sự chỉ được thực hiện một lần. Người yêu cầu phải chịu chi phí và phải nộp ngay tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại theo quy định của Chính phủ.

3. Việc thẩm định giá lại, xác định giá lại được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày xác định có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều này. Thủ tục thẩm định giá lại, xác định giá lại thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Giá khởi điểm để đấu giá lần đầu là giá theo kết quả thẩm định giá, xác định giá tại khoản 1 Điều này hoặc giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp thẩm định giá lại, xác định giá lại thì kết quả thẩm định giá lại, xác định giá lại được lấy làm giá khởi điểm để đấu giá.

5. Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận nhưng giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm so với giá trị tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì tài sản được thẩm định giá theo quy định tại Điều này khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có ít nhất một trong các đương sự có đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản, cung cấp tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản và đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định giá tài sản;

b) Việc thi hành án kéo dài do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng.

6. Doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên về giá chịu trách nhiệm về việc thẩm định giá tài sản thi hành án, giải trình về kết quả thẩm định giá do mình thực hiện theo quy định của Luật Giá. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 83. Bán tài sản kê biên

1. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung hoặc trường hợp bản án, quyết định tuyên hoặc pháp luật quy định tổ chức, cá nhân được quyền ưu tiên mua tài sản, Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung, tổ chức, cá nhân về quyền ưu tiên mua tài sản thi hành án theo giá khởi điểm.

Thời hạn thực hiện quyền ưu tiên mua là 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản kê từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà người được ưu tiên mua không nộp tiền mua thì tài sản được bán theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.

2. Việc bán tài sản kê biên thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật này mà đương sự không yêu cầu thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Trường hợp thẩm định giá lại, xác định giá lại thì thời hạn ký hợp đồng là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá lại hoặc có kết quả xác định giá lại.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn trên mà không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa bàn thực hiện việc đấu giá tài sản.

Việc tổ chức đấu giá đối với động sản được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định giá, Chấp hành viên bán tài sản không qua thủ tục đấu giá đối với động sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng;

c) Việc bán tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đấu giá không thành, Chấp hành viên ra quyết định giảm giá để tiếp tục đấu giá tài sản. Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đầu giá liền kề trước đó. Giá đã giảm theo quyết định của Chấp hành viên là giá khởi điểm của lần đấu giá tiếp theo.

Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà tài sản đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án theo giá đã giảm lần sau cùng.

Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án mà người được thi hành án không nhận tài sản thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản đó tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

4. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án nộp đủ tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được nhận lại tài sản thi hành án.

Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

6. Trường hợp trong cùng một cuộc đấu giá mà có nhiều tài sản được đấu giá thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, Đấu giá viên thực hiện việc đấu giá theo thứ tự từ tài sản có giá trị lớn nhất.

7. Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Đấu giá viên thực hiện các thủ tục đấu giá tài sản và phải chịu trách nhiệm về việc đấu giá tài sản thi hành án theo quy định của Luật Đấu giá tài sản. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 84. Tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án

1. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản tạm dừng việc tổ chức đấu giá khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án;

b) Có yêu cầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm dừng việc thi hành án để giải quyết khiếu nại, tố cáo;

c) Có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, quyết định hoặc văn bản khác của cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tạm dừng xử lý tài sản.

2. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Có quyết định đình chỉ thi hành án;

b) Có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc có vi phạm nghiêm trọng trong tổ chức thi hành án và đấu giá đối với tài sản đó;

c) Có căn cứ xác định tài sản đấu giá không đủ điều kiện đưa ra đấu giá;

d) Người phải thi hành án đã nộp đủ tiền để nhận lại tài sản hoặc người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của Luật này;

đ) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 6 Điều 83 của Luật này mà số tiền thu được từ việc đấu giá tài sản đã đủ để thi hành nghĩa vụ và các chi phí theo quy định.

3. Việc tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện trước khi Đấu giá viên công bố người trúng đấu giá và phải được đưa vào hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản và Quy chế cuộc đấu giá theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 85. Hủy kết quả đấu giá tài sản

1. Việc hủy kết quả đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản. Trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.

2. Người mua được tài sản đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình đấu giá tài sản theo quy định của Chính phủ.

3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả đấu giá tài sản bị hủy được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 86. Giao tài sản để thi hành án

1. Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của những người được thi hành án khác;

b) Thanh toán số tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này, các chi phí thi hành án do đương sự chịu, thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng và các khoản tiền khác theo quy định của Chính phủ.

2. Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.

3. Người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó.

4. Trường hợp người mua được tài sản đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản đấu giá nhưng bản án, quyết định bị sửa hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá, trừ trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

5. Trường hợp phải cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại các điều 88, 89 và 90 của Luật này.

Điều 87. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản

1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.

Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp hồ sơ để đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của Chính phủ cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.

2. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất mà đủ điều kiện nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận mà không thu hồi được giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận đã cấp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật.

3. Đối với tài sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

4. Giấy tờ được cấp mới thay thế cho giấy tờ không thu hồi được. Giấy tờ không thu hồi được không còn giá trị.

Điều 88. Cưỡng chế giao, trả vật, giấy tờ

1. Đối với vật đặc định, việc cưỡng chế được thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án;

b) Trường hợp vật phải trả giảm giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thỏa thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thỏa thuận.

Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành án.

Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị;

c) Trường hợp vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thỏa thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thỏa thuận.

Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Điều 38 của Luật này.

2. Trường hợp vật phải trả là vật cùng loại không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp phải giao, trả giấy tờ mà không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án, người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.

Trường hợp không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và giấy tờ về tài sản khác thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 của Luật này.

Điều 89. Cưỡng chế giao, trả nhà, tài sản gắn liền với đất

1. Khi cưỡng chế giao, trả nhà, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa người phải thi hành án, người khác và tài sản, đồ vật ra khỏi nhà, tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp đã được thông báo hợp lệ quyết định cưỡng chế mà người phải thi hành án vắng mặt hoặc người có tài sản không nhận thì Chấp hành viên giao tài sản, đồ vật cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản. Tài sản, đồ vật được xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật này. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc cưỡng chế.

2. Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà trong thời hạn 01 năm với mức tiền theo quy định của Chính phủ.

Điều 90. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất

1. Khi cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất, Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất đó cho người được thi hành án và thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 89 của Luật này.

Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.

2. Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản theo nội dung bản án, quyết định.

3. Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó chưa được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì thực hiện như sau:

a) Đối với tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao. Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà họ không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cùng với tài sản đó cho người được thi hành án. Quyền, nghĩa vụ của các bên thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này. Nếu người được thi hành án đồng ý cho để tài sản trên đất trong thời gian chờ xử lý thì Chấp hành viên giao đất sau khi đã xử lý xong tài sản; nếu người được thi hành án không đồng ý thì Chấp hành viên cưỡng chế di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao.

Người có tài sản đó được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật này;

b) Đối với tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Điều 91. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định

1. Trường hợp cưỡng chế buộc thực hiện công việc nhất định hoặc buộc pháp nhân thương mại công khai xin lỗi thì khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án thực hiện.

2. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì Chấp hành viên xử lý như sau:

a) Trường hợp công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí do người phải thi hành án chịu;

b) Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật có quy định nghĩa vụ không được chuyển giao hoặc trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện công việc nhất định thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Điều 92. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định

Khi cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định, trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có quyền yêu cầu người phải thi hành án khôi phục hiện trạng ban đầu.

Trường hợp người phải thi hành án không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Điều 93. Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định

1. Trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên thực hiện.

Trước khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức, cá nhân có liên quan thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.

2. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

3. Thủ tục cưỡng chế giao người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức nuôi dưỡng thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 94. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc

Trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc nhận người lao động trở lại làm việc thì khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người sử dụng lao động thực hiện.

Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Điều 95. Chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản

1. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đương nhiên hết hiệu lực khi có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc có quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của người có thẩm quyền.

2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 66 của Luật này phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt;

b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;

c) Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án;

d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa kê biên tài sản hoặc quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án;

b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;

b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản;

c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều này thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.

6. Việc trả lại tài sản, giấy tờ sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, giải tỏa kê biên thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Chương IV

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ

Mục 1. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 96. Quyền khiếu nại về thi hành án dân sự

1. Đương sự có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên về thi hành án dân sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên về thi hành án dân sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu về thi hành án dân sự thực hiện như sau:

a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó;

b) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm là 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó;

c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế và sau khi có quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó.

3. Trường hợp khiếu nại lần hai thì thời hiệu là 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

4. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại trong thời hiệu thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Điều 97. Những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết

1. Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

2. Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.

4. Thời hiệu khiếu nại đã hết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 96 của Luật này.

5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.

6. Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại là quyết định, hành vi trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

7. Nội dung khiếu nại đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo hoặc trước đó đã có thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật này.

Điều 98. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình, của Phó Thủ trưởng và Chấp hành viên thuộc quyền quản lý.

Trưởng văn phòng thi hành án dân sự giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về thi hành án dân sự của mình và của Thừa hành viên thuộc văn phòng.

2. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại chưa có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành ngay.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật nhưng quyết định giải quyết khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp luật;

b) Việc giải quyết khiếu nại có vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự;

c) Có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết khiếu nại;

d) Có đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

4. Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình, của Phó Thủ trưởng và Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu.

5. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại chưa có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành ngay.

6. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 99. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại

1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;

b) Nhờ luật sư giúp đỡ hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật trong quá trình khiếu nại;

c) Được biết các chứng cứ để làm căn cứ giải quyết nội dung khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước; đưa ra chứng cứ về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó; được nhận văn bản thụ lý khiếu nại, thông báo tạm đình chỉ, thông báo đình chỉ, quyết định giải quyết khiếu nại;

d) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại, nếu có;

đ) Được khiếu nại lần hai nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu chưa có hiệu lực thi hành của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;

e) Rút toàn bộ hoặc một phần nội dung khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Việc rút khiếu nại được thực hiện bằng đơn rút khiếu nại hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại.

2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:

a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;

b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;

c) Chấp hành quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên mà mình khiếu nại trong thời gian khiếu nại, trừ trường hợp tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc tạm ngừng việc thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 101 của Luật này;

d) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 98 của Luật này.

Điều 100. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại

1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Được biết các chứng cứ để làm căn cứ giải quyết nội dung khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước; đưa ra chứng cứ về tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó;

b) Được nhận văn bản thụ lý khiếu nại, thông báo tạm đình chỉ, thông báo đình chỉ, quyết định giải quyết khiếu nại.

2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:

a) Giải trình về quyết định, hành vi bị khiếu nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 98 của Luật này;

c) Bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Điều 101. Quyền và nghĩa vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;

b) Tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự tạm ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật này, nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại;

c) Hủy bỏ việc tạm dừng thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc tạm ngừng việc thi hành án theo quy định tại điểm b khoản này;

d) Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:

a) Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại; cung cấp chứng cứ để làm căn cứ giải quyết nội dung khiếu nại khi người khiếu nại, người bị khiếu nại yêu cầu;

b) Thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại. Hình thức thông báo được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 35 của Luật này;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.

Điều 102. Thời hạn giải quyết khiếu nại

1. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 96 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

2. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 96 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

3. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 96 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

4. Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

Điều 103. Hình thức khiếu nại

Người khiếu nại thực hiện việc khiếu nại bằng một trong các hình thức sau đây:

1. Trực tiếp nộp đơn hoặc gửi đơn qua đường bưu điện hoặc trên môi trường số đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Đơn phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ, số định danh của người khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết. Đơn phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ hoặc xác thực định danh điện tử;

2. Trình bày trực tiếp nội dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người có trách nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại;

3. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 104. Thụ lý đơn khiếu nại

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại lần đầu hoặc 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại lần hai thuộc thẩm quyền giải quyết và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 97 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại. Trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do.

Điều 105. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu

1. Sau khi thụ lý đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành xác minh, yêu cầu người bị khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần thiết, có thể trưng cầu giám định hoặc tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc thẩm quyền.

2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra thông báo tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp sau đây:

a) Do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng làm cho người khiếu nại hoặc người bị khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại và sự vắng mặt của họ gây ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại;

b) Cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại.

3. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp sau đây:

a) Người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại;

b) Cá nhân khiếu nại chết mà quyền, lợi ích liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế; cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động;

c) Vụ việc khiếu nại không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết;

d) Nội dung khiếu nại đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo.

4. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên có liên quan; thời gian tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại.

5. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai.

Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án có hiệu lực thi hành ngay.

Điều 106. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai

1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

2. Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các quyền được quy định tại Điều 101 của Luật này và có quyền yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại khi cần thiết; xác minh; trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải quyết khiếu nại.

3. Việc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại thực hiện theo quy định tại Điều 105 của Luật này.

Điều 107. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại

1. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;

c) Nội dung khiếu nại;

d) Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;

đ) Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;

e) Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ;

g) Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại;

h) Hướng dẫn quyền khiếu nại lần hai của đương sự;

i) Hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại.

2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có các nội dung sau đây:

a) Nội dung tại các điểm a, b, c, d, đ, g và i khoản 1 Điều này;

b) Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.

Mục 2. TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 108. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

1. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự trong thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

2. Người tố cáo có các quyền sau đây:

a) Trực tiếp nộp đơn hoặc gửi đơn qua đường bưu điện hoặc trên môi trường số hoặc trực tiếp trình bày nội dung tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;

b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;

c) Yêu cầu được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo và kết quả giải quyết tố cáo;

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù; được khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

đ) Rút một phần hoặc toàn bộ nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng đơn rút tố cáo hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo của người tố cáo khi làm việc với người giải quyết tố cáo hoặc người xác minh nội dung tố cáo;

e) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn mà tố cáo không được giải quyết.

3. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Trình bày trung thực, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;

b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật;

d) Hợp tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu;

đ) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.

Điều 109. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo

1. Người bị tố cáo có các quyền sau đây:

a) Được thông báo về nội dung tố cáo, về việc đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo và kết quả giải quyết tố cáo;

b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;

c) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật;

đ) Được nhận kết luận nội dung tố cáo;

e) Được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo;

g) Khiếu nại quyết định xử lý kỷ luật, buộc khắc phục hậu quả hoặc biện pháp khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; có mặt để làm việc theo yêu cầu của người giải quyết tố cáo;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;

c) Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Điều 110. Thẩm quyền, thời hạn và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

2. Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.

Trường hợp người bị tố cáo là Trưởng văn phòng thi hành án dân sự hoặc Thừa hành viên thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.

Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo là 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo; đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo.

3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 111. Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

2. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Mục 3. KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 112. Quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân

1. Thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện như sau:

a) Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Chấp hành viên trong việc thi hành án do Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành; quyết định, hành vi của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi khu vực.

Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong địa bàn tỉnh, thành phố.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên phạm vi toàn quốc;

b) Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu trong việc thi hành án.

2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với quyết định, hành vi trong việc thi hành án là 15 ngày; của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.

Trường hợp việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án.

Điều 113. Trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với quyết định, hành vi về thi hành án của mình hoặc của công chức, Chấp hành viên, Thừa hành viên thuộc quyền quản lý trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị, kiến nghị.

Trường hợp chấp nhận kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, kiến nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân.

2. Trường hợp không nhất trí với kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân đã kháng nghị xem xét lại kháng nghị. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân phải có văn bản trả lời.

Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên kháng nghị và Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự vẫn không nhất trí với kháng nghị thì giải quyết như sau:

a) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự nơi có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;

b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu nơi có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng phải xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.

3. Trường hợp xét thấy văn bản trả lời kháng nghị quy định tại khoản 2 Điều này không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Văn bản trả lời của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.

4. Trường hợp không nhất trí hoặc không thực hiện được nội dung kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự có văn bản trả lời Viện kiểm sát nhân dân đã kiến nghị và nêu rõ lý do.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 114. Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan

1. Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 90 của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15 như sau:

“đ) Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành án và xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu hủy, trả lại tài sản hoặc giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã để sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.”.

2. Thay cụm từ “văn phòng thừa phát lại” bằng cụm từ “văn phòng thi hành án dân sự”, thay cụm từ “Thừa phát lại” bằng cụm từ “Thừa hành viên” tại khoản 10 Điều 104 và khoản 4 Điều 123 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15; điểm h khoản 1 Điều 9, điểm b khoản 3 Điều 11, khoản 6 và khoản 8 Điều 14 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15.

Điều 115. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Khoản 9 và khoản 11 Điều 3; Điều 5; điểm g khoản 2 Điều 11; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 8 và khoản 9 Điều 20; khoản 7 và khoản 8 Điều 21 và khoản 8 Điều 27 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 01 năm 2026.

3. Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại; Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 03/2022/QH15, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15, Luật số 81/2025/QH15 và Luật số 84/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại khoản 1 Điều 116 của Luật này.

4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn việc phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự và các nội dung cần thiết khác của Luật này.

Điều 116. Điều khoản chuyển tiếp

1. Đối với việc thi hành án đã kết thúc trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đương sự còn khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát nhân dân còn kháng nghị, kiến nghị thì áp dụng quy định của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 để giải quyết.

2. Đối với việc thi hành án đã kết thúc trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện theo quy định của Luật này.

3. Đối với việc thi hành án chưa được thi hành hoặc chưa kết thúc trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì áp dụng các quy định của Luật này để tiếp tục thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không phải thực hiện lại trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này.

5. Thừa phát lại được bổ nhiệm trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động, không cần bổ nhiệm lại nhưng phải đổi thẻ Thừa hành viên trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.

Văn phòng thừa phát lại được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động nhưng phải thực hiện thủ tục đổi tên thành "văn phòng thi hành án dân sự” trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.

Kết quả thực hiện việc tổ chức thi hành án của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được công nhận và không phải thực hiện lại theo quy định của Luật này.

Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tiếp tục thực hiện các công việc của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại theo quy định của pháp luật.

6. Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tiếp nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính phối hợp thực hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.

Nhà nước bố trí các điều kiện cần thiết để đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ thống kho vật chứng của cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. 

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 05 tháng 12 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

64
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Thi hành án dân sự 2025
Tải văn bản gốc Luật Thi hành án dân sự 2025

THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
----------------

Law No. 106/2025/QH15

Hanoi, December 05, 2025

 

LAW

CIVIL JUDGMENT ENFORCEMENT

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly promulgates the Law on Civil Judgment Enforcement.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Law provides for principles and procedures for enforcement of judgments, decisions and verdicts as per law (hereinafter referred to as “judgments, decisions”); organization and operation of civil judgment enforcement system, enforcers, civil judgment enforcement offices, and bailiffs; rights and obligations of judgment creditors, judgment debtors, and persons having related interests and obligations; and tasks, powers, and responsibilities of relevant agencies, organizations, and individuals for civil judgment enforcement.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Court judgments and decisions on civil matters and bankruptcy; fines, confiscation of assets, retrospective collection of illegally earned money and assets, handling of exhibits and assets, court fees, and regulations on civil matters in criminal judgments and decisions; regulations on assets in judgments and decisions on administrative lawsuits, including;

a) Legally effective judgments and decisions: first-instance judgments and decisions or parts of first-instance judgments and decisions which are not appealed or protested against according to appellate procedures; appellate judgments and decisions; cassation or reopening decisions; decisions issued by the Supreme People's Court and executed in accordance with the law; civil judgments and decisions issued by foreign Courts, and foreign arbitrators’ verdicts, which have been recognized and permitted to be enforced in Vietnam by Vietnamese Courts; bankruptcy declaration decisions;

b) Judgments and decisions that are immediately enforced even though they may be appealed or protested in accordance with regulations of Civil Procedure Code;

c) Decisions on application of provisional urgent measures;

2. Decisions on settlement of competition cases issued by the President of National Competition Commission, the anti-competitive settlement council, decisions on handling of complaints against decisions on settlement of competition cases related to assets owned by judgment debtors issued by the President of the National Competition Commission, the anti-competitive complaint handling council in accordance with the Law on Competition.

3. Arbitrators’ verdicts, decisions on application of provisional emergency measures, issued by the Council of Arbitrators according to the Law on Commercial Arbitration.

4. Decision to apply the diversion measure which is damage compensation issued by an investigating authority, a People’s Procuracy or a People’s Court in accordance with the Law on Juvenile Justice.

5. Other judgments and decisions to be enforced as per law.

Article 3. Definition of terms

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. ”Litigant” means judgment creditor or judgment debtor.

2. “Judgment creditor” means an individual, agency or organization that enjoys rights and interests mentioned in an enforced judgment or decision.

3. “Judgment debtor” means an individual, agency or organization that must fulfill obligations mentioned in an enforced judgment or decision, including those whose properties are used as collateral for their obligations.

4. “Person having related interests and obligations” means an individual, agency or organization whose rights and obligations arise during the judgment enforcement organization.

5. “Prescriptive period” means a time limit after which the litigant will no longer have the right to request a civil judgment-enforcing agency or a civil judgment-enforcing office to organize the judgment enforcement under this Law.

6. “Capability of executing judgment” means a case where a judgment debtor has assets and incomes to fulfill their obligations to the assets; and fulfills their obligations to execute the judgment by himself/herself/itself or through another person.

7. “Transfer of rights and obligations to judgment enforcement” includes transfer and inheritance of rights and obligations to judgment enforcement in accordance with regulations of this Law

8. “Judgment enforcement decision” means a judgment enforcement.

9. “Documents and records” include both physical and electronic documents and records.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

11. “Civil judgment enforcement database” means a collection of information on civil and administrative judgment enforcement, and organization and operation of bailiffs.

Article 4. Civil judgment enforcement principles

1. Judgments and decisions defined in Article 2 of this Law shall be respected by all agencies, organizations and citizens. Relevant individuals, agencies and organizations shall, within their respective responsibilities, strictly abide by judgments and decisions and be responsible to the law for the enforcement thereof.

Agencies, organizations and individuals, within the scope of their tasks, powers, and obligations, are responsible for cooperating and executing decisions on enforcement of judgments, requests, and proposals from civil judgment-enforcing agencies, civil judgment-enforcing offices, enforcers, and bailiffs.

2. Judgment debtors that have capability for executing judgments but fail to voluntarily execute such judgments will be coerced to execute judgments.

If any person who obstructs the judgment enforcement organization; person who manages, possesses or uses assets used to enforce a judgment; or a custodian of person whose custody has been granted to another person fails to comply with the civil judgment-enforcing agency's request, he/she may be coerced in accordance with regulations of this Law."

3. State’s interests, legitimate rights and interests of litigants, persons having related interests and obligations shall be respected and protected by the law.

4. Spoken and written language to be used in enforcement of civil judgments shall be the Vietnamese. Litigants and persons having related interests and obligations may use spoken and written language of their ethnic groups; in this case interpreters are required. In case these litigants and persons having related interests and obligations that are ethnics cannot use Vietnamese language or have hearing, speech, or vision disabilities, civil judgment-enforcing agencies, civil judgment-enforcing offices shall appoint or request competent authorities to appoint interpreters.

5. Litigants, agencies, organizations, or individuals that fail to abide by judgments or decisions, or fail to execute judgment enforcement decisions, comply with requests or proposals from civil judgment-enforcing agencies, civil judgment-enforcing offices, enforcers, or bailiffs, or commit any violations against this Law, shall, depending on the nature and severity of their violations, be disciplined or face administrative penalties or criminal prosecution; if they cause damage, they must pay compensation in accordance with the law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Civil judgment enforcement database shall be managed by the Ministry of Justice and shared and connected with the national general database. Agencies and organizations assigned to manage the national general database, the national database, specialized databases, and other databases shall be responsible for connecting and sharing data with the civil judgment enforcement database; and responding to requests from civil judgment enforcement-managing agencies, civil judgment-enforcing agencies, and civil judgment-enforcing offices for access to and extraction of information from such databases to serve civil judgment enforcement.

The civil judgment enforcement database shall be connected, shared, provided and accessed according to regulations of the law on data and in a manner that ensures security and safety of information and protects personal data.

2. Civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices shall be responsible for ensuring cybersecurity and safety of data and keeping information confidential as per law.

3. Procedures for enforcement of civil judgments as prescribed by this Law shall be followed in person or in a digital environment as recognized by the law.

Documents, records, and information related to the enforcement of civil judgments, in the form of electronic data, digitally signed, sent, received, stored, processed, and shared in a digital environment in accordance with the law shall have the same legal validity as physical documents, records and information, unless otherwise provided by law.

4. Agencies, organizations and individuals that connect, share, provide and extract data commit prohibited acts in accordance with the law shall be responsible to law. If they cause damage, they must pay compensation.

Article 6. Rights and obligations of judgment creditors

1. A judgment creditor has the following rights:

a) Select a civil judgment-enforcing agency or a civil judgment-enforcing office to request enforcement of a judgment according to regulations of this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Be notified of enforcement of the judgment in accordance with this Law;

d) Reach agreement with other litigants or persons having related interests and obligations on enforcement of the judgment;

dd) Request a Court to determine and divide the ownership of or the right to use assets for enforcement of the judgment; request the Court to amend the judgment/decision when any spelling mistake, inaccurate or insufficient data or miscalculation is detected; request the Court to explain the judgment/decision that is unclearly declared or difficult for enforcement; file civil lawsuits to protect their legitimate rights and interests if there is a dispute over assets related to enforcement of the judgment;

e) Request the application of security measure or coercive measure for enforcing the judgment, or suspension of the enforcement of part or all of the judgment enforcement decision in accordance with this Law;

g) Request change of the enforcer if there is a ground to believe that the enforcer is not impartial while performing his/her task;

h) Request the civil judgment-enforcing agency or the civil judgment-enforcing office to verify the judgment enforcement result according to regulations of the law. The request for verification of judgment enforcement result shall be sent electronically, submitted in person, delivered orally, or sent by post;

i) Transfer the right to enforce judgments to another person;

k) Authorize other persons to exercise their rights and fulfill their obligations;

l) Advance expenses for coercive judgment enforcement and be eligible for exemption from, or reduction of judgment enforcement fee as per law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. A judgment creditor has the following obligations:

a) Strictly abide by the judgment/decision;

b) Comply with judgment enforcement decisions and requests made by the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs; provide their personal ID number, bank account number, or other means of payment as requested by the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs;

c) Notify the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs when there is any change in its address or place of residence;

d) Pay fees (if any) when requesting any agency, organization or individual to provide information as per law;

dd) Pay judgment enforcement fee and expenses in accordance with this Law.

Article 7. Rights and obligations of judgment debtors

1. A judgment debtor has the following rights:

a) Select a civil judgment-enforcing agency or a civil judgment-enforcing office to request enforcement of a judgment according to regulations of this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Transfer their judgment enforcement obligation to another person in accordance with this Law;

d) Authorize other persons to request enforcement of the judgment or the verification of the judgment enforcement result and in other cases in accordance with this Law;

dd) Be considered for reduction or cancellation of their debt; be considered for exemption from, or reduction of coercive judgment enforcement expenses in accordance with the law.

2. A judgment debtor has the following obligations:

a) Adequately and promptly execute the judgment/decision; comply with civil judgment enforcement decisions and requests made by the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs;

b) Provide their personal ID number; truthfully declare their account, assets and capability of executing the judgment; fully provide information and documents related to their assets when requested the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs, and take responsibility to the law for such declaration and provision of information;

c) Notify the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs when there is any change in its address or place of residence;

d) Pay judgment enforcement fee and expenses in accordance with this Law.

Article 8. Rights and obligations of persons having related interests and obligations

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Be notified of, and participate in enforcement of a judgment that they are involved;

b) Exercise the rights specified in point dd and point m clause 1 Article 6 of this Law;

2. A person having related interests and obligations has the following obligations:

a) Comply with judgment enforcement decisions and requests made by the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs;

b) Notify the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs when there is any change in its address or place of residence;

c) Provide information related to the judgment enforcement as requested by the civil judgment-enforcing agency, enforcers, the civil judgment-enforcing office and bailiffs.

Article 9. Civil judgment enforcement assurance

1. The State shall assure payroll and fully provide facilities, funding, head offices, means of transport, communications, professional techniques, other necessary means and equipment, and digital transformation resources for the civil judgment enforcement system; judgment enforcement support tools for civil judgment-enforcing agencies.

Civil judgment enforcement fees and other legal revenues earned by civil judgment-enforcing agencies shall be fully included in the state budget balance. After being transferred to state budget, civil judgment enforcement fees and other legal revenues shall be allocated accordingly to civil judgment enforcement-managing agencies and civil judgment-enforcing agencies to cover expenditures on increase in the number of and modernization of head offices, digital transformation, means of transport, communications, professional techniques, other necessary means and equipment, and specific operations serving management of enforcement of civil judgments and enforcement of civil judgments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Head offices, equipment, documents and assets owned by civil judgment enforcement-managing agencies and civil judgment-enforcing agencies shall be protected securely and safely.

Persons performing official duties related to enforcement of judgments and persons assigned to organize civil judgment enforcement shall have their reputation, honor, dignity, secrets, information, personal data, life, health, assets, and legitimate rights and interests protected in accordance with the law.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 10. State management of enforcement of civil judgments

1. The Government shall uniformly perform state management of enforcement of civil judgments, organization and operation of bailiffs and have the following tasks and powers:

a) Implement measures for controlling powers, preventing and combating against corruption and mechanisms for protecting agencies, organizations, persons performing official duties related to enforcement of civil judgments, and persons assigned to organize civil judgment enforcement;

b) Issue directives to Ministries, ministerial-level agencies, Governmental agencies, and provincial People's Committees on enforcement of civil judgments, and organization and operation of bailiffs;

c) Cooperate with the Supreme People's Court and the Supreme People's Procuracy in enforcement of civil judgments and operation of civil judgment-enforcing offices and bailiffs.

d) Annually report on enforcement of civil judgments to the National Assembly of Vietnam.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Cooperate with the Supreme People's Court and the Supreme People's Procuracy in enforcement of civil judgments and operation of civil judgment-enforcing offices and bailiffs.

b) Promulgate or request competent authorities to promulgate legislative documents on enforcement of civil judgments and organization and operation of bailiffs;

c) Provide guidance for, direct and train enforcers, inspectors, other civil servants in charge of enforcement of civil judgments, and bailiffs; conduct inspection, settle complaints and denunciations, give commendation, and handle violations against regulations on enforcement of civil judgments and organization and operation of bailiffs;

d) Promulgate and comply with regulations on statistics, administrative management procedures, and professional forms for enforcement of civil judgments;

dd) Perform other tasks and powers according to the Government’s regulations.

3. The Minister of National Defense shall cooperate with the Minister of Justice of Vietnam in state management of enforcement of civil judgments in the Army.

Ministries, ministerial-level agencies, Governmental agencies, within the scope of their tasks and functions, shall perform and take responsibilities for state management of enforcement of civil judgments according to the Government’s regulations and relevant laws.

4. Provincial People’s Committees have the following tasks and powers:

a) Perform state management of organization and operation of local bailiffs in accordance with the Government’s regulations;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Direct organization of coercive enforcement of judgments or decisions related to big and complicated lawsuits impacting security and social order and safety within their provinces at the request of heads of civil judgment-enforcing agencies;

d) Chairpersons of the provincial People's Committees shall settle complaints about appointment, reappointment, and dismissal of bailiffs; registration as bailiffs and issuance of bailiff cards; suspension of bailiffs; and establishment, registration of operation, conversion, merger, consolidation, transfer, suspension of operations, and termination of operations of civil judgment-enforcing offices in accordance with the law on complaints;

dd) Perform other tasks and powers according to the Government’s regulations.

5. Commune-level People’s Committees have the following tasks and powers:

a) Cooperate with enforcers, civil judgment-enforcing agencies, civil judgment-enforcing offices and bailiffs in mobilizing and persuading litigants to voluntarily execute judgments, notifying enforcement of judgments, verifying capability of executing judgments, applying security measures, applying coercive measures for enforcing judgments, and performing other civil judgment enforcement tasks within their communes;

b) Promptly resolve recommendations, and remove obstacles and difficulties arising from cooperation among specialized agencies affiliated to commune-level People's Committees and relevant organizations and individuals in enforcement of civil judgments within their communes; and ensure security, order, and social safety during the judgment enforcement organization in accordance with the law;

c) Provide information and capability of executing judgments as requested by civil judgment-enforcing agencies, enforcers, civil judgment-enforcing offices and bailiffs;

d) Participate and cooperate in organization of coercive enforcement of judgments within their communes as requested by civil judgment-enforcing agencies and enforcers;

dd) Participate in councils for destruction of exhibits and assets as requested by civil judgment-enforcing agencies; receive and handle exhibits and assets confiscated by the State according to this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 11. Tasks and powers of People's Courts over enforcement of civil judgments

1. People's Courts have the following tasks and powers:

a) Transfer judgments, decisions and relevant documents to civil judgment-enforcing agencies as per law;

b) Respond to, within their jurisdiction, recommendations from civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices about review of court judgments or decisions according to cassation or re-opening procedures within the time limit as prescribed by the law;

c) Cooperate with relevant agencies in enforcement of civil judgments;

d) Fulfill responsibilities of judgment/decision issuers according to Article 13 of this Law;

dd) Perform other tasks and powers as prescribed in law.

2. The Supreme People's Court has the following tasks and powers:

a) Have tasks and powers as provided in clause 1 of this Article;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Cooperate with the Ministry of Justice and the Ministry of National Defense in issuing legislative documents on enforcement of civil judgments and finally reviewing enforcement of civil judgments;

d) Consider decisions on reduction or cancellation of debts according to re-opening procedures in accordance with law;

dd) Request People's Courts at all levels to respond to requests and implement recommendations made by litigants, persons having related interests and obligations, civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices within the prescribed time limit.

In case of receipt of feedback on obstacles to response to requests or recommendations from civil judgment-enforcing agencies or civil judgment-enforcing offices, the Supreme People’s Court shall request People’s Courts at all levels to remove such obstacles;

e) Request People’s Courts at all levels to cooperate with civil judgment-enforcing agencies or civil judgment-enforcing offices in enforcing civil judgments;

g) Cooperate with the Ministry of Justice in establishing, connecting, sharing, and accessing the civil judgment enforcement database; and provide guidance for People’s Courts at all levels on online receipt and transfer of documents, records and information.

3. The Central Military Court has the following tasks and powers:

a) Have tasks and powers as provided in clause 1 of this Article;

b) Consider decisions on reduction or cancellation of debts according to re-opening procedures in accordance with law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Have tasks and powers as provided in clause 1 of this Article;

b) Settle protests against decisions on reduction or cancellation of debts payable to state budget in accordance with this Law;

c) Consider decisions on reduction or cancellation of debts according to re-opening procedures in accordance with law.

5. Regional People’s Courts and Military Courts have the following tasks and powers:

a) Have tasks and powers as provided in clause 1 of this Article;

b) Consider deciding reduction or cancellation of debts payable to state budget;

c) Accept and promptly respond to requests made by civil judgment-enforcing agencies and litigants for identification of the ownership or the right to use assets, division of assets or settlement of disputes over the ownership or the right to use assets, annulment of documents or cancellation of transactions arising in the course of enforcement of judgments within their jurisdiction; if the conditions are met according to the Civil Procedure Code, simplified procedures shall be followed.

Article 12. Tasks and powers of People’s Procuracies over enforcement of civil judgments

1. People’s Procuracies shall supervise compliance with laws issued by Courts, civil judgment-enforcing agencies, enforcers, civil judgment-enforcing offices, bailiffs, relevant agencies, organizations and individuals on enforcement of civil judgments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

When supervising compliance with law on resolution of complaints about or settlement of denunciations of enforcement of civil judgments, Procuracies are entitled to request and recommend civil judgment-enforcing agencies, civil judgment-enforcing offices and agencies, organizations and individuals to take responsibilities for resolution of complaints about or settlement of denunciations of enforcement of civil judgments.

2. The Supreme People's Procuracy has the following tasks and powers:

a) Cooperate with the Ministry of Justice and the Ministry of National Defense in issuing legislative documents on enforcement of civil judgments, controlling powers and preventing corruption in enforcement of civil judgments and supervising enforcement of civil judgments;

b) Supervise and direct Procuracies at all levels to supervise enforcement of civil judgments as per law;

c) Cooperate with the Ministry of Justice of Vietnam in finally reviewing enforcement of civil judgments;

d) Direct People's Procuracies at all levels to cooperate with competent People's Courts and local civil judgment-enforcing agencies to review, assess, identify, and resolve cases where judgments or decisions are unclearly declared or difficult for enforcement;

dd) Cooperate with the Ministry of Justice in establishing, connecting, sharing, and accessing the civil judgment enforcement database; and direct and provide guidance for People’s Courts at all levels on online receipt and transfer of documents, records and information.

3. The jurisdiction of People’s Procuracies at all levels over supervision of enforcement of civil judgments shall be similar to the jurisdiction over protest or recommendation as specified in clause 1 Article 112 of this Law.

Article 13. Responsibilities of judgment/decision issuers

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Process and respond to requests and implement recommendations made by litigants, persons having related interests and obligations, civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices within the prescribed time limit.

3. Issue documents amending judgments and decisions when detecting spelling mistakes, inaccurate or insufficient data or miscalculation, or explaining judgments and decisions that are unclearly declared or difficult for enforcement within 30 days from the date of receipt of requests from litigants, civil judgment-enforcing agencies, or civil judgment-enforcing offices; regarding complex cases, the response must be given within 45 days from the date of receipt of requests. In case where there are no grounds for amendments to or explanation about judgments or decisions, written responses clearly stating reasons must be given.

Article 14. Responsibilities of agencies, organizations and individuals for enforcement of civil judgments

1. The State Treasury, credit institutions, foreign bank branches, social security authorities, agencies registering assets and secured transactions, tax authorities, Public Security agencies, agencies and organizations assigned to monitor and manage persons serving criminal sentences, specialized agencies affiliated to People's Committees, and relevant agencies, organizations, and individuals shall be responsible for promptly abiding by judgment enforcement decisions, documents, requests and proposals from civil judgment-enforcing agencies and enforcers for verification of capability of executing judgments, and application of security measures, and coercive measures for enforcing judgments, and other judgment enforcement procedures in accordance with regulations of law.

2. In case of resistance or obstruction to enforcement of judgments, civil judgment-enforcing agencies shall request Public Security agencies to ensure order and safety in accordance with regulations of law.

The responsibilities of Public Security agencies according to clause 1 of this Article shall be fulfilled in such a way to avoid obstructing performance of their international and urgent criminal tasks as prescribed by the Law on Extradition and other relevant laws.

Article 15. Civil judgment enforcement supervision

The National Assembly, the National Assembly Standing Committee, Ethnic Council, the National Assembly Committees, the National Assembly deputies’ delegations, the National Assembly deputies and People's Councils at all levels, Vietnam Fatherland Front and its affiliated socio-political organizations, within the scope of their tasks and powers, shall supervise operations conducted by civil judgment-enforcing agencies, civil judgment-enforcing offices and other state authorities during the enforcement of civil judgments as per law.

Article 16. Prohibited acts

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Failing to abide by judgments and decisions; failing to comply with decisions and requests made by civil judgment-enforcing agencies, enforcers, civil judgment-enforcing offices and bailiffs; resisting, delaying, or causing difficulties for or obstructing organization of enforcement of judgments;

b) Taking bribes; appropriating or illegally using exhibits, money, or assets used for enforcement of judgments; breaking seals, using, swapping, concealing, destroying, or dispersing exhibits and assets temporarily seized; altering the current status, or transferring the ownership or the right to use assets used for enforcement of judgments;

c) Intentionally failing to issue judgment enforcement decisions or issue unlawful ones; applying unlawful measures for coerce enforcement of judgments;

d) Taking advantage of or abusing positions and powers to obstruct or illegally interfere in settlement of enforcement of judgments, or taking advantage of their influence to affect persons in charge of enforcing judgments; intentionally enforcing judgments or decisions in violation of their contents; taking advantage of or abusing positions and powers to illegal enforce or delay enforcement of judgments;

dd) Forging or falsifying documents, records, information, or electronic data to evade obligations to enforce judgments or prolong the duration of organization of enforcement of judgments; disclosing or taking advantage of or abusing information on accounts, income, and assets owned by judgment debtors for illegal use or to affect enforcement of judgments;

e) Infringing upon or threatening to infringe upon security, safety and order of head offices of civil judgment-enforcing agencies and locations where judgment enforcement activities take place;

g) Lodging complaints, issuing denunciations, giving feedback, or spreading information in the knowledge that it is false in order to incite, falsely accuse, slander, or insult prestige, sanctity, honor and dignity of agencies, organizations, or on-duty persons during the judgment enforcement;

h) Being irresponsible and intentionally delaying leading, directing, and offering protection of agencies, organizations, and on-duty persons during the judgment enforcement;

i) Infringing upon the life, health, prestige, honor, dignity, or assets of enforcers, bailiffs, other persons participating in enforcement of judgments, or their relatives;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Enforcers are prohibited from committing the following acts:

a) Committing the acts specified in points b, c, d and dd clause 1 of this Article;

b) Committing acts prohibited from performance by civil servants according to regulations of law;

c) Breaking ethical code applicable to enforcers;

d) Directly organizing enforcement of judgments related to their own rights and interests and those of their spouses, blood children or adopted children; their blood parents, adoptive parents, paternal or maternal grandparents, uncles, aunts, and blood siblings or those of their spouses; nephews and nieces whose blood parents are their blood siblings.

3. Bailiffs are prohibited from committing the following acts:

a) Committing the acts specified in points b, d and dd clause 1 of this Article;

b) Breaking ethical code applicable to bailiffs;

c) Taking advantage of or abusing the assigned tasks and powers, and using the provided information to threaten, harass, or commit other violations against agencies, organizations, or individuals during the judgment enforcement organization;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Practicing at least 02 civil judgment-enforcing offices; simultaneously acting as lawyers, notaries, asset management officers, auctioneers, judicial experts, or price appraisers.

Chapter II

CIVIL JUDGMENT ENFORCEMENT SYSTEM AND CIVIL JUDGMENT-ENFORCING OFFICES

Section 1. CIVIL JUDGMENT ENFORCEMENT SYSTEM AND ENFORCERS

Article 17. Civil judgment enforcement system

1. Civil judgment enforcement-managing agencies include civil judgment enforcement-managing agencies affiliated to the Ministry of Justice and the Ministry of National Defense.

2. Civil judgment-enforcing agencies include provincial civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing agencies of military zones and equivalents (hereinafter referred to as “military zone-level civil judgment-enforcing agencies”).

3. The civil judgment enforcement system shall be uniformly organized from central level to local level in accordance with this Law and relevant laws.

Article 18. Civil judgment enforcement-managing agencies

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice is a juridical person, and has its own seal bearing the National Emblem, head office and account.

2. The judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense shall advise and assist the Minister of National Defense to perform tasks and exercise powers in accordance with the law.

The civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense is a juridical person, and has its own seal bearing the National Emblem, head office and account.

3. The Minister of Justice shall issue regulations on name, functions, tasks, powers and organizational structure of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice. The Minister of National Defense shall issue regulations on name, functions, tasks, powers and organizational structure of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense.

Article 19. Civil judgment-enforcing agencies

1. Civil judgment-enforcing agencies are agencies organizing enforcement of judgments and decisions as prescribed in this Law and relevant laws.

2. Each civil judgment-enforcing agency is composed of a Head and Deputy Heads, is a juridical person and has its own seal bearing the National Emblem, head office and account. Chief of the civil judgment-enforcing agency is its Head.

3. Organizational structure of a provincial civil judgment-enforcing agency includes:

a) Division of Professional Affairs and Organization of Civil Judgment Enforcement;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Other divisions.

4. The Minister of Justice shall issue regulations on name, functions, tasks, powers and organizational structure of each provincial civil judgment-enforcing agency. The Minister of National Defense shall issue regulations on name, functions, tasks, powers and organizational structure of each military zone-level civil judgment-enforcing agency.

Article 20. Tasks and powers of provincial civil judgment-enforcing agencies

1. Manage, direct, and provide professional guidance on, inspect, and urge enforcement of civil judgments within their provinces; uniformly apply regulations of law to enforcement of civil judgments.

2. Directly organize enforcement of judgments and decisions specified in clause 1 Article 32 of this Law.

3. Make applications for reduction or cancellation of debts; cooperate with competent authorities in making documentation requesting pardon or reduction of imprisonment sentences for judgment debtors.

4. Settle complaints about and denunciations of enforcement of civil judgments within their jurisdiction under this Law.

5. Manage civil servants, facilities, funding, and operation equipment of civil judgment-enforcing agencies in accordance with regulations of law and guidance and direction given by the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice.

6. Assist provincial People's Committees in fulfilling their responsibilities, performing tasks, and exercising powers over enforcement of civil judgments as prescribed by law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

8. Establish and update the civil judgment enforcement database in accordance with the law and as delegated by competent authorities.

9. Access, retrieve, extract, and use information included in the National General Database, national and specialized databases, and other databases as prescribed by law to serve enforcement of civil judgments.

10. Cooperate with other civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices and relevant agencies, organizations and individuals as per law.

11. Finally review enforcement of civil judgments; compile statistics and reports on organization of enforcement and enforcement of civil judgments in accordance with the law and guidelines provided by the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice.

12. Perform other tasks and powers as prescribed in law.

Article 21. Tasks and powers of military zone-level civil judgment-enforcing agencies

1. Directly organize enforcement of judgments and decisions specified in clause 3 Article 32 of this Law.

2. Finally review enforcement of civil judgments within their jurisdiction; compile statistics and reports on organization of enforcement and enforcement of civil judgments in accordance with the law and guidelines provided by the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense; report to Courts on results of enforcement of judgments and decisions when requested.

3. Settle complaints about and denunciations of enforcement of civil judgments within their jurisdiction under this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. Make applications for reduction or cancellation of debts; cooperate with competent authorities in making documentation requesting pardon or reduction of imprisonment sentences for judgment debtors.

6. Assist commanders of military zones and equivalent levels in fulfilling their responsibilities, performing tasks, and exercising powers over enforcement of civil judgments as prescribed by law.

7. Establish and update the civil judgment enforcement database in accordance with the law and as delegated by competent authorities.

8. Access, retrieve, extract, and use information included in the National General Database, national and specialized databases, and other databases as prescribed by law to serve enforcement of civil judgments.

9. Cooperate with other civil judgment-enforcing agencies and relevant agencies, organizations and individuals as per law.

10. Perform other tasks and powers as prescribed in law.

Article 22. Heads or Deputy Heads of civil judgment-enforcing agencies

1. Head and Deputy Head(s) of a civil judgment-enforcing agency are intermediate-level enforcers or higher-level enforcers.

2. The Head of the civil judgment-enforcing agency has the following tasks and powers:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 b) Manage, direct and inspect enforcement of civil judgments by the civil judgment-enforcing agency;

c) Request and recommend agencies, organizations and individuals to comply with requests, implement recommendations or cooperate in enforcement of civil judgments;

d) Request the judgment/decision issuer to amend judgments and decisions when any spelling mistake, inaccurate or insufficient data or miscalculation is detected and explain contents unclear or inappropriate to the actual situation in such judgments and decisions.

In case it is found that amendments to or explanation of a judgment/decision are unclear or the judgment/decision is still difficult to be enforced, a written request shall be submitted to the immediate superior People's Court for consideration and settlement. The immediate superior People's Court shall request the Court that issued the judgment/decision to provide a written response;

dd) Recommend competent persons to lodge protests according to cassation or reopening procedures against judgments or decisions or recommend competent authorities or persons to propose decisions issued by the Council of Justices of the Supreme People’s Court if there are grounds in accordance with the law;

e) Resolve and respond to protests, requests, and recommendations from Procuracies; recommend competent state authorities to take disciplinary actions, impose administrative penalties/fines, or criminally prosecute violators;

g) Settle complaints about and denunciations of enforcement of civil judgments;

h) Organize preparation of reports and statistics on enforcement of civil judgments;

i) Impose penalties for administrative violations within his//her jurisdiction;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

l) Heads of provincial civil judgment-enforcing agencies shall allocate, provide professional and operational guidance, direct and inspect the enforcement of civil judgments by enforcers and civil servants of civil judgment-enforcing agencies; and perform other tasks as delegated and devolved in accordance with the law;

m) Heads of military zone-level civil judgment-enforcing agencies shall provide professional and operational guidance, direct and inspect the enforcement of civil judgments by enforcers and personnel in charge of enforcement of judgments under his/her management; and perform other tasks as delegated and devolved in accordance with the law;

n) Perform other tasks and powers as prescribed in law.

3. Deputy Head(s) of the civil judgment-enforcing agency shall perform tasks and powers as assigned or authorized by their Heads and take responsibilities for assigned or authorized tasks.

Heads of civil judgment-enforcing agencies may assign or authorize heads of the units specified in clause 3 Article 19 of this Law to perform their tasks and powers, except for cases where authorization is not permitted by law.

Heads of civil judgment-enforcing agencies shall be responsible to the law for the legality of the assignment and authorization of tasks and powers and the results of performance of such tasks and powers, except for cases where persons who are assigned or authorized fail to adhere to the contents, scope and period of assignment or authorization.

Persons who are assigned or authorized shall perform tasks and powers as authorized and take responsibilities to Heads of civil judgment-enforcing agencies for results of performance of tasks and powers as assigned or authorized.

4. Heads and Deputy Heads of provincial civil judgment-enforcing agencies shall be appointed and dismissed by the Minister of Justice; Heads and Deputy Heads of military zone-level civil judgment-enforcing agencies shall be appointed and dismissed by the Minister of National Defense.

5. The Government shall elaborate clause 3 of this Article and standards and procedures for appointing and dismissing Heads and Deputy Heads of civil judgment-enforcing agencies.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Enforcers are those assigned by the State to enforce the judgments and decisions specified in Article 2 of this Law. There are three enforcer ranks: primary-level enforcers, intermediate-level enforcers and high-level enforcers.

2. Heads of regional civil judgment-enforcing divisions are also chief enforcers.

Chief enforcers shall perform the tasks and powers of enforcers; provide guidance for enforcers and direct them to organize the enforcement of civil judgments at regional civil judgment-enforcing divisions; and perform other tasks and powers as assigned or authorized by Heads of civil judgment-enforcing agencies.

Chief enforcers shall be responsible to the law and Heads of civil judgment-enforcing agencies for the performance of the assigned tasks and powers.

3. Enforcers shall be appointed, dismissed and relieved by the Minister of Justice.

Article 24. Appointing, dismissing and relieving enforcers of their duties

1. A civil servant appointed as a primary-level enforcer must meet the following conditions and standards:

a) Be loyal to the Fatherland, honest, non-corruptible, and has good ethical quality and good health to perform the assigned tasks;

b) Possess a bachelor of laws degree or higher;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Be trained in enforcement of civil judgments;

dd) Pass the examination for selection of enforcers.

2. A person appointed as an intermediate-level enforcer must meet one of the following conditions and standards:

a) Work as a primary-level enforcer for 5 years or more and meet the requirements for the intermediate-level enforcer position;

b) Be a primary-level enforcer appointed by the Deputy Head of the civil judgment-enforcing agency, the Head of the regional civil judgment-enforcing division or the Head of the Division of Professional Affairs and Organization of Civil Judgment Enforcement.

3. A person appointed as a high-level enforcer must meet one of the following conditions and standards:

a) Work as an intermediate -level enforcer for 5 years or more and meet the requirements for the high-level enforcer position;

b) Be an intermediate -level enforcer appointed by the Head of the civil judgment-enforcing agency.

4. An in-service army officer may be appointed as a primary-level military enforcer when he/she meets all conditions and standards specified in points a, b, c, d and dd clause 1 of this Article.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. Incumbent judges, procurators and investigators who are transferred to civil judgment-enforcing agencies or those who were acted as enforcers but are now assigned to perform other tasks and fully satisfy the conditions specified in points a and b clause 1 of this Article may be appointed as enforcers of equivalent ranks.

6. In special cases, due to the demands for appointment of Heads and Deputy Heads of civil judgment-enforcing agencies, persons who fully satisfy the conditions and standards specified in clause 1 of this Article and have been engaged in legal affairs for 10 years or more or 15 years or more may be appointed as intermediate-level or high-level enforcers, respectively.

In special cases, due to the demands for appointment of Heads and Deputy Heads of Divisions of Professional Affairs and Organization of Civil Judgment Enforcement and regional civil judgment-enforcing divisions, persons who fully satisfy the conditions and standards specified in points a and b clause 1 of this Article and have been engaged in legal affairs for 05 years or more or 10 years or more may be appointed as primary-level or high-level enforcers, respectively.

7. Enforcers will be automatically dismissed in case they retire, resign, are transferred to other agencies or appointed to other positions.

8. Enforcers may be considered for dismissal in the following cases:

a) They are unable to fulfill their tasks due to family circumstances or poor health;

b) They have inappropriate professional qualifications and limited capacity for fulfillment of their tasks or they no longer satisfy the conditions and standards applicable to enforcers for other reasons.

c) They are dismissed in accordance with their wishes.

9. The enforcer may be relieved of his/her duties in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) He/she commits a serious violation specified in clause 2 Article 16 of this Law and relief from duty is deemed necessary.

10. The Government shall elaborate this Article.

Article 25. Tasks and powers of enforcers

1. Organize the settlement of the assigned cases; issue judgment enforcement decisions and other documents within their jurisdiction.

2. Strictly enforce contents of judgments or decisions; correctly apply regulations of law on procedures for enforcement of judgments, thereby protecting the interests of the State and the legitimate rights and interests of litigants and persons having related interests and obligations; and strictly observe regulations on work ethics of enforcers as prescribed by the Minister of Justice.

3. Summon litigants and persons having related interests and obligations for enforcement of judgments.

4. Verify assets and capability of executing judgments; request relevant agencies, organizations and individuals to supply and share information, data and documents for the verification of addresses and capability of executing judgments of judgment debtors or cooperate with relevant agencies in handling exhibits, assets and other matters related to enforcement of judgments.

5. Apply security measures and coercive measures for enforcing judgments in accordance with this Law.

6. Request police authorities to handle individuals who commit acts of disturbing public order, resisting or obstructing the organization of enforcement of judgments, or opposing on-duty officials during the organization of enforcement of judgments in accordance with the law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

8. Apply coercive measures in accordance with this Law to recover money and assets already paid/transferred to litigants in contravention of law, or collect judgment enforcement fees and other amounts payable.

9. Use support tools while performing their tasks according to the Government’s regulations.

10. Make written records of violations against the law on enforcement of civil judgments; impose administrative penalties and fines within their jurisdiction.

11. Perform other tasks and powers prescribed in law or as assigned by Heads of civil judgment-enforcing agencies.

12. When performing tasks and powers, enforcers shall comply with the law and be responsible to the law for their decisions and acts.

Section 2. CIVIL JUDGMENT-ENFORCING OFFICES AND BAILIFFS

Article 26. Civil judgment-enforcing offices

1. Civil judgment-enforcing office is a workplace where enforcers organize enforcement of judgments and perform other tasks in accordance with the law.

2. The civil judgment-enforcing office is organized and operates according to this Law and relevant laws on corresponding enterprise type; it has its own head office, seal and account.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The civil judgment-enforcing office established by at least 02 bailiffs is organized as a partnership. The head of the civil judgment-enforcing office must be a general partner of the civil judgment-enforcing office and has practiced as a bailiff for at least 02 years.

The head of the civil judgment-enforcing office is the legal representative of the civil judgment-enforcing office, and manages and operates the office. The head is not permitted to hire another individual to manage the civil judgment-enforcing office, and lease the office out.

4. Disputes over contracts, execution of contracts, and non unstipulated compensation for damage related to the performance of tasks by the civil judgment-enforcing office and bailiffs shall be resolved by competent authorities in accordance with the civil law and the civil procedure law.

5. The Government shall elaborate organization and operation of civil judgment-enforcing offices.

Article 27. Tasks and powers of civil judgment-enforcing offices

1. Organize enforcement of judgments and decisions in accordance with this Law.

2. Reach agreements and sign contracts with requesters; perform tasks under contracts, receive remuneration, and be reimbursed for expenses as agreed upon and in accordance with the law.

3. Sign employment contracts and manage bailiffs and other employees in their offices to ensure that such bailiffs and employees comply with the law and professional ethical standards for bailiffs as prescribed by the Minister of Justice.

4. Purchase professional liability insurance for bailiffs working for civil judgment-enforcing offices in accordance with the Government’s regulations.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case where a civil judgment-enforcing office has been converted, merged, or consolidated, a civil judgment-enforcing office inheriting the rights and obligations of such civil judgment-enforcing office is responsible for paying damages; in case where the civil judgment-enforcing office has been dissolved or terminated its operations, bailiffs or other employees directly causing damages must pay such damages, even if they are no longer bailiffs or employees of the civil judgment-enforcing office.

6. Comply with requests from competent state authorities for statistics, reports, inspection, audit, appeals, protests, resolution of complaints and denunciations, and other requests related to enforcement of judgments as prescribed by law.

7. Prepare, manage, and use operational records and documents, and store them in accordance with the law; collect, manage and use expenses for performance of tasks by bailiffs in accordance with the law.

8. Develop, establish, and update databases in accordance with the law; extract information from the National General Database, national and specialized databases, and other databases as prescribed by law.

9. Cooperate with other civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices and relevant agencies, organizations and individuals as per law.

10. Enable and encourage litigants to reach agreements on enforcement of judgments in accordance with the law; assist, record, and organize the implementation of agreements among litigants to protect the legitimate rights and interests of all parties during the enforcement of civil judgments.

11. Perform other tasks and powers as prescribed in law.

Article 28. Tasks and powers of Heads of civil judgment-enforcing offices

1. Organize performance of tasks and powers of civil judgment-enforcing offices

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Have tasks and powers specified at points a, c, d, dd, e and h clause 2, Article 22 of this Law;

b) Settle complaints about enforcement of civil judgments under this Law;

c) Directly organize enforcement of judgments, perform tasks and exercise powers of bailiffs specified in Article 30 of this Law.

3. Perform other tasks and powers as prescribed in law.

Article 29. Bailiffs

1. Bailiffs are those assigned by the State to enforce judgments and decisions and perform other tasks in accordance with this Law and relevant laws.

2. Vietnamese citizens who are loyal to the Fatherland, honest, non-corruptible, and have good ethical quality, have at least bachelor's degree in law, have undergone professional training for bailiffs, and meet other standards may be appointed as bailiffs.

3. Bailiffs are entitled to establish, participate in the establishment of civil judgment-enforcing offices, or work under contracts at civil judgment-enforcing offices, and must strictly comply with the law and ethical standards applicable to bailiffs.

Bailiffs are responsible for paying damages in accordance with the law and reimbursing civil judgment-enforcing offices for amounts paid by such offices in accordance with the law in case where bailiffs are at fault and cause damage.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. The Government shall provide for standards and procedures for appointing and dismissing bailiffs.

Article 30. Tasks and powers of bailiffs

1. Bailiffs may perform the following tasks:

a) Organize enforcement of judgments in accordance with this Law;

b) Verify capability of executing judgments as requested by litigants and persons having related interests and obligations;

c) Serve documents and records;

d) Produce reports as requested by agencies, organizations and individuals;

dd) Perform other tasks as prescribed by law.

2. When organizing enforcement of civil judgments, bailiffs have the following tasks and powers:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Strictly enforce contents of judgments or decisions; correctly apply regulations of laws on procedures for enforcement of judgments, thereby protecting the interests of the State and the legitimate rights and interests of litigants and persons having related interests and obligations;

c) Request litigants and persons having related interests and obligations to settle enforcement of judgments at civil judgment-enforcing offices;

d) Verify assets and capability of executing judgments in accordance with this Law; request relevant agencies, organizations and individuals to supply information and documents for the verification of addresses, assets and capability of executing judgments of judgment debtors. Bailiffs are entitled to conduct verification outside provinces and cities where their civil judgment-enforcing offices are headquartered.

Civil judgment-enforcing offices and bailiffs have the obligations to pay expenses (if any) in accordance with the law when requesting agencies, organizations and individuals to provide information according to this Law;

dd) Request competent authorities and organizations to freeze accounts and assets in places of their deposit; suspend transactions, registration, transfer of the ownership, the rights to use and change the current condition of assets;

e) Request competent authorities to handle administrative violations against regulations on enforcement of civil judgment according to the law;

g) Perform other tasks and powers as per law.

3. When verifying capability of executing judgments as requested, bailiffs shall comply with regulations in point d clause 2 of this Article.

4. Bailiffs shall perform the tasks specified in points c and d clause 1 of this Article according to the Government's regulations

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 31. Civil judgment enforcement organization by civil judgment-enforcing offices and bailiffs

1. Civil judgment-enforcing offices shall organize enforcement of judgments and decisions specified in clause 1 Article 32 of this Law as requested by litigants within provinces and cities where they are headquartered, except for regulations in point k clause 1 Article 32 and clause 2 Article 33 of this Law.

In case of any dispute over the jurisdiction to organize the enforcement of judgments between civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices, the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice shall make a decision.

2. The judgment enforcement request shall comply with Article 34 of this Law.

If litigants request multiple civil judgment-enforcing agencies and civil judgment-enforcing offices to organize the enforcement of a judgment/decision, they shall cooperate in enforcement of such judgment/decision.

3. The judgment enforcement organization agreement between the judgment enforcement requester and the civil judgment-enforcing office shall be made in the form of a service contract.

The judgment enforcement requester and the civil judgment-enforcing office shall reach an agreement on remuneration, judgment enforcement expenses, and other expenses (if any).

4. Within 05 working days from the date of signature of the service contract, the Head of civil judgment-enforcing office shall issue a judgment enforcement decision.

Regulations in Chapter III of this Law shall apply in case where civil judgment-enforcing offices organize the enforcement of judgments; Heads of civil judgment-enforcing offices shall follow the same procedures for enforcement of judgments as those followed by Heads of civil judgment-enforcing agencies; and bailiffs shall follow the same procedures for enforcement of judgments as those followed by enforcers. Heads of civil judgment-enforcing offices and bailiffs must not apply regulations related to entrustment of enforcement of judgments and handling of assets, application of security measures or coercive measures for enforcing judgments and regulations related to cases where civil judgment-enforcing agencies proactively issue judgment enforcement decisions.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) There are grounds specified in Article 55 of this Law;

b) The judgment enforcement terminates according to agreements between civil judgment-enforcing offices and judgment enforcement requesters;

c) There are grounds to determine that judgments are not yet enforceable according to regulations of clause 1, Article 38 of this Law, except for cases where civil judgment-enforcing offices and judgment enforcement requesters reach other agreements;

d) Requesters send proposals to civil judgment-enforcing offices for termination of enforcement of judgments and transfer such judgments to civil judgment-enforcing agencies to apply security measures or coercive measures for enforcing judgments;

dd) Judgment debtors request enforcement of judgments but fail to fulfill all obligations under judgments/decisions within 30 days from the date of issuance of enforcement decisions, except for emergency, objective obstacles, or force majeure. After termination of contracts, judgment debtors must not request civil judgment-enforcing offices to organize enforcement of judgments.

6. Within 02 working days from the date of termination of contracts according to point b clause 5 of this Article, Heads of civil judgment-enforcing offices shall revoke judgment enforcement decisions and transfer judgment enforcement dossiers to competent civil judgment-enforcing agencies, except for cases where requesters do not grant permission. Handover and receipt of judgment enforcement dossiers shall be made into records.

Within 05 working days from the date of receipt of all dossiers, Heads of civil judgment-enforcing agencies shall issue judgment enforcement decisions and organize enforcement of judgments in accordance with this Law.

Results of enforcement of judgments by civil judgment-enforcing offices according to the law must be recognized and used. Civil judgment-enforcing offices shall be responsible for the followed procedures.

7. Within 05 working days from the date of termination of service contracts according to clause 5 of this Article, civil judgment-enforcing offices shall notify competent People's Procuracies and civil judgment-enforcing agencies in the same province/city.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

9. The Government shall elaborate this Article.

Chapter III

PROCEDURES FOR, SECURITY MEASURES OR COERCIVE MEASURES FOR ENFORCING CIVIL JUDGMENTS

Section 1. CIVIL JUDGMENT ENFORCEMENT PROCEDURES

Article 32. Jurisdiction to enforce judgments

1. Provincial civil judgment-enforcing agencies have the jurisdiction to enforce the following judgments and decisions:

a) First-instance judgments and decisions of regional People's Courts; first-instance, appeal, cassation and re-opening judgments and decisions of People’s Courts of provinces where civil judgment-enforcing agencies are headquartered;

b) Judgments and decisions issued by the Appellate Court of the Supreme People's Court on first-instance judgments and decisions of People's Courts of provinces where civil judgment-enforcing agencies are headquartered;

c) Cassation or re-opening decisions issued by the Supreme People's Court on judgments and decisions of People's Courts of provinces where civil judgment-enforcing agencies are headquartered;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Decisions transferred by the Supreme People’s Court to provincial civil judgment-enforcing agencies;

e) Decisions on application of provisional urgent measures; Successful mediation recognition decisions issued by Courts of places where civil judgment-enforcing agencies are headquartered;

g) Civil judgments and decisions of foreign Courts, verdicts of foreign arbitrators recognized by Courts of places where civil judgment-enforcing agencies are headquartered for enforcement in Vietnam;

h) Verdicts of arbitrators and decisions on application of provisional urgent measures, issued by Arbitrator Councils of places where civil judgment-enforcing agencies are headquartered;

i) Decisions on settlement of competition cases issued by the President of National Competition Commission, the anti-competitive settlement council, decisions on handling of complaints against decisions on settlement of competition cases issued by the President of the National Competition Commission, the anti-competitive complaint handling council. Such decisions are enforced by civil judgment-enforcing agencies of places where such Commission and council are headquartered;

k) Judgments and decisions entrusted by civil judgment-enforcing agencies of other zones;

l) Decision to apply the diversion measure which is damage compensation issued by an investigating authority, a People’s Procuracy or a People’s Court of locality where the civil judgment-enforcing agency is headquartered;

m) Bankruptcy declaration decisions issued by People’s Courts of regions where civil judgment-enforcing agencies are headquartered;

n) Other judgments and decisions as per law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Military zone-level civil judgment-enforcing agencies have the jurisdiction to enforce the following judgments and decisions:

a) Decisions on fines, confiscation of assets, retrospective collection of illicitly earned money and assets, handling of exhibits and assets, court fees and civil decisions mentioned in criminal judgments and decisions made by military zone-level military courts or equivalences, regional Military Courts within their zones;

b) Decisions on fines, confiscation of assets, retrospective collection of illicitly earned money and assets, handling of exhibits and assets, court fees and civil decisions mentioned in criminal judgments and decisions transferred by the central military courts to military zone-level judgment-enforcing agencies;

c) Civil decisions transferred by the Supreme People’s Court of Vietnam to military zone-level civil judgment-enforcing agencies;

d) Decision to apply the diversion measure which is damage compensation issued by an investigating authority affiliated to the People's Army, a Military Procuracy or a Military Court of locality where the military zone-level civil judgment-enforcing agency is headquartered;

dd) Judgments and decisions entrusted by civil judgment-enforcing agencies of other zones;

e) Other judgments and decisions as per law.

Article 38. Transferring, sending judgments and decisions and proactively issuing judgment enforcement decisions

1. Judgments and decisions shall be transferred and sent to civil judgment-enforcing agencies in accordance with the procedural law. In case where no regulation has been issued, judgment/decision issuers shall transfer them to civil judgment-enforcing agencies within 15 days from the date such judgments/decisions, or relevant parts thereof come into force.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Heads of civil judgment-enforcing agencies shall proactively issue decisions to enforce the following contents of judgments and decisions:

a) Fines, retrospective collection of illicitly earned money and assets, court fees and charges;

b) Refund of money, assets, documents to litigants;

c) Confiscation into the state budget or destruction of exhibits and assets; other revenues transferred to state budget;

d) Compensation collected by civil judgment-enforcing agencies for the injured parties and indicated in judgments or decisions;

dd) Recovery of the rights to use land and other assets that must be confiscated by the State;

e) Decisions on application of provisional urgent measures;

g) Bankruptcy declaration decisions issued by Courts;

h) Other judgments and decisions as per law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Within 05 working days from the date of receipt of the judgments and decisions specified at points a, b, c, d, dd and h of clause 2 of this Article and a copy of record of distraint, temporary holding of assets, seizure of exhibits or other relevant documents (if any);

b) After receipt of the decision specified in point e clause 2 of this Article;

c) Within 03 working days from the date of receipt of the decision specified in point g clause 2 of this Article.

Article 34. Requesting enforcement of judgments and issuing decisions to enforce judgments as requested

1. Litigants may request enforcement of judgments, except for the cases specified in clause 2 Article 33 of this Law. Vietnam Competition Commission may request enforcement of judgments in accordance with the Law on Competition.

The judgment enforcement request shall be sent electronically, submitted in person, delivered orally, or sent by post.

2. The prescriptive period is 05 years from the effective date of judgment/decision or from the deadline for fulfillment of the liability.

In case the judgment enforcement requester can prove that he/she is unable to request judgment enforcement within the prescribed period due to emergency, an objective obstacle or a force majeure circumstance, the period when such emergency, objective obstacle or force majeure circumstance exists will not be included into the prescriptive period for requesting the judgment enforcement.

The prescriptive period for requesting the judgment enforcement shall be excluded in case where the litigant requests resumption of the enforcement after the civil judgment-enforcing agency sends back the judgment enforcement request in accordance with clause 4, Article 38 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The head of the civil judgment-enforcing agency shall issue a judgment enforcement decision within 05 working days from the date of receipt of the enforcement request and the judgment/decision, except for the case where the enforcement request is refused as prescribed in clause 4 of this Article. In case where conditions to be satisfied for enforcement of the judgment/decision are prescribed by law, the time limit for issuance of the judgment enforcement decision shall be 05 working days from the date of receipt of information on such conditions.

4. In the following cases, the civil judgment-enforcing agency may refuse a request for judgment enforcement and shall, within 5 working days after receiving the request, notify in writing to the requester:

a) The requester has no right to request the judgment enforcement or the contents of the request for enforcement of the judgment are irrelevant to the contents of the judgment or decision;

b) No rights or obligations of the litigant arise during enforcement of the judgment or decision in accordance with this Law;

c) The civil judgment-enforcing agency requested to enforce the judgment is incompetent to do so;

d) The prescriptive period for requesting the judgment enforcement is expired;

dd) The judgment content requested to be enforced has been decided for enforcement, unless otherwise provided by law

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 35. Notifying enforcement of judgments and sending judgment enforcement decisions

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The notification shall be given within 03 working days from the date of the issuance of any of the above documents, unless it is necessary to prevent litigants from dispersing or destroying assets or shirking the judgment enforcement or except for the case of execution of the decision on application of provisional urgent measures.

2. Judgment enforcement decisions shall, within 03 working days after being issued, be sent to competent People’s Procuracies, unless otherwise provided by this Law.

Decisions on application of security measures or coercive measures for enforcing judgments shall be sent to agencies, organizations and individuals related to such decisions for enforcement.

3. The notification shall be given in the following methods:

a) It is given electronically or through a civil judgment-enforcing office or postal enterprise or another agency/organization/individual or given directly to the notified person by a civil judgment-enforcing agency;

b) It is publicly posted;

c) It is given on mass media.

4. In case where the litigant or the person having related interests and obligations resides in a foreign country but their address or place of residence cannot be identified, the notification shall be given electronically.

In case where the litigant or the person having related interests and obligations does not reside in Vietnam and their address or place of residence in the foreign country can be identified, the notification shall be given by one of the following methods:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Requesting mutual legal assistance to serve documents according to the Law on Civil Legal Assistance;

c) Sending notification by post to the overseas representative mission of the Socialist Republic of Vietnam that will give the notification to the notified person who is a Vietnamese citizen;

d) Sending notification by post to the address of the notified person residing in the foreign country if such method is accepted by the foreign country’s laws;

dd) Giving notification through the representative office, the branch, or the representative in Vietnam of the notified entity that is a foreign agency/organization/ individual.

Article 36. Voluntary execution of and execution of judgments as agreed

1. A judgment shall be voluntarily executed within 10 days from the date on which the judgment debtor is properly notified of a judgment enforcement decision, except for the case of execution of the decision on application of provisional urgent measures.

2. Litigants and persons having related interests and obligations are entitled to reach agreements on execution of judgments and must be responsible for such agreements. When reaching agreements on execution of judgments, litigants shall agree on judgment enforcement fees and other expenses arising (if any)

The agreement shall be made in writing, clearly indicate the time, location, components, content, the time limit for implementation of the agreement, legal consequences for failure to implement or properly implement the agreement; and must bear signatures or fingerprints of the parties.

The result of enforcement of the judgment in accordance with the agreement shall be recognized, except for cases where the agreement violates the law, is contrary to social ethics, affects the State’s interests or the legitimate rights and interests of the third party or aims to evade the obligation to pay judgment enforcement fees.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 37. Verification of capability of executing judgments

1. Within 09 days after the deadline for voluntary execution of a judgment, if a judgment debtor fails to voluntarily execute the judgment, an enforcer shall conduct the verification; in case of execution of a decision on application of provisional urgent measures, the verification shall be conducted immediately.

The judgment debtor shall truthfully make declaration and fully supply information on their assets, income and their capability of executing the judgment and assume their responsibility for their declaration. If any damage is caused, they must compensate for such damage in accordance with the law.

2. When verifying capability of executing a judgment, the enforcer shall verify assets, income and other capabilities of executing the judgment. Regarding assets that must be granted registration of ownership or right for use or registration of secured transactions, the verification shall be conducted at an agency having the jurisdiction to register such assets and transactions;

3. The capability of executing the judgment may be verified electronically, in person or in writing as per law.

In case the capability of executing the judgment is verified electronically, the enforcer is entitled to extract information from databases of assets, income and other capabilities of executing the judgment of the judgment debtor.

In case the capability of executing the judgment is verified in person, the enforcer shall make a written record clearly showing the verification result and certified by the agency/organization/individual that has conducted verification.

In case the capability of executing the judgment is verified in writing, a written request for supply of information shall clearly state information to be supplied and other necessary information.

4. When verifying capability of executing the judgment, on a case-by-case basis, the enforcer shall:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Request the agency/organization/individual managing, preserving, storing or holding information on assets, account, income and other information on the capability of executing the judgment of the judgment debtor to provide information, hand over, or supply documents on the ownership of assets, land use rights; and judgment enforcement documents managed and stored by the agency/organization/individual;

c) Verify the current state of assets, income and other capabilities of executing the judgment of the judgment debtor; On a case-by-case basis, the enforcer is entitled to:

Request a specialized agency or invite/hire a professional organization or individual to check the current state of assets, records of management of capital and assets of the judgment debtor, or to clarify contents to be verified.

Request a competent authority to determine the quantity of shares, capital contributions, digital assets, and other specific assets of the judgment debtor.

Request the professional organization/individual to determine the value of the assets of the judgment debtor.

Directly unlock or unpack or request the agency/organization/individual to unlock or unpack the objects; survey assets or take other necessary measures to conduct verification.

If necessary, the enforcer may request the specialized agency to conduct survey and determine boundaries and landmarks of assets being land use rights and assets on land.

In case where the litigant or other persons commit acts of obstructing or resisting the verification or inspection of the current state of assets, the enforcer shall propose the commune-level People's Committee or the competent authority/organization to request such persons to cease their acts or to temporarily leave the place where the assets exist for the verification;

d) The civil judgment-enforcing agency may conduct verification outside the province or city where it is headquartered or authorize another civil judgment-enforcing agency of province/commune where the judgment debtor possesses assets, resides or works or is headquartered to verify their capability of executing the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case the enforcer finds it necessary or the enforcer’s verification results are different from the judgment creditor’s ones or there is protest lodged by a People’s Procuracy, re-verification shall be conducted. Re-verification shall be conducted within 05 working days from the date of receipt of verification results provided by the litigant or receipt of the protest from the People’s Procuracy.

6. Agencies, organizations and individuals specified in clause 1 Article 14 of this Law and other agencies, organizations and individuals holding information or managing assets and accounts of judgment debtors shall:

a) Share data as requested by civil judgment-enforcing agencies or enforcers;

b) Fully, accurately and punctually provide information and documents as requested by enforcers or judgment creditors, in accordance with the law; sign verification records in case where enforcers conduct direct verification or provide written responses within 03 working days from the date of receipt of requests; regarding information on accounts or implementation of provisional urgent measures, such information and documents must be provided immediately.

c) Competent authorities managing and registering assets shall provide information on holders of the ownership or rights to use assets within 03 working days from the date of receipt of requests from civil judgment-enforcing agencies or enforcers.

Civil judgment-enforcing agencies or enforcers requesting provision of information as prescribed by law are not required to incur expenses.

7. If an agency, organization or individual fails to provide, delays providing, or provides false information on the capability of executing the judgment of the judgment debtor, the individual or the head of the agency or organization shall be held responsible, and if any damage is caused, they shall be responsible for compensation in accordance with the law.

8. Enforcers may use judgment execution capability verification results produced by civil judgment-enforcing officers or bailiffs to organize execution of judgments in accordance with the Law.

Article 38. Incapability of executing judgments

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The judgment debtor has no income or has low income which can only ensure his/her minimum living standards and persons whom he/she shall nurture, and has no assets for enforcement of the judgment or has assets the value of which is only sufficient to pay expenses for coercive judgment enforcement or has assets which are not allowed to be distrained and handled for enforcement of the judgment in accordance with the law;

b) The judgment or decision declares that the assets are handled, but at the time of the enforcement, the verification result show that such assets no longer exist, the location of the movable assets cannot be identified, or the asset ownership certificate or the land use right certificate has been revoked, except for the case where the judgment debtor has other income or assets for enforcement;

c) The address or place of residence of the person whose custody has been granted to another person or the person to whom custody is granted cannot be identified.

d) The judgment debtor is obliged to return specific objects, but these objects no longer exist or are irreparably damaged provided the litigant does not otherwise agree, or to return documents that are neither recoverable nor reissuable or are transferred to the document issuer as specified in clause 2 Article 59 of this Law.

dd) The obligation fulfillment is closely associated with the personal identity of the judgment debtor, or the obligations are non-transferable as prescribed by law, but he/she has lost his/her civil act capacity according to a Court decision;

e) The judgment debtor’s assets are pledged as collateral and the value of these assets is lower than the secured debt and expenses for the coercive judgment enforcement or are sold as specified in point d clause 3 Article 78 of this Law but after a price reduction, the asset value is equal to or lower than judgment enforcement expenses and the secured debt, except for the case where the judgment debtor has other income or assets for enforcement;

g) The assets are sold in accordance with clause 3, Article 83 of this Law and after a reduction, the asset value is equal to or lower than judgment enforcement expenses, and the judgment creditor does not agree to have it deducted from the judgment debt, except for the case where the judgment debtor has other income or assets for enforcement;

h) The judgment debtor’s assets are being seized or handled to secure the bad debt in accordance with the Law on Credit Institutions, and the judgment debtor has no other income or assets for enforcement of the judgment.

2. Information on name, address and judgment execution obligations of the judgment debtor that is not capable of executing the judgment shall be posted up on the web portal on enforcement of civil judgments and sent to the People’s Committee of commune where the capability of executing the judgment is verified for public notification.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. In case the judgment debtor is not capable of executing the judgment, the enforcer shall verify their capability of executing the judgment at least once every 6 months; in case the judgment debtor that is not capable of executing the judgment is serving imprisonment sentence with the remaining serving time of at least 2 years or the new address or place of residence cannot be identified, the verification shall be conducted at least once a year.

4. Upon expiration of the 2-year period from the date on which the decision on incapability of executing the judgment has been issued and the verification is conducted in accordance with clause 3 of this Article, if there is no new information on the capability of executing the judgment of the judgment debtor, the civil judgment-enforcing agency shall re-submit the judgment enforcement request. The litigant has the right to request the civil judgment-enforcing agency to resume the civil judgment enforcement as prescribed in Article 34 of this Law when the judgment debtor is capable of executing the judgment, or has the right to request the civil judgment-enforcing office to enforce the judgment as prescribed in Article 31 of this Law.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 39. Determination of assets and settlement of disputes over assets owned by judgment debtors

1. In case of failure to determine the part of asset or land (land use right) owned by or of the judgment debtor in the common asset shared with other persons, the enforcer shall:

a) Notify the judgment creditor, the judgment debtor and co-owners of the asset so that they reach an agreement on division of the common asset or request the Court to determine the part of asset or land (land use right) owned by or of the judgment debtor. The asset shall be handled as agreed by the litigants or as decided by the Court;

b) Upon expiration of the 30-day period from the date of notification, if the parties fail to reach an agreement or the agreement violates the law, is contrary to social ethics, affects the State’s interests or the legitimate rights and interests of the third party, or aims to evade the obligation to pay judgment enforcement fees, or if the Court is not required for settlement, the enforcer shall request the Court to determine the part of asset or land (land use right) owned by or of the judgment debtor in accordance with the Civil Procedure Code.

2. If the asset used for enforcement of the judgment is owned by multiple persons and the part of the asset separately owned by each owner can be determined:

a) Regarding the divisible common asset, the enforcer shall apply coercive measures to the part of asset corresponding to the asset or land (land use right) owned by or of the judgment debtor;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. In case of assets used for enforcement of a judgment over which a dispute arises, the enforcer shall notify the litigant or the person involved in the dispute of their rights to file a lawsuit at Court or request a competent authority to settle the dispute, except for the case where a legally effective judgment or decision declares the distraint, handling or recognition of the ownership of or the right to use such assets. After the notification, the enforcer shall proceed as follows:

a) In case the litigant or the person involved in the dispute files a lawsuit at Court or requests the competent authority to settle the dispute over the ownership of assets or the land use right, regulations in point d clause 1 Article 46 of this Law shall apply. The assets shall be handled according to the decision issued by the Court or the competent authority;

b) Upon expiration of the 30-day period from the date of notification, if the parties fail to file the lawsuit at Court or request the competent authority to settle the dispute, or if the dispute accepted by the Court or the competent authority is unrelated to the ownership of assets or the land use right, the enforcer shall handle the assets in accordance with regulations of this Law.

4. If there is a ground to identify that a transaction related to assets used for enforcement of the judgment is conducted in order to evade the judgment execution obligation in accordance with the law:

a) The enforcer shall notify the judgment creditor to request the Court to declare such transaction invalid or the competent authority to annul documents related to such transaction;

b) Upon expiration of the 15-day period from the date of receipt of the notification, if the judgment creditor does not make any request, the enforcer shall request the Court to declare the transaction invalid or the competent authority to annul documents related to the transaction.

5. In case a transaction related to assets used for enforcement of the judgment is conducted but the ownership or the use right has not been completely transferred, and it is necessary to declare the transaction invalid or request the competent authority to annul documents related to such transaction, regulations of clause 4 of this Article shall apply.

6. The enforcer that requests the Court to settle the dispute in accordance with this Article is exempt from court fees and charges; if the enforcer is unable to collect documents and evidence as prescribed by the Civil Procedure Code, the enforcer has the right to request the Court to do so.

Article 40. Preservation and use of assets for enforcement of judgments

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) In case where the assets are currently managed, used, or preserved by judgment debtors or other persons, they are assigned to preserve these assets, unless otherwise provided for by law;

b) Assets that are gold, silver, antiques, precious metals, gemstones, cash, cash in foreign currency, or valuable papers shall be preserved at the State Treasury;

c) Assets shall be transferred to individuals and organization eligible for preservation;

d) Assets are preserved by civil judgment-enforcing agencies.

dd) In case where assets cannot be transferred and preserved as prescribed in points a, c, and d of this clause, People's Committees of communes where the assets exist shall preserve them until the assets are handled.

2. Where the assets used for enforcement of judgments are rights to use land currently being exploited or used, persons assigned to preserve assets shall be permitted to continue using such assets.

3. In case where profits arise from the use of the assets, after deduction of related expenses, persons assigned to preserve assets shall transfer them to civil judgment-enforcing agencies for enforcement of judgments.

4. During the period of preservation and use of assets for enforcement of judgments, persons assigned to preserve assets must not transfer the ownership or land use rights, exchange, transfer, lease, sublease, gift, mortgage, contribute the assets as capital, or conduct other transactions related to the assets; damage, substitute, lose, destroy the assets, or change the structure, the current state of, or repurpose the assets.

In case persons assigned to preserve assets commit any violations against asset preservation regulations, they shall, depending on the nature and seriousness of their violations, be handled in accordance with the law. If they cause damage, they shall pay compensations as prescribed by law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. An organization’s right/obligation to execute a judgment shall be transferred as follows:

a) In case of consolidation, the new organization shall continue exercising the right or performing the obligation to execute the judgment, unless otherwise provided for by law;

b) In case of merger, the organization established after merger shall continue exercising the right or performing the obligation to execute the judgment, unless otherwise provided for by law;

c) In case of division or separation, an agency issuing a division and separation decision shall clearly identify an individual/organization that continues exercising the right or performing the obligation to execute the judgment under this decision, unless otherwise provided for by law.

If the division or separation decision does not contain regulations on the obligation of the new organization, the new organization shall, after the division or separation, take joint responsibility for performing the judgment execution obligation of the divided or separated organization;

d) In case of dissolution, an agency having the jurisdiction to issue a dissolution decision shall notify the civil judgment-enforcing agency before issuing the dissolution decision. In case the judgment execution right or obligation of a dissolved organization is transferred to another organization, the latter shall continue exercising the right or performing the obligation to execute the judgment.

In case an enterprise is dissolved due to the revocation of its business registration certificate as prescribed in the Law on Enterprises, the judgment execution obligation shall be transferred under the Law on Enterprises.

The civil judgment-enforcing agency, the judgment creditor, the person having related interests and obligations may request the competent authority to reconsider the dissolution decision in accordance with law.

In case assets used for enforcement of the judgment no longer exist due to illegal execution of the dissolution decision, the dissolution decision-issuing agency shall fulfill the obligation of the dissolved organization corresponding to these assets;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

e) In case an enterprise, which has not yet exercised its right or performed its obligation to execute the judgment, is converted, the new enterprise shall continue exercising the right or performing the obligation to execute the judgment.

g) In case of re-arrangement, the new organization, after re-arrangement shall continue exercising the right or performing the obligation to execute the judgment; in case where an organization receiving such right and obligation has not been identified, the competent authority shall identify such organization;

h) Other cases provided for in law.

2. In case the judgment creditor or the judgment debtor being an individual dies, his/her judgment execution right or obligation shall be transferred to another person under the law on inheritance and the Government’s guidelines.

If the judgment debtor dies while performing the obligation to return assets, the civil judgment-enforcing agency shall continue the enforcement in accordance with regulations of this Law.

If the judgment debtor dies before the debt is paid but his/her assets can be liquidated for enforcement of the judgment, the civil judgment-enforcing agency shall handle such assets for enforcement in accordance with regulations of this Law, except for the case where there is a court judgment or decision on the distribution of inheritance or heirs reach an agreement on the performance of the judgment debtor's obligations.

3. In case the litigant agrees with the transfer of the judgment execution right or obligation to a third party:

a) The judgment creditor that transfers their right to execute the judgment is not required to obtain the consent of the judgment debtor, unless otherwise agreed or provided for by law;

b) The judgment debtor that transfers their obligation to execute the judgment must obtain the consent of the judgment creditor;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. Within 10 days from the date of receipt of a document from the competent authority or identification of the transferee, the head of the civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to transfer the right and obligation to execute the judgment. The transferee of the right and obligation to execute the judgment shall have the litigant’s rights and obligations corresponding to the transferred right and obligation. The enforcer shall, according to the judgment enforcement decision and the decision to transfer the right and obligation to execute the judgment, organize the enforcement in accordance with regulations of this Law.

Article 42. Conditions for reduction or cancellation of debts payable to state budget

1. A judgment debtor may be considered for cancellation of their debt payable to state budget if the following conditions are met:

a) He/she has no assets for enforcement of the judgment or has assets which are not allowed to be used for enforcement of the judgment as prescribed by law, or has no income or has low income which can only ensure the minimum living standards for him/her and persons whom he/she shall nurture;

b) Upon expiration of the 05-year period from the date of issuance of a judgment enforcement decision in case the remaining debt is valued at under 5.000.000 VND; or 10 years after the issuance of a judgment enforcement decision if the remaining debt is valued at between 5.000.000 VND and under 10.000.000 VND expires.

2. The judgment debtor specified at point a, clause 1 of this Article shall be considered for reduction of a part of their debt if one of the following conditions is met:

a) Upon expiration of the 5-year period from the date of issuance of a judgment enforcement decision in case the remaining debt is valued at between 5.000.000 VND and 100.000.000 VND expires, each reduction must not exceed a quarter of the remaining debt;

b) Upon expiration of the 10-year period from the date of issuance of a judgment enforcement decision in case the remaining debt is valued at over 100.000.000 VND expires, each reduction must not exceed one fifth of the remaining debt and 50.000.000 VND.

3. Judgment debtors that have proactively paid part of their debts, but suffer prolonged extremely difficult economic conditions due to natural disaster, fire, accident, or illness which render them unable to pay their remaining debts, or have accomplished feats, may be considered for cancellation of their remaining debts.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Each judgment debtor specified at clauses 1 and 2 of this Article will be considered for reduction or cancellation of their debt for each judgment or decision only once a year.

5. The initial judgment enforcement decision serves as a ground for determination of the time limit for reduction or cancellation of the debt.

6. The Ministry of Justice of Vietnam shall take charge and cooperate with the Chief Justice of Supreme People’s Court of Vietnam and the Chief Prosecutor of Supreme People’s Procuracy of Vietnam in providing guidance on this Article.

Article 43. Applications for consideration of reduction or cancellation of debts payable to state budget

The civil judgment-enforcing agency shall make an application for consideration of reduction or cancellation of a debt and send it to the competent Court. The application shall include the following documents:

1. A written request for consideration of reduction or cancellation of the debt, made by the head of the civil judgment-enforcing agency;

2. Copy of a judgment or decision issued by the Court or a judgment enforcement decision issued by the civil judgment-enforcing agency;

3. Copy of a written record of verification of capability of executing the judgment of the judgment debtor, made within 03 months before applying for consideration of cancellation or reduction;

4. Another document proving the eligibility of the judgment debtor for consideration of reduction or cancellation of their debt, if any;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 44. Jurisdiction and procedures for consideration of reduction or cancellation of debts payable to state budget

1. People’s Courts of regions and Military Courts of zones where civil judgment-enforcing agencies organizing the judgment enforcement are headquartered have the jurisdiction to consider reduction or cancellation of debts payable to state budget.

2. Within 02 working days from the date of receipt of applications for consideration of reduction or cancellation of the debts, Courts shall accept and process these applications.

Within 20 days from the date of acceptance of such applications, Judges assigned to settle cases shall hold hearings to consider reduction or cancellation of the debts.

3. A hearing for consideration of reduction or cancellation of the debt shall be chaired by a Judge and attended by representatives of the Procuracy at the same level and the civil judgment-enforcing agency that has applied for consideration of cancellation or reduction.

When considering reduction or cancellation of the debt, the representative of the civil judgment-enforcing agency shall briefly present the application for consideration of cancellation or reduction, while the representative of the procuracy shall give opinions on the application. After considering the application and the opinions of the representatives of the Procuracy and the civil judgment-enforcing agency, the Judge shall issue a decision on acceptance, partial acceptance or non-acceptance of the application.

4. Within 05 working days from the date of issuance of a decision on reduction or cancellation of the debt, the Court shall send it to the person eligible for consideration of reduction or cancellation of the debt, the procuracy at the same level, the superior procuracy, the civil judgment-enforcing agency that has applied for consideration of reduction or cancellation of the debt, the prison or detention camp where the person eligible for consideration of reduction or cancellation of the debt payable to state budget is serving their imprisonment sentence.

Article 45. Protests against Courts’ decisions on reduction or cancellation of debts payable to state budget

1. A Court decision on reduction or cancellation of a debt may be protested by a Procuracy according to appellate procedures. The time limit for a Procuracy at the same level or a superior procuracy to lodge a protest is 7 or 15 days, respectively, from the date of receipt of the decision.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Within 07 days from the date of receipt of a Procuracy’s protest decision, the Court that has issued the decision on reduction or cancellation of the debt shall transfer a written protest and its dossier to its superior Court.

3. Within 15 days from the date of receipt of the protest dossier, the superior Court shall hold a hearing to consider the protest.

A hearing for consideration of a protest shall be chaired by a Judge and attended by a representative of the Procuracy at the same level. When necessary, the Court may request the representative of the civil judgment-enforcing agency that has made the application for consideration of cancellation or reduction to participate in the hearing. The Judge chairing the hearing shall issue a protest settlement decision.

Court decisions on settlement of protests against reduction or cancellation of debts shall be executed.

4. In case the Procuracy revokes its protest decision before or during the hearing for consideration of the protest, the Court shall issue a decision to terminate consideration of the protest. The protested decision on reduction or cancellation of the debt shall be executed.

5. After the decision on reduction or cancellation of the debt takes effect, if it is detected that the judgment debtor hides or disperses assets for application for reduction or cancellation of the debt or shirks the judgment enforcement, the civil judgment-enforcing agency and the procuracy that has applied for consideration of cancellation or reduction shall request a chief judge of court or chief procurator of procuracy chairman under the criminal procedure and civil procedure laws to consider lodging a protest against the decision on reduction or cancellation of the debt according to re-opening procedures.

Article 46. Judgment enforcement postponement

1. The head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to partially or fully postpone the judgment enforcement within 05 working days from the date on which there is one of the following grounds:

a) The obligation is closely associated with the personal identity of the judgment debtor, or the obligation is non-transferable as prescribed by law and the judgment debtor is seriously ill as certified by at least a medical facility at the basic level or higher in accordance with the law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) The litigant agrees in writing to postpone the judgment enforcement or the judgment creditor submits a written request for the postponement of enforcement of the judgment, except for the case where such request affects the State interests or the legitimate rights and interests of the third party; during the postponement period, the judgment debtor shall not be liable for late payment interests, unless otherwise agreed by the litigant;

d) Receiving the Court's notification of acceptance for response to the request for determination, division, or settlement of the dispute over the ownership of assets or land use rights, except for the case where a legally effective judgment or decision declares that such assets are distrained, handled, or the ownership of assets or the land use rights are recognized, or where the judgment debtor has other assets or income for enforcement of the judgment;

dd) Receiving the Court's notification of acceptance for response to the request for the cancellation of auction result, the request for cancellation of contract for purchase and sale of assets auctioned, or the settlement of dispute over such contract;

e) Receiving the decision to apply provisional urgent measures, preventive measures or coercive measures against the assets used for enforcement of the judgment from by a presiding authority to serve investigation, prosecution, or adjudication, unless otherwise provided by law;

g) The judgment is enforced during the period in which the competent authority amends or explains the judgment/decision or the judicial assistance in civil matters is provided in accordance with the law;

h) The judgment is enforced during the period in which the competent authority responds to a recommendation from the civil judgment-enforcing agency to review the judgment/decision according to cassation or reopening procedures;

i) The asset recipient or the person to whom custody is granted has been properly informed twice of the receipt of assets and the to-be-nurtured person but fails to receive such assets and person;

k) The transfer of rights and obligations to enforcement of the judgment according to the law has not been made due to emergency situation, force majeure circumstances or objective obstacles;

l) Receiving notification of acceptance from a Court or a competent authority for response to a request for review of a decision to recognize successful mediation, or annul a verdict or decision as prescribed in clause 2, 3, 4, or 5, Article 2 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case the judgment-enforcing agency receives such request less than 24 hours before the time of coercive enforcement indicated in the decision on coercive judgment enforcement, the head of civil judgment-enforcing agency is entitled to decide the judgment enforcement postponement if necessary.

Regarding a judgment which has been partially or completely enforced, the civil judgment-enforcing agency must not issue a decision to postpone the enforcement of the completed part or the entire judgment and shall promptly notify in writing the applicant for postponement of enforcement of the judgment.

The person having the jurisdiction to lodge protest against the court judgment or decision according to cassation or re­opening procedures may only request enforcement postponement once for consideration of their protest in order to avoid irremediable consequences.

The maximum duration of judgment enforcement postponement at the request of the person having the jurisdiction to lodge protest against the judgment or decision is 3 months from the date of making written request for judgment enforcement postponement. During this duration, the judgment debtor is not required to bear late payment interest arising from the postponed enforcement of the judgment.

3. Within 05 working days after the ground for postponement of enforcement of the judgment specified in clause 1 of this Article no longer exists or the expiration of the duration for judgment enforcement postponement at the request of the competent person defined in clause 2 of this Article or the receipt of written response from the person having the jurisdiction to lodge protest to non-existence of grounds for protest, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to continue enforcing the judgment.

Article 47. Judgment enforcement suspension

1. The head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to suspend enforcement of a judgment within 05 working days from the date on which there is one of the following grounds:

a) Fulfillment of the obligation to assets, upon receipt of a court's notification of acceptance of a written request for application of resumption procedures or bankruptcy procedures to the judgment debtor, except for the case where according to a judgment or decision, the enterprise or cooperative is compelled to pay compensation for loss of life, health, or honor, give severance pays, or pay salaries to its employees; decision to distrain assets owned by the enterprise or cooperative for transfer to the state fund; case where according to a judgment or decision, the enterprise or cooperative is compelled to perform its obligations secured by assets owned by the third party, or other cases as prescribed by law

b) Receipt of a court’s request for suspension of the enforcement of the decision to recognize and give permission for enforcement of a foreign arbitrator’s verdict in accordance with the Civil Procedure Code. Regarding a judgment which has been completely enforced, the head of civil judgment-enforcing agency must not issue a decision to suspend the enforcement of the judgment and shall notify in writing the court.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Regarding a judgment/decision which has been partially or completely enforced, the head of the civil judgment-enforcing agency shall promptly notify in writing the protester or the President of National Competition Commission. During the duration of judgment enforcement suspension, the judgment debtor is not required to bear late payment interest arising from the suspended enforcement of the judgment.

3. The head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to continue enforcing the judgment within 05 working days after the receipt of any of the following documents:

a) Decision to withdraw the protest issued by the person having the jurisdiction to lodge protest;

b) Court’s cassation or re-opening decision to affirm or partially or wholly amend the protested judgment or decision;

c) Court’s notification of suspension of procedures for bankruptcy or resumption of business operations conducted by the enterprise or cooperative going into bankruptcy in case the debt related to the suspended judgment is not settled

dd) Court’s decision on refusal to open bankruptcy procedures.

Article 48. Judgment enforcement termination

The head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to partially or fully terminate the judgment enforcement within 05 working days from the date on which there is one of the following grounds:

1. The judgment creditor that is an individual dies but his/her rights and interests under the judgment or decision must not be transferred to his/her heirs as prescribed by law or he/she dies without any heir; the judgment creditor that an organization has been dissolved or has ceased its operations, and its rights and interests are not transferable to any other organization or individual as prescribed by law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The person to whom custody is granted under the judgment or decision dies or has come of age or the authorized guardian is changed according to a court judgment or decision;

4. The litigant reaches an agreement or the judgment creditor makes a request to partially or wholly terminate the judgment enforcement decision, unless the judgment enforcement termination affects the State interests, legitimate rights and interests of the third party or aims to evade paying judgment enforcement fees.

After the judgment enforcement termination decision is issued, the litigant is not entitled to make the request for resumption of enforcement of the terminated part of the judgment;

5. There is a decision on reduction/cancellation of their debt;

6. Receiving a judgment or decision to annuls part or whole of the judgment or decision that is being enforced; in case of handover of assets as prescribed in clause 4, Article 86 of this Law, the judgment enforcement shall be terminated after the handover of assets to the purchaser of assets auctioned;

7. Receiving Court’s notification of termination of procedures for resumption of business operations conducted by the judgment debtor in accordance with regulations of the Law on Resumption and Bankruptcy in case the debt related to the suspended judgment is settled;

8. Receiving the court decision to open bankruptcy procedures for the judgment debtor.

Article 49. Judgment enforcement entrustment 

1. The civil judgment-enforcing agency shall entrust the judgment enforcement in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case of fulfillment of asset-related obligations, entrusting the fulfillment of such obligations to the civil judgment-enforcing agency in the province/commune where the judgment debtor has their assets; if the province/commune where assets exist cannot be identified, the obligation fulfillment shall be entrusted to the civil judgment-enforcing agency in the province/commune where the judgment debtor works, resides or is headquartered.

In case of fulfillment of a joint obligation, if the judgment debtor has assets, works, lives or is headquartered in different provinces /communes, entrusting the whole judgment enforcement obligation to the civil judgment-enforcing agency in one of the provinces/communes where the judgment debtor has sufficient capability of executing the judgment, except for the case specified in clause 1 Article 50 of this Law;

b) Entrusting the judgment enforcement in relation to collateral on the basis of the judgment or decision to the civil judgment-enforcing agency in the province/commune where the asset exits.

Entrusting the judgment enforcement to the civil judgment-enforcing agency in the province/commune where the exhibits and assets which are declared under a judgment or decision to be confiscated by the State or destroyed exist.

2. Within 05 working days from the date of identification of grounds for entrustment, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a judgment enforcement entrustment decision. In case of execution of a decision on application of provisional urgent measures, the entrustment decision shall be issued within 24 hours since there are grounds for entrustment. In case the entrustment is deemed necessary after the entrustment decision is issued, a revocation decision shall be issued to revoke a part or the whole of the execution decision.

Within 05 working days from the date of receipt of the entrustment decision and enclosed documents, the entrusted civil judgment-enforcing agency shall issue an enforcement decision. In case of enforcement of the decision on application of provisional emergency measures, the enforcement decision shall be issued immediately.

Decision on application of security measures, exit suspension decision and other judgment enforcement decisions related to the entrusted amounts from the entrusting agency shall remain in effect until they are replaced by decisions issued by the entrusted civil judgment-enforcing agency.

3. In case where the judgment debtor has assets in multiple places, the judgment enforcement entrustment shall comply with the Government’s regulations.

Article 50. Asset handling entrustment 

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. In case of fulfillment of a joint obligation, the civil judgment-enforcing agency may entrust the handling of assets to the civil judgment-enforcing agency in another province/city where the assets exist when there is one of the following grounds:

a) The assets existing in the province/city where the civil judgment-enforcing agency is headquartered are insufficient for enforcement of the judgment;

b) The assets existing in the province/city where the civil judgment-enforcing agency is headquartered have been accepted to be handled by the Court or a competent authority for response to the request for determination, division, or settlement of the dispute over the asset ownership or land use rights, except for the case where such assets have been declared to be those distrained or handled, or the asset ownership or land use rights are recognized under a legally effective judgment or decision, and the judgment debtor has no other assets existing in the province/city for enforcement of the judgment.

3. The head of the civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to entrust the handling of assets when there are grounds as prescribed in clauses 1 and 2 of this Article. Within 05 working days from the date of receipt of the entrustment decision, the head of the entrusted civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to handle the assets as entrusted. On the basis of the judgment enforcement decision, judgment enforcement organization results provided by the entrusting civil judgment-enforcing agency and the decision to handle the entrusted assets, the enforcer shall continue to follow procedures for handling the assets in accordance with this Law.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 51. Securing funding from state budget for execution of judgments

In case an agency and organization that is granted funding by the state budget for their operations and obliged to execute a judgment has implemented all necessary financial measures but remains unable to execute the judgment, the debt will be covered by state budget. The material liability of the damage-causing parties shall be taken on in accordance with the law.

The Government shall elaborate jurisdiction, conditions, entities and procedures for securing funding for execution of judgments.

Article 52. Revocation, amendments and annulment of decisions to enforce judgments

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The judgment enforcement decision has been issued ultra vires;

b) The judgment enforcement decision contains errors which may change the contents of the case;

c) The ground for issuance of the judgment enforcement decision no longer exists;

d) The judgment enforcement is entrusted in accordance with this Law;

dd) Other cases as prescribed by law.

2. Persons having the jurisdiction to issue judgment enforcement decisions and persons having the jurisdiction to resolve complaints may issue decisions on amendments to or request amendments to judgment enforcement decisions in case such judgment enforcement decisions contain errors that do not change the contents of judgment enforcement cases.

3. Written explanation of or amendments to the judgment or decision issued by the judgment/decision issuer shall serve as the basis for the civil judgment-enforcing agency to issue an enforcement decision, or to revoke or amend the previously issued enforcement decision, or to continue the judgment enforcement.

4. Persons having the jurisdiction to issue judgment enforcement decisions and persons having the jurisdiction to resolve complaints may issue decisions on annulment or request annulment of judgment enforcement decisions issued by heads of inferior civil judgment-enforcing agencies or enforcers under their direct management in the following cases:

a) They detect that the cases specified in clauses 1 and 2 of this Article are not remedied by heads of inferior civil judgment-enforcing agencies or enforcers under their direct management after they receive requests;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. Decisions on revocation, amendment or annulment of judgment enforcement decisions shall clearly state grounds for and contents and legal consequences of such revocation, amendment or annulment.

Article 53. Judgment enforcement fees and expenses 

1. The litigant that requests enforcement of a judgment must pay judgment enforcement fees according to the law.

Judgment enforcement fees shall not be charged on the amounts and assets that were used for enforcement of the judgment before the judgment enforcement decision is issued or during the voluntary execution period specified in clause 1 Article 36 of this Law.

If the civil judgment-enforcing agency has issued the judgment enforcement decision at the request of the judgment debtor before July 01, 2026, the judgment debtor shall not be liable for judgment enforcement fees for the amounts payable for enforcement of the judgment as prescribed by this Law.

2. Judgment enforcement expenses are those incurred during the judgment enforcement organization, including expenses for coercive judgment enforcement and other expenses. Judgment enforcement expenses shall be borne by the judgment debtor, except for cases where such expenses shall be covered by state budget or borne by the judgment creditor, or other agencies, organizations, or individuals as prescribed by law.

3. The judgment debtor shall bear expenses for coercive judgment enforcement as follows:

a) Expenses for notification of coercive judgment enforcement;

b) Expenses for purchasing materials and fuel; hiring vehicles, protective equipment, medical equipment, fire prevention equipment, and other necessary equipment to serve coercive judgment enforcement;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Expenses for leasing, safekeeping and preserving assets; expenses for loading, unloading and transporting assets; expenses for employment of workers and expenses for construction of partitions or demolition; expenses for conducting verification, hiring measurement services, and placing landmarks for coercive judgment enforcement;

dd) Expenses for temporary seizure of assets and documents;

e) Allowance for persons directly participating in and protecting coercive judgment enforcement;

g) Other expenses according to the Government’s regulations.

4. The judgment creditor shall bear expenses for coercive judgment enforcement as follows:

a) Expenses for revaluation of assets and re-determination of prices of assets at the request of the judgment creditor or in case of judgment enforcement postponement as prescribed in point c, clause 1, Article 46 of this Law which results in the expiration of the valuation certificate;

b) Part or the whole of expense for construction of partitions or demolition in case the judgment creditor shall bear this expense according to the judgment or decision;

c) Other expenses according to the Government’s regulations.

5. The state budget shall cover judgment enforcement expense in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Verification of capability of executing the judgment before the coercive judgment enforcement decision is issued;

d) The litigant is eligible for exemption from, or reduction of expense for coercive judgment enforcement as per law;

d) Other cases in accordance with the Government’s regulations.

6. Expenses for coercive judgment enforcement shall be paid according to actually and reasonably paid amounts which are approved by the head of civil judgment-enforcing agency as proposed by the enforcer.

Heads of civil judgment-enforcing agencies organizing enforcement of judgments shall consider exemption from or reduction of expenses for coercive judgment enforcement.

7. Expenses for coercive judgment enforcement shall be paid by the litigants or deducted from collected debts or proceeds from the sale of assets. After handling assets or collecting money, enforcers shall follow procedures for promptly refunding advances paid.

8. The state budget shall grant funding for the advance payment of expenses for coercive judgment enforcement.

9. The Government shall elaborate clauses 2, 3, 4, 5, 6, 7 and 8 of this Article.

 Article 54. Judgment debt payment

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Alimony; salary, wage, severance pays, redundancy pays, compensation for loss of capacity for work; compensation for loss of lives, damage to health or mental harm;

b) Court fees and charges;

c) Fines; other arrears payable to state budget

d) Social insurance, unemployment insurance, health insurance;

dd) Other judgment debts according to the judgment/decision.

2. In case there are multiple judgment creditors under a judgment, judgment debts shall be paid as follows:

a) The payment shall be made in the order specified in clause 1 of this Article. In case there are multiple judgment creditors at the same priority level, the payment shall be made in proportion to sums of debts receivable by these creditors;

b) Judgment debts collected under a coercive judgment enforcement decision shall be paid to judgment creditors according to one or multiple judgments or decisions for which requests have been made by the litigants and which are being enforced by the civil judgment-enforcing agency up to the time of the issuance of the coercive judgment enforcement decision.

The remaining debts shall be paid to judgment creditors according to other judgment enforcement decisions by the time of payment;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. In case the asset being pledged as collateral is realized and a pledgee/mortgagee is a judgment creditor, or in case the asset sold is distrained under a judgment or decision for the fulfillment of a specific obligation indicated in the judgment/decision, the amount collected from the handling of the asset shall be paid first of all to the pledgee, the mortgagee or the obligor after deduction of judgment enforcement expenses, amounts retained as prescribed in clause 2, Article 89 of this Law, and registration fees and charges, personal income tax, and corporate income tax directly related to transfer of the asset and court fees.

In case the asset being pledged as collateral is realized and a pledgee/mortgagee is not a judgment creditor, such pledge/mortgagee shall be paid before other debts specified in this Article are paid.

4. The order of payment in case of the handling of collateral for bad debts shall comply with regulations of the Law on Credit Institutions after deduction of the retained amounts prescribed in clause 2, Article 89 of this Law.

5. The order of payment of bankruptcy judgment debts shall comply with the Law on Resumption and Bankruptcy.

6. Within 10 days from the date of collection of the judgment debt or asset or after the asset is transferred to the purchaser or the recipient for deduction from the judgment debt, the enforcer shall pay such judgment debt according to regulations in this Article, except for the case where the payment deadline is required to be extended as prescribed by the Government.

The payment shall be made via bank transfer; in case where a bank transfer is not permitted, the payment shall be made in person or through other forms as prescribed by the Government. In case the litigant fails to receive their debt, such debt shall be settled according to Article 59 of this Law.

7. The Government shall elaborate clauses 2 and 3 of this Article.

Article 55. Judgment enforcement conclusion

The judgment enforcement automatically concludes in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. There is a judgment enforcement termination decision;

3. Other cases in accordance with the Government’s regulations.

Section 2. JUDGMENT ENFORCEMENT PROCEDURES IN SOME SPECIFIC CASES

Article 56. Preservation, receipt and dispatch of exhibits and assets temporarily seized

1. Exhibits and assets that are temporarily seized under a criminal judgment or decision shall be preserved according to regulations of the Criminal Procedure Code.

2. The Government shall prescribe procedures, tasks and powers of agencies responsible for preservation of exhibits and assets, civil judgment-enforcing agencies, financial agencies, commune-level People's Committees, and other agencies related to the receipt and dispatch of temporarily seized exhibits and assets to be confiscated by the State, destroyed, returned to the litigants or handled for enforcement of judgments.

Article 57. Settlement of expenses for handling exhibits and assets confiscated by the State

1. Regarding temporarily seized exhibits and assets which are declared under a judgment or decision to be confiscated by the State, the civil judgment-enforcing agency shall, within 10 days from the date of issuance of the judgment enforcement decision, notify in writing and transfer these exhibits and assets to a financial agency of province or the People's Committee of commune where these exhibits and assets exist in accordance with the law.

Expenses for preserving and handling temporarily seized exhibits and assets declared to be confiscated by the State shall be paid by the agency handling these exhibits and assets in accordance with law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The handover and receipt of temporarily seized exhibits and assets between the civil judgment-enforcing agency and the financial agency or the commune-level People's Committee shall comply with regulations of clause 2, Article 56 of this Law.

4. Regarding amounts temporarily collected before a court judgment or decision is issued, if such judgment or decision is not received within 05 years from the date of collection, the civil judgment-enforcing agency shall follow procedures for expropriation. After expropriation, if the court judgment or decision is received, such amounts shall be reversed by the civil judgment-enforcing agency in accordance with the law to enforce the judgment/decision.

Regarding amounts temporarily collected, if the civil judgment-enforcing agency has still not received the judgment or decision by July 1, 2026, such amounts shall be settled according to this clause.

Article 58. Destruction of exhibits and assets

1. The civil judgment-enforcing agency shall destroy exhibits and assets in one of the following cases:

a) The judgment/decision declares that these exhibits and assets are destroyed;

b) Asset destruction cases as prescribed by this Law.

2. Within 01 month from the date of issuance of the judgment enforcement decision in the case specified in point a clause 1 of this Article or from the date of issuance of the destruction decision in the case specified in point b clause 1 of this Article, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to establish a council for destruction of exhibits and assets, unless immediate destruction is required by law.

The Council for destruction of exhibits and assets, established by the provincial civil judgment-enforcing agency, shall consist of an enforcer who acts as the President, a representative of the commune-level People's Committee in charge of the destruction, who acts as a member, and representatives of specialized agencies participating in the Council when necessary. The commune-level People's Committee and specialized agencies shall be responsible for appointing representatives to participate in the Council.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The Council shall decide the methods of destroying exhibits and assets in accordance with relevant laws.

3. The competent People's Procuracy shall supervise compliance with the law on destruction of exhibits and assets.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 59. Return of amounts and assets to litigants

1. Within 03 working days from the date of issuance of a decision to enforce the judgment/decision which declares return of amounts and assets to the litigant or from the date on which there is any ground for return of amounts and assets, the civil judgment-enforcing agency shall notify the litigant of receipt of amounts and assets, except for the case specified in clause 5 of this Article.

Upon expiration of the 15 day-period from the date of notification, if the litigant does not receive the amounts or provide their account, the enforcer shall transfer these amounts to the State Treasury or deposit these amounts in the form of demand deposits and notify the litigant thereof.

Upon expiration of the 30 day-period from the date of notification, if the litigant does not receive the assets, the enforcer shall follow procedures for valuation of assets, determination of prices, and sale of assets as prescribed in Article 82 and Article 83 of this Law; in case where the assets are perishable goods or items and the litigant fails to receive the assets, upon expiration of the 05 working day-period from the date of notification, the enforcer shall sell the assets in accordance with point b clause 2 Article 83 of this Law, and at the same time notify the litigant. The amounts collected, after deduction of expenses for preservation and handling of the assets (if any), shall be transferred to the State Treasury or deposited in the form of demand deposits at a bank and the litigant shall be notified.

In case the beneficiary receives the amounts/assets, or provides their account, the civil judgment-enforcing agency shall return the amounts/assets to the beneficiary after deduction of expenses for preservation and handling of the assets (if any). Any deposit interest shall be aggregated with the deposit and paid to the beneficiary.

Upon expiration of the 5 year-period from the effective date of the judgment/decision or upon expiration of the 1 year-period from the date of notification, in case the amounts are collected and the beneficiary fails to receive the amounts/assets, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision on confiscation to the State and transfer the amounts to state budget.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Regarding documents related to assets or the personal identity of the litigant, upon expiration of the 3 month-period from date of notification, if the litigant fails to receive these documents, the enforcer shall follow procedures for transferring these documents to their issuer according to regulations of the law.

3. If the returned assets are Vietnamese or foreign banknotes that have been damaged to the extent that they are no longer usable due to faults of presiding authorities during preservation and the litigant refuses to receive them, the civil judgment-enforcing agency shall request the State Bank of Vietnam to replace them before returning them to the litigant.

If the assets are Vietnamese or foreign banknotes that have been damaged to the extent that they are no longer usable but the damage is not attributable to presiding authorities and the litigant refuses to receive them, the civil judgment-enforcing agency shall request the State Bank of Vietnam to handle them according to regulations of law.

4. The return of advanced court fees under a judgment or decision and the return of amounts/assets to the agency/organization/individual during the enforcement of the civil judgment shall comply with regulations in this Article.

5. In case a party has their amounts and assets returned and is concurrently obliged to pay their debt but fails to execute the judgment, the enforcer shall handle these amounts and assets for enforcement of the judgment.

6. The Government shall elaborate this Article.

Article 60. Handling assets declared under judgments or decisions to be distrained to secure enforcement of judgments

1. Regarding assets declared under a judgment or decision to be distrained to secure enforcement of a judgment, the enforcer shall follow procedures for valuation, determination of prices and sale of assets in accordance with Articles 82 and 83 of this Law.

2. In case where the current state of the assets differs from that indicated in the distraint record, distraint order, distraint decision, or certificate of registration of the ownership of assets or land use right certificate, the civil judgment-enforcing agency shall request the asset-distraining agency to provide an explanation before applying regulations in clause 1 of this Article. On the basis of the explanation result, the civil judgment-enforcing agency shall handle the assets as follows:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) In case where there are grounds to confirm that the assets have changed after the time of distraint, or if no written response is received as specified in point a of this clause by the prescribed deadline, the civil judgment-enforcing agency shall handle the assets based on their actual state in accordance with this Law and relevant laws.

Article 61. Judgment enforcement against persons serving imprisonment sentences

1. Prisons and detention camps where judgment debtors or judgment creditors are serving imprisonment sentences shall cooperate in notifying enforcement of judgments, providing information, transferring documents, amounts or assets, and collecting or returning amounts or assets related to inmates who are judgment debtors or judgment creditors.

2. The Government shall elaborate this Article.

Article 62. Execution of decisions on application of provisional urgent measures

1. Within 24 hours from the time of receipt of a judgment enforcement decision as assigned, the enforcer shall notify the decision to the litigant, the agency/organization/individual related to execution of a decision on application of provisional urgent measures.

2. The enforcer shall immediately issue a coercive execution decision and promptly organize the execution in one of the following cases:

a) Applying coercive measures specified in clause 6 Article 71 of this Law to execute the decision to ban the litigant from performing or force the litigant to perform certain acts; handing over a minor, a person who is legally incapacitated, or a person with limited cognition and behavior control to an authorized guardian or caretaker; requesting preservation, storage or sale of assets owned by a disputing party or multiple disputing parties; giving permission to harvest or sell crops or other products and goods;

b) Applying coercive measures specified in clauses 1, 2 and 4, Article 71 of this Law to execute the decision to compel advance payment of partial child support; compel advance payment of partial compensation for loss of life or damage to health; or compel an employer to pay wages, health insurance/social insurance/ unemployment insurance premiums, treatment costs for occupational accidents or occupational diseases or compensations, allowances for occupational accidents or occupational diseases to their employees in advance; making a temporary request for payment by the parties;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Executing the decision to arrest aircraft and seagoing ships according to the law on arrest of aircraft and seagoing ships;

dd) Other cases as prescribed by law.

3. In case the judgment debtor resides or has assets in another area, the head of civil judgment-enforcing agency shall, depending on a case-by-case basis, issue a decision to entrust a civil judgment-enforcing agency in the area where the judgment debtor resides or his/her assets exist to organize the execution of decision on application of provisional urgent measures.

4. The civil judgment-enforcing agency shall send a judgment enforcement document or decision to the agency has issued the decision on application of provisional urgent measures (the decision issuer), in case where the enforcement is not possible, the reasons therefor must be clearly stated.

5. When receiving a decision on change of or additional execution of the decision on application of provisional urgent measures, the head of civil judgment-enforcing agency shall promptly issue a judgment enforcement decision, and at the same time revoke the decision to execute the changed decision on application of provisional urgent measures.

In case the changed decision on application of provisional urgent measures has been partially or completely executed, the head of civil judgment-enforcing agency shall notify the decision issuer and explain the right to request the decision issuer to settle the matter to the litigant.

6. In case the decision issuer annuls the decision on application of provisional urgent measures, upon receiving the decision, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision on termination of enforcement of the judgment.

Article 63. Execution of cassation or re-opening decisions

1. In case of a cassation or re-opening decision to affirm a legally effective judgment or decision which is being enforced, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to continue enforcement of the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case of a cassation or re-opening decision to annul the whole of judgment or decision which has been partially enforced, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to terminate enforcement of the unenforced part of judgment.

In case of a cassation or re-opening decision to annul part of the judgment or decision, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to terminate enforcement of the annulled and unenforced part of the judgment and issue a decision to continue to enforce part of the judgment that is not annulled.

3. In case of a cassation or re-opening decision to amend part or the whole of the judgment or decision, the judgment enforcement shall comply with the cassation or re-opening decision. The head of the civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to continue enforcement of the judgment and a decision to amend the previously issued judgment enforcement decision to conform to the cassation or re-opening decision.

4. In case a judgment/decision which has been partially or completely enforced is protested, the head of the civil judgment-enforcing agency shall promptly notify the person having jurisdiction to lodge the protest according to cassation or re-opening procedures, the competent Procuracy and the litigant.

Settlement of consequences for part of the judgment/decision that has been enforced but subsequently annulled shall be consistent to the cassation or re-opening decision and the new judgment/decision.

Article 64. Bankruptcy declaration decision execution

1. The bankruptcy declaration decision shall be executed in accordance with the Law on Resumption and Bankruptcy and this Law.

2. Within 05 working days from the date of receipt of the decision to terminate bankruptcy procedures from the court, the head of civil judgment-enforcing agency shall issue a decision to revoke the judgment enforcement termination decision and continue to enforce the judgment in accordance with this Law.

Article 65. Enforcement of judgments in case judgment debtors are foreigners or judgments can be enforced overseas

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. In case the judgment debtor is a Vietnamese citizen or foreigner and the judgment can be enforced overseas:

Regarding a criminal judgment/decision which declares confiscation, return or handling of exhibits and assets that exist abroad, the civil judgment-enforcing agency must cooperate with a competent authority to request the handling of assets in accordance with the law on mutual legal assistance in criminal matters;

Regarding other judgments/decisions that can be enforced overseas, the civil judgment-enforcing agency shall provide guidance for the judgment creditor on the right to request the recognition and permission for enforcement of such judgments or decisions in the foreign country.

Section 3. APPLICATION OF SECURITY MEASURES AND COERCIVE MEASURES FOR ENFORCING JUDGMENTS

Article 66. Judgment enforcement security measures

1. The judgment debtor shall be subject to one or several of the following judgment enforcement security measures to prevent the dispersal or destruction of assets and the evasion of enforcement of the judgment:

a) Freeze on their account/assets in places of their deposit;

b) Suspension of transactions and registration, transfer of the ownership, the right to use or change in the current state of assets;

c) Temporary seizure of assets and documents;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The enforcer may, at his/her own will or when requested in writing by the litigant, promptly apply judgment enforcement security measures specified in points a, b and c clause 1 of this Article.

The head of civil judgment-enforcing agency may, at his/her own will or when requested in writing by the litigant, promptly apply judgment enforcement security measures specified in point d clause 1 of this Article.

When applying judgment enforcement security measures, the enforcer or the head of civil judgment-enforcing agency is not required to notify the litigant in advance.

3. The person requesting the application of security measures shall be responsible to the law for his/her request. In case of an unreasonable request which causes damage, he/she must pay compensation.

4. After the decision to apply security measures is issued, within 10 days from the date on which there are sufficient grounds to apply coercive measures, the enforcer shall apply coercive measures in accordance with regulations of this Law.

Article 67. Freezing accounts and assets in places of their deposit

1. An account/asset in a place of their deposit shall be frozen in case the judgment debtor has account/asset to be deposited.

2. The decision to freeze the account shall clearly state the debt. The enforcer shall immediately notify the decision to the agency/organization/individual managing the account of the judgment debtor.

The agency/organization/individual managing the account shall freeze the amount, digital asset, and other assets in the account of the judgment debtor in accordance with the Government's regulations; in case where the amount or the value of assets in the account is less than the judgment debtor’s debt, or if the value of the assets cannot be determined, the entire amount, digital asset and other assets in the account shall be frozen.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. In case where it is necessary to immediately freeze the account/asset at the place of its deposit of the judgment debtor but the decision to freeze the account/asset has not yet been issued, the enforcer shall prepare a written request and submit it to the agency/organization/individual managing the account/asset owned by the judgment debtor to freeze them. Within 24 hours from the date on which the written request is prepared, the enforcer must issue a decision to freeze the account/asset. The record and the decision to freeze the account/asset in this case must be sent immediately to the competent People's Procuracy.

5. The agency/organization/individual managing the account/asset must immediately execute the enforcer’s decision/request to freeze the account/asset. In case where the agency/organization/individual fails to execute the enforcer’s decision/request, resulting in the asset dispersal by the litigant, they shall be handled in accordance with the law and must pay compensation if any damage is caused.

Article 68. Suspension of transactions, registration, transfer of the ownership, the right to use or change in the current state of assets

1. Suspension of transactions, registration, transfer of the ownership or the right to use or change in the current state of the asset owned by the judgment debtor, or an asset under the common ownership of the judgment debtor and other persons shall apply when it is necessary to prevent the litigant from transferring the ownership or the right to use, dispersing, destroying, or conducting transactions related to the asset, changing the current state of the asset or evading enforcement of the judgment.

2. Decisions on suspension of transactions, registration, transfer of the ownership, the right to use or change in the current state of asset must be immediately notified to relevant agencies/organizations/individuals.

3. The litigant and the relevant agency/organization/individual shall be responsible for providing necessary documents to prove the ownership or the right to use, and shall have the right to initiate a lawsuit or request the determination of ownership or the right to use of the asset in accordance with Article 39 of this Law

4. The judgment debtor or the person currently managing/using the asset must not register or transfer the ownership or the right to use of the asset (land), convert, assign, lease, sublease, donate, mortgage, contribute the asset as capital, or conduct other transactions related to the asset; or cause damage, substitute, lose, destroy, change the structure, or change the current state of the asset until they receive a decision from the enforcer.

In case where the judgment debtor, the agency/organization/individual fails to execute the enforcer’s decision or request, resulting in the transfer of ownership or the right to use, dispersal, destruction, transactions, or change in the current state of the asset, they shall be handled in accordance with the law and must pay compensation if any damage is caused.

Article 69. Temporary seizure of assets and documents

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Decisions to temporarily seize assets and documents shall clearly state types of assets and documents to be temporarily seized. Enforcers shall hand over these decisions to litigants or organizations and individuals currently managing and using such assets and documents.

In case of necessity to immediately seize assets and documents without decisions to temporarily seize assets and documents, enforcers shall request the handover of such assets and documents and make written records thereof.

Within 24 hours from the time written records are made, enforcers shall issue decisions to temporarily seize assets and documents. Written records of and decisions on temporary seizure of assets and documents shall be promptly submitted to People’s Procuracies at the same level.

3. Agencies, organizations and individuals currently managing and using assets and documents shall submit such assets and documents as requested by enforcers. If necessary, enforcers shall request relevant agencies, organizations and individuals to assist in temporarily seizing assets and documents.

The litigant and the relevant agency/organization/individual shall be responsible for providing necessary documents to prove the ownership or the right to use, and shall have the right to initiate a lawsuit or request a competent authority to determine the ownership or the right to use of the asset/document temporarily seized in accordance with Article 39 of this Law.

Article 70. Exit suspension

1. The judgment debtor who has not yet paid their debt under a judgment/decision may be suspended from exit, except for the following cases:

a) The judgment debtor has sufficient assets to pay their debt and gives permission for the civil judgment-enforcing agency to handle the assets for enforcement of the judgment, and at the same time authorizes another person to settle enforcement of the judgment related to the assets on their behalf;

b) The judgment execution obligation is transferred in accordance with this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

d) Other cases prescribed by law.

2. Exit suspension decision must be immediately notified to a competent immigration management authority.

3. Imposition, extension and lifting of suspension from exit shall comply with the law on entry and exit and the Government's regulations.

Article 71. Coercive measures for enforcing judgments

The judgment debtor shall be subject to one or several of the following coercive measures for enforcing a judgment:

1. Deduction of amounts on their account; collection of the amounts and processing of valuable documents;

2. Deduction of income;

3. Utilization of assets;

4. Distraint and handling of assets, including assets held by the third party;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

6. Forced performance or non-performance of certain tasks.

Article 72. Application of coercive measures for enforcing judgments

1. Upon the expiration of the time limit specified in clause 1, Article 36 of this Law, if the judgment debtor that has capability of executing a judgment does not voluntarily execute the judgment, they shall be subject to coercive measures.

In case where it is necessary to prevent the judgment debtor from dispersing or destroying assets or committing other acts to evade executing the judgment, the head of the civil judgment-enforcing agency or the enforcer is entitled to immediately apply security measures or coercive measures in accordance with this Law.

2. Grounds for issuance of a coercive judgment enforcement decision:

a) Judgment/decision;

b) Judgment enforcement decision;

c) The judgment debtor has capability of executing the judgment but does not voluntarily execute the judgment.

3. The application of coercive measures for enforcing the judgment must correspond to the judgment debtor’s debt and judgment enforcement expenses as prescribed by law, except for the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) The assets have been declared to be distrained by a judgment or decision to secure enforcement of the judgment;

c) Collateral has been declared to be handled by a judgment or decision to enforce the judgment;

d) The judgment debtor voluntarily requests the distraint of specific assets among various assets, provided that such request does not obstruct enforcement of the judgment and these assets are sufficient to enforce the judgment and cover related expenses;

dd) Other cases prescribed by law.

4. The enforcer shall organize coercive enforcement of the judgment when the coercive judgment enforcement decision or a judgment/decision that has declared the distraint of assets is issued.

5. The judgment enforcement must not be organized from 10:00 PM and 06:00 AM of the following day, on days off and holidays as prescribed by law, and in other special cases as stipulated by the Government.

6. In case where the coercive judgment enforcement requires the mobilization of forces:

a) The enforcer shall make a coercive judgment enforcement plan.
The plan must include name of the person subject to coercive measures; coercive measures to be applied; the time and location of the coercive judgment enforcement; coercive judgment enforcement scheme; requirements to be satisfied by forces participating in protection of the coercive judgment enforcement; estimated expenses, and other contents as prescribed by law;

b) The civil judgment-enforcing agency shall request a competent police authority to make a plan to protect the coercive judgment enforcement.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The police authority shall allocate necessary forces and means to maintain security, protect scenes, promptly prevent and handle acts of dispersing assets, obstructing or opposing the judgment enforcement, temporarily seize opposers, and institute criminal cases when there is any sign of crime;

c) The head of the civil judgment-enforcing agency shall approve the coercive judgment enforcement plan and send it immediately to the People’s Procuracy, the People’s Committee of the commune where the coercive judgment enforcement is organized, the police authority, and other agencies, organizations, and individuals related to in the coercive judgment enforcement.

Relevant agencies, organizations and individuals shall implement the plan and comply with the request granted by the civil judgment-enforcing agency or the enforcer.

7. Enforcers shall estimate expenses for coercive enforcement and notify them to litigants at least 02 working days before the planned date of coercive enforcement, except for the case of immediate coercive judgment enforcement.

Article 73. Deduction of amounts from accounts

1. The enforcer shall issue a decision to deduct an amount from the judgment debtor’s account, except for the case where such deduction is not permitted as prescribed by law. The deducted amount shall not exceed the debt and the coercive judgment enforcement expense.

2. After receiving the decision to deduct an amount from the judgment debtor’s account, the agency or organization currently managing the account shall make deduction for transfer of the amount into the account of the civil judgment-enforcing agency or to the judgment creditor according to the deduction decision.

Article 74. Collection of amounts currently held by judgment debtors

1. In case a judgment debtor has income from their business activities, the enforcer shall issue a decision on collection of revenues from their business activities for enforcement of the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. When detecting that a judgment debtor is holding an amount, the enforcer shall issue a decision on collection of the amount for enforcement of the judgment, except where there is a ground to confirm that the amount does not belong to the judgment debtor or in other cases as prescribed by law.

3. When detecting that a thirty party is holding the judgment debtor’s amount, the enforcer shall request the third party to transfer the amount to the civil judgment-enforcing agency, unless otherwise provided for by law. The third party holding the judgment debtor’s amount is obligated to transfer the amount to the civil judgment-enforcing agency for enforcement of the judgment. If they fail to do so, the enforcer shall issue a decision to collect the amount for enforcement.

In case where the third party holding the judgment debtor’s amount fails to comply with the enforcer’s request and transfers the amount to the judgment debtor or another person, resulting in the inability to pay the judgment creditor, the third party shall pay compensation for damage as prescribed by law.

4. In case where another organization or individual is found to be obligated to pay the judgment debtor under a legally effective judgment or decision:

a) The enforcer shall request the organization/individual to transfer the amount to enforce the judgment. If they fail to do so, the enforcer shall apply necessary coercive measures against such organization or individual to collect the amount. Expenses for application of coercive measures shall be borne by the organization/individual;

b) In case where the judgment or decision is being enforced by another civil judgment-enforcing agency, the enforcer shall notify and request the agency to organize enforcement of the judgment as prescribed by law.

Article 75. Seizing and processing valuable documents

1. In case where the judgment debtor or an agency/organization/individual is found that they are holding the judgment debtor’s valuable documents, the enforcer shall issue a decision to seize such documents for enforcement of the judgment.

2. The judgment debtor or the agency/organization/individual holding the judgment debtor’s valuable documents shall hand over such documents to the civil judgment-enforcing agency. If the judgment debtor or the agency/organization/individual holding the judgment debtor’s valuable documents fails to hand over documents to the civil judgment-enforcing agency, the enforcer shall request a competent agency/organization/individual to transfer of their value to enforce the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 76. Deduction of incomes

1. A judgment debtor’s income includes salary, remuneration, pension, compensation for loss of capacity for work and another legal income.

2. The judgment debtor’s income shall be deducted in one of the following cases:

a) As agreed by the litigant;

b) Under a judgment or decision which requires the deduction of the judgment debtor’s income;

c) Alimony judgment enforcement, periodical judgment enforcement, or in a case where the debt to be collected for enforcement of the judgment is small or other assets owned the judgment debtor are insufficient for enforcement of the judgment.

3. Upon deduction of income, the enforcer shall deduct a minimum amount necessary for daily life of the judgment debtor and their dependants in accordance with the law.

4. The agency, organization, employer, social insurance authority where the judgment debtor receives their salary, remuneration, pension, allowance and other lawful income shall abide by the civil judgment-enforcing agency’s decision.

5. The Government shall elaborate clause 3 of this Article.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. The enforcer may conduct coercive utilization of assets owned by a judgment debtor in one of the following cases:

a) The value of assets is much larger than the debt and these assets can be utilized for enforcement of the judgment;

b) The judgment creditor agrees with coercive utilization of assets for enforcement of the judgment, provided the utilization of assets does not affect the legitimate rights and interests of a third party.

2. Coercive utilization of assets owned by the judgment creditor shall be conducted as follows:

a) In case of assets that are being directly utilized by the judgment debtor or another person permitted by the judgment debtor, the current utilizer may continue their utilization.

In case where the assets have not yet been utilized, the enforcer shall request the judgment debtor to sign an asset utilization contract with the organization or individual that wishes to utilize the assets;

b) The asset utilizer specified in point a of this clause shall remit the amount earned from the asset utilization to the civil judgment-enforcing agency, after necessary expenses are deducted;

c) If, within 10 days from the date of receipt of the request, the judgment debtor fails to sign the utilization contract with the organization/individual, the enforcer shall distrain and handle the assets for enforcement of the judgment.

Article 78. Asset distraint decision

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In cases where the third party is holding or is obligated to return assets to the judgment debtor, and such assets have been determined by a legally effective judgment or decision issued by the court, the enforcer may still distrain and handle them for enforcement of the judgment.

In case where the judgment debtor has not been granted a certificate of land use rights, ownership of houses and other assets on land, but is eligible for such certificate in accordance with the land law, or is subject to land repossession without a land repossession decision, or in another case where land use rights may be transferred as prescribed by land law, the enforcer may still distrain and handle the assets for enforcement of the judgment.

2. The enforcer does not issue the decision to distrain assets in case where the court judgment/decision has already declared the distraint of assets or in other cases as prescribed by law.

3. Decisions to distrain specific types of assets shall be issued:

a) In case the assets are land use rights and assets on land under the ownership of the judgment debtor, both the land use rights and the assets on land must be distrained.

In case the asset on the judgment's debtor land is owned by another person, the enforce shall only distrain land use rights. Assets owned by other persons shall be handled according to regulations in clause 2 Article 81 of this Law.

In case the judgment enforcement assets are assets on a piece of land leased out by the State for annual rents and the right to lease such land specified in the land lease contract, the enforcer shall only distrain the assets when all conditions are met according to the land law.

In case the current state of the asset being land use rights differs from that indicated in the certificate of land use rights or the certificate of ownership of houses and assets on land, the enforcer shall distrain and handle the assets as prescribed by law;

b) In case the judgment debtor commits to confirm and prove that the house is the sole residence of the judgment debtor and his/her family, the enforcer shall only distrain it if he/she has no other assets or has other assets insufficient for enforcement of the judgment, unless the judgment debtor agrees to the distraint of the house for enforcement of the judgment, or the house has been declared to be distrained by a judgment or decision, or the house is collateral that has been declared by a judgment or decision to be handled for enforcement of the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case where houses or construction works are attached to the land use rights of another person, the enforcer shall only distrain the houses, construction works, and land use rights if the land use right holder agrees. If the land use right holder does not agree, the enforcer shall only distrain the houses or construction works of the judgment debtor if the separation of such houses or construction works from the land does not significantly reduce the value of the assets;

d) In case where the judgment debtor has no other assets or has assets insufficient for enforcement of the judgment, the enforcer is entitled to distrain the judgment debtor's assets that are being pledged or mortgaged, provided that the value of such assets exceeds the judgment debtor's debt and judgment enforcement expenses.

In cases where the judgment debtor's assets are collateral for the bad debt at a credit institution or foreign bank branch, regulations in the Law on Credit Institutions shall apply;

dd) In case where the judgment debtor has assets that produce yields, the enforcer shall distrain such yields to secure enforcement of the judgment. Regarding yields that are food or foodstuffs, the enforcer, when distraining such yields, must permit the judgment debtor to retain a reasonable portion necessary for the sustenance of himself/herself and his/her family in accordance with point a, clause 2, Article 79 of this Law.

e) In case where the judgment debtor that is the intellectual property right holder, transfers the right to use such intellectual property to another agency/organization/individual, the intellectual property rights shall still be distrained.

In case where, for the purposes of maintenance of national defense, security, public welfare, and protection of the interests of the State and society, the State decides that the intellectual property right holder must transfer their rights to another agency/organization/individual during a specific period, the enforcer must not distrain the judgment debtor's intellectual property rights during the mandatory transfer period

The enforcer shall decide to assign the agency/organization/individual to utilize intellectual property rights. The assigned agency/organization/individual must transfer the amount earned after deduction of necessary expenses to the civil judgment-enforcing agency for enforcement of the judgment.

If necessary, the enforcer may request a specialized intellectual property organization to collect and manage income and profits from the judgment debtor’s utilization of intellectual property rights.

If the judgment debtor has transferred their intellectual property rights to another agency/organization/individual but has not yet been paid or has only been partially paid, the enforcer shall issue a decision to compel the transferee to transfer the unpaid amount for enforcement of the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 79. Assets that must not be distrained

1. Assets prohibited from circulation in accordance with regulations of law; assets serving national defense, security and public purposes; assets provided by the state budget for organizations and individuals.

2. Assets owned by a judgment debtor that is an individual:

a) Food meeting the essential needs of the judgment debtor and his/her family during the period in which he/she has no new income or does not produce new yield;

b) Medicines and medical equipment necessary for disease prevention and treatment for the judgment debtor and his/her family;

c) Necessary tools intended for the disabled and tools used to take care of the sick;

d) Ordinary offerings suitable for local customs;

dd) Essential working tools having low value and used as major or sole means of living of the judgment debtor and his/her family;

e) Utensils necessary for the daily life of the judgment debtor and his/her family;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Medicines and medical equipment for disease prevention and treatment for employees; food, foodstuff, tools and other assets used to serve meals for employees;

b) Nursery, school, medical facility and other equipment, means and assets owned by the enterprise/cooperative/establishment and used for non-commercial purposes;

c) Devices, equipment, means and tools for labor safety protection, fire and explosion and environmental pollution prevention and control, except for the case where they are attached to assets distrained or handled.

4. Other assets as prescribed by law.

Article 80. Distraint

1. When distraining assets, the enforcer must make a distraint record. The distraint record shall include time, location, and participants; the distrained assets; other assets (if any); the handover of assets for preservation; participants’ opinions; and any arising issues. The distraint record must bear the signatures of the enforcer, the participants, and the record maker.

In case where the litigant or their authorized representative is absent although they have been duly notified, the enforcer shall still proceed with the distraint, but must clearly specify such absence in the distraint record.  

When distraining real estate, a representative of the commune-level administrative division or representative of the village or residential cluster where the coercive judgment enforcement is organized, and a competent local land management agency, must participate.

2. Specific assets shall be distrained as follows:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) When distraining the judgment debtor's house that is being leased, lent by, or offered for free-of-charge stay of another person, the enforcer must notify the lessee, borrower, or occupant accordingly.

If the asset is being used under an unexpired lease/lending/temporary stay agreement, the lessee/borrower/occupant is entitled to continue leasing/lending/temporarily staying in the asset until the civil judgment-enforcing agency hands over the asset to the purchaser or the recipient as a deduction from the judgment debt. Legitimate rights and interests of the lessee, borrower, or occupant shall comply with regulations of law

If the lessee/borrower/occupant commits any act of resisting or obstructing the judgment enforcement, the enforcer shall compel him/her and other persons who are present to voluntarily move their assets and leave the house, even if the contract term has not yet expired. In case where they do not voluntarily comply with the enforcer’s request, the enforcer shall request the enforcement force to remove them and their assets from the distrained house.

c) When distraining land use rights, transportation vehicles, assets being intellectual property rights, or other assets that must be registered as prescribed by law, the enforcer shall request the judgment debtor or the person managing the certificate of ownership or right to use of assets and other relevant documents to submit such certificate and documents to the civil judgment-enforcing agency;

d) After the distraint of a transportation vehicle that is being used, the enforcer shall seize or assign it to the judgment debtor or the person currently managing and using the vehicle to continue their use and preservation; however, they are not permitted to change the current state of the vehicle, transfer, pledge, mortgage, or conduct other transactions related to the vehicle.

In case where the transportation vehicle is assigned to the judgment debtor or the person currently managing and using it for the continued use, the enforcer shall grant them a record of seizure of vehicle registration so that the vehicle is permitted for road traffic;

dd) When distraining objects, houses, construction works, or other assets, if the judgment debtor or the person currently managing/using/preserving the assets is absent or fails to comply with the enforcer’s requests, the enforcer shall, on a case-by-case basis, implement coercive measures to unlock or unpack the objects; compel the removal from houses, construction works or assets on land; and apply other necessary measures to distrain, implement coercive measures, or inspect the current state of the assets. The judgment debtor shall be held liable for any damage caused by the coercion;

e) The distraint of aircraft or sea-going ships for enforcement of the judgment shall comply with regulations of law on arrest of aircraft and sea-going ships.

3. If, during the distraint, the enforcer discovers additional assets owned by the judgment debtor at the distraint location but such assets have not yet been included in the distraint decision, the enforcer shall distrain those assets and record them in the distraint record. Immediately after concluding the distraint, the enforcer must issue a decision on additional distraint of such assets.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 81. Handling assets distrained

1. After the distraint, the enforcer shall follow procedures for valuation, determination of prices, sale and handover of assets and other procedures in accordance with this Law.

2. In case another person's asset can be removed from the distrained asset, the enforcer shall request the asset owner to remove or dismantle the asset from the distrained asset within 15 days from the date of notification. If, upon the expiration of the aforementioned time limit, the asset owner fails to remove or dismantle the asset, the enforcer shall follow procedures for valuation, determination of price, sale of the asset in accordance with Article 82 and Article 83 of this Law. During the handling pending period, the asset shall be preserved together with the distrained asset, and the asset owner has the right to reclaim the asset after paying all incurred expenses.

If the asset cannot be removed or dismantled or such removal or dismantlement considerably reduces the asset value, the asset shall be valuated, have its price determined, and be sold together with the distrained asset.

The asset owner is refunded proceeds from sale of the asset after deduction of expenses for preservation and handling of the asset. Such proceeds from sale of the asset shall be used in accordance with regulations of clause 1, Article 59 of this Law.

3. Regarding assets that are annual crops and short-term livestock not ready for harvest or assets in a closed production process uncompleted, after the distraint, the enforce may only handle such assets when they are ready for harvest or the closed production process is complete.

Article 82. Valuation and determination of prices of assets distrained

1. Valuation and determination of price of an asset are prescribed as follows:

a) Within 05 working days from the date of completion of the distraint of asset, the enforcer shall sign a service contract with a valuation enterprise, except for the case of receipt of a written agreement on price of the asset from the litigant;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Valuation and determination of the prices of assets that are gold, securities, digital assets, or other specific assets shall comply with regulations of the law.

2. Re-valuation and re-determination of price of the asset shall be based on one of the following grounds:

a) A competent authority or person reaches a conclusion stating that the enforcer or the valuation enterprise has committed a serious violation resulting in distorted results of valuation and determination of the price;

b) The valuation certificate has expired before the signature of the asset auction contract, unless the litigant has agreed to continue using the price stated in such certificate;

c) The litigant submits a written request for re-valuation and re-determination of price of the asset within 05 working days from the date of receipt of the notification of the result of initial valuation/determination of the price. Re-valuation and re-determination of price of the asset at the request of the litigant may be only carried out once. The requester must bear expenses and immediately pay an advance for re-valuation and re-determination of the price in accordance with the Government’s regulations.

3. Re-valuation and re-determination of price of the asset shall be carried out within 05 working days from the date on which there are grounds specified in clause 2 of this Article. Procedures for re-valuation and re-determination of price of the asset shall be followed in accordance with clause 1 of this Article.

4. Reserve price for initial auction is the price based on the result of the valuation/determination of price of the asset specified in clause 1 of this Article, or the price agreed upon by the litigant. In case of re-valuation and re-determination of the price, the price after re-valuation/re-determination shall be the reserve price for the auction.

5. In case, under a judgment or decision, one party receives the asset and must pay another person the value of such asset but the asset value has increased or decreased compared to its value at the time the judgment or decision takes legal effect, the asset shall be valuated in accordance with this Article provided that the following conditions are met:

a) At least one of the litigants submits a written request for valuation of the asset, provides documents proving a change in the price, and has paid an advance for the valuation;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

6. The valuation enterprise or the valuer shall be responsible for valuation of the asset used for enforcement of the judgment and explanation of the valuation result in accordance with the Law on Price. In case any damage is caused, they must pay compensation as prescribed by law

Article 83. Sale of assets distrained

1. Before initial sale of an asset under the common ownership, or in case an organization or individual has the priority to purchase such asset under a court judgment, court decision or regulations of law, the enforcer shall notify the co-owners, the organization/individual of their priority to purchase the asset at the reserve price.

The time limit for exercising the priority right to purchase the real estate is 15 days or purchase the movable asset is 05 working days from the date of valid notification. Within 05 working days from the expiration of the priority period, if the person given priority to purchase the asset fails to make payment, the asset shall be sold in accordance with clause 2 of this Article.

Regarding subsequent sales of the asset, the priority right to purchase the asset shall be exercised 03 working days prior to the commencement of the auction.

2. The distrained asset shall be sold as follows:

a) Within 05 working days from the expiration of the time limit specified in point c, clause 2, Article 82 of this Law, if the litigant does not make any request, the enforcer shall sign an auction contract with an asset auction practicing organization. In case of re-valuation/re-determination of price of the asset, the time limit for signature of the contract shall be 05 working days from the date of receipt of the re-valuation/ re-determination result.

Within 05 working days from the expiration of the above-mentioned time limit, if the auction contract cannot be signed with the asset auction practicing organization, a local asset auction center shall conduct the auction.

The auction of movable asset shall be conducted within 30 days and the auction of real estate shall be conducted within 45 days from the date of signature of the auction contract;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Assets that are gold, securities, digital assets, or other specific assets shall be sold in accordance with the law.

3. Within 05 working days from the date of receipt of the notification of unsuccessful auction, the enforcer shall issue a price reduction decision to continue the asset auction. Each price reduction does not exceed 10% of the reserve price of the preceding auction. The reduced price as decided by the enforcer shall be the reserve price for the subsequent auction.

From the second price reduction, if the auction is unsuccessful, the judgment creditor may receive the asset as a deduction from the judgment debt at the latest reduced price.

In case the judgment creditor does not agree to receive the asset used for enforcement of the judgment, the enforcer shall issue a decision on reduction of the price of the asset for further auction. If the reduced price of asset is equal to or lower than the judgment enforcement expense and the judgment creditor still refuses to receive the asset, the asset shall be returned to the judgment debtor for management and use. The judgment debtor must not put the asset into any civil transaction until their debt is fully paid.

4. 01 working day before an auction is held, the judgment debtor may receive back the asset if they have fully paid judgment enforcement expense and other actual and reasonable expenses arising from coercive judgment enforcement and organization of the auction.

The judgment debtor shall refund actual and reasonable expenses to the asset purchase registrant. Expenses shall be agreed by the parties. If no agreement can be reached, the parties shall request a Court to rule on expenses.

5. Auction procedures shall comply with the law on asset auction.

6. In case where multiple assets are auctioned in the same auction, the enforcer shall request the asset auction practicing organization, the asset auction council, or the auctioneer to conduct the auction in the descending order of the asset value.

7. The asset auction practicing organization or the auctioneer shall follow procedures for auctioning the assets and be responsible for the auction of the assets used for enforcement of the judgment in accordance with the Law on Property Auction. If any damage is caused, they must compensate for such damage in accordance with the law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. The enforcer is entitled to request the asset auction practicing organization or the asset auction council to suspend organization of an auction when there is one of the following grounds:

a) There is a judgment enforcement suspension/postponement decision;

b) There is a request from a person having the jurisdiction to settle complaints and denunciations for suspension of enforcement of the judgment to settle such complaints and denunciations;

c) There is a protest lodged by the People's Procuracy, or a decision or another document issued by a presiding authority on suspension of handling of the asset.

2. The enforcer is entitled to request the asset auction practicing organization or the asset auction council to terminate organization of an auction; or the auctioneer to terminate an auction session when there is one of the following grounds:

a) There is a judgment enforcement termination decision;

b) A competent authority or person reaches a conclusion stating that a serious violation against regulations on organization of enforcement of the judgment and auction of the asset is committed;

c) There is a ground to confirm that the auctioned asset is ineligible for the auction;

d) The judgment debtor has fully paid their debt to receive back their asset, or the judgment creditor receives the distrained asset as deduction from the judgment debt in accordance with regulations of this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Organization of auctions or auction sessions in accordance with clause 1 and clause 2 of this Article may only be suspended or terminated before the auctioneer announces the auction winner, and such suspension/termination must be included in the asset auction contract and the Auction Regulation in accordance with the law on asset auction.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 85. Asset auction result cancellation

1. Cancellation of asset auction results shall comply with regulations on auction of assets. In case asset auction results are cancelled, the handling of assets used for enforcement of the judgment shall comply with this Law.

2. If there is a ground to prove that a violation is committed in the course of auction, an asset purchaser or the enforcer may file a lawsuit to request the court to settle any dispute over the asset auction result according to the Government’s regulations.

3. The remediation of consequences and payment of compensations for damage caused by the cancellation of asset auction results shall comply with the law.

Article 86. Handover of assets for enforcement of judgments

1. In case the litigant reaches an agreement to let the judgment creditor receive the asset distrained and deduct its value from the debt, the enforcer shall make a written record of such agreement. In case there are multiple judgment creditors, the asset recipient shall meet all requirements as follows:

a) The asset recipient obtains the consent from other judgment creditors;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The enforcer shall issue a decision to hand over the asset to the purchaser or the recipient to deduct its value from the judgment debt.

3. The purchaser or the recipient of asset as a deduction from the judgment debt has their ownership of or right to use such asset recognized and protected by law.

4. If the purchaser has fully paid for the auctioned asset but the judgment or decision is amended or annulled, the civil judgment-enforcing agency shall continue the asset handover, including coercive judgment enforcement for handover of the asset to the purchaser, except for the case where the asset auction result is cancelled in accordance with law or the litigant reaches another agreement.

5. In case of coercive handover of the asset to the purchaser or the receipt of the asset as deduction from the judgment debt, the enforcer shall comply with regulations of Articles 88, 89, and 90 of this Law.

Article 87. Registration of transfer of ownership of or right to use asset

1. The competent state authority shall follow procedures for registering and transferring the ownership and the right to use of the asset to the purchaser or the recipient of the asset as a deduction from the judgment debt; revoking, amending, or annulling the certificate of ownership of/right to use of the asset, and secured transaction registration documents previously issued to the judgment debtor; and issuing new documents in accordance with the law.

The civil judgment-enforcing agency shall be responsible for providing documents for the registration of transfer of ownership and the right to use of the asset, as prescribed by the Government, for the purchaser of the asset used for enforcement of the judgment or the recipient of the asset as deduction from the judgment debt.

2. Regarding an asset being the right to use land/house/asset on land that is eligible for but has not been issued with the initial certificate, the civil judgment-enforcing agency shall request a competent authority to issue the initial certificate of land use rights, or ownership of the house/asset on land to the purchaser or the recipient of the asset to deduct its value from the judgment debt in accordance with the law.

Regarding asset being the right to use land/house/asset on land to which a certificate has been issued but cannot be revoked, the civil judgment-enforcing agency shall request a competent authority to revoke or annul the issued certificate and issue a certificate of land use rights, or ownership of the house/asset on land to the purchaser or the recipient of the asset used for enforcement of the judgment in accordance with the law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. Newly issued certificates will replace irrecoverable certificates. Irrecoverable certificates are no longer valid.

Article 86. Coercive handover and return of objects and documents

1. Specific objects shall be coercively returned as follows:

a) The enforcer shall request the judgment debtor or the person currently managing and using these objects to return them to the judgment creditor. If they fail to do so, the enforcer shall seize and return these objects to the judgment creditor;

b) In case the value of objects has decreased and the judgment creditor refuses to receive them back, the enforcer shall provide guidance for the litigant to reach a judgment enforcement agreement. The judgment shall be enforced according to the agreement.

In case the litigant cannot reach agreement, these objects shall be coercively returned to the judgment creditor.

The litigant may file a lawsuit to request a court to settle the damage caused by the decrease in the value of objects returned;

c) In case such objects no longer exist or are irreparably damaged and the litigant otherwise agree on enforcement of the judgment, the enforcer shall enforce the judgment according to the agreement.

In case the litigant cannot reach agreement, they may file a lawsuit to request the court to settle the damage caused by non-existence or irreparable damage of the objects returnable.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. In case returnable objects no longer exist or are damaged or devalued, the enforcer shall request the judgment debtor to return fungible objects or pay the value of fungible objects, unless otherwise agreed by the litigant.

3. In case irrevocable documents are reissuable, the enforcer shall request a competent authority or organization to issue a decision on annulment of these documents and issue new ones to the judgment creditor, the purchaser of the asset used for enforcement of the judgment, the recipient of the asset as deduction from the judgment debt.

Regarding irrevocable certificates of land use rights and ownership of houses and other assets on land and other documents on related assets, regulations in Article 87 of this Law shall apply.

Article 89. Coercive transfer and return of houses and assets on land

1. Upon the coercive transfer or return of a house or asset on land, the enforcer shall request the enforcement force to remove the judgment debtor, other persons, and their assets or belongings from the house or the asset on land.

In case where the judgment debtor is absent or the owners refuse to receive their assets/belongings although they are duly notified of the coercive enforcement decision, the enforcer shall hand over such assets or belongings to an organization or individual capable of preservation, or preserve them at the civil judgment-enforcing agency, and notify the location and time for each owner to receive back his/her asset(s)/belonging(s). These assets and belongings shall be handled according to Article 59 of this Law. The judgment debtor shall suffer all damages arising from coercion.

2. In case of coercive transfer of a house being the sole residence of the judgment debtor to a person who has purchased it, if finding that the judgment debtor, after fully paying their debt, becomes unable to rent the house, the enforcer shall, before following procedures for paying the debt to the judgment creditor, deduct an amount enough for the judgment debtor to pay rents for 01 year as prescribed by the Government.

Article 90. Coercive transfer of land use rights

1. Upon the coercive transfer of land use rights, the enforcer shall organize the transfer of the land area to the judgment creditor and comply with regulations of clause 1, Article 89 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. In case where another person’s asset attached to land use rights is transferred and the handling of the asset has been indicated in the enforced judgment or decision, the civil judgment-enforcing agency shall handle the asset in accordance with the judgment or decision.

3. In case where another person’s asset attached to land use rights is transferred and the handling of the asset has not yet been indicated in the enforced judgment or decision, the civil judgment-enforcing agency shall take actions as follows:

a) In case the asset on land is formed after the first-instance judgment or decision is issued, the enforcer shall request the asset owner to remove or dismantle the asset from the land area to be transferred. Upon expiration of the 15-day period from the date of notification, if the asset owner fails to do so, the enforcer shall make coercive transfer of land use rights together with the asset to the judgment creditor. Rights and obligations of the parties shall be exercised and fulfilled according to the civil law.

In case the judgment creditor does not agree to receive the asset on land, the enforcer shall follow procedures for valuation, determination of price, and sale of the asset as prescribed in Article 82 and Article 83 of this Law. If the judgment creditor agrees to let the asset remain on the land pending the handling, the enforcer shall transfer the land after the asset has been completely handled; if the judgment creditor does not agree, the enforcer shall make coercive removal or dismantlement of the asset from the land area to be transferred.

The asset owner is refunded proceeds from sale of the asset after deduction of expenses for preservation and handling of the asset. Such proceeds from sale of the asset shall be used in accordance with regulations of clause 1, Article 59 of this Law.

b) In case the asset on land is formed before a first-instance judgment or decision is issued, the civil judgment-enforcing agency shall request the court that has issued such judgment or decision to clearly explain the handling of the asset or request a competent Court to review the judgment or decision according to cassation or re-opening procedures.

Article 91. Coercive fulfillment of the obligation to perform certain tasks

1. In case of coercive performance of certain tasks or in case where a commercial juridical person is compelled to publicly apologize, when issuing a coercion decision, the enforcer shall set a time limit of 05 working days from the date of due notification for the judgment debtor to fulfill their obligation.

2. Upon the expiration of the set time limit, if the judgment debtor still fails to fulfill their obligation, the enforcer shall:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) In case the obligation fulfillment is closely associated with the personal identity of the judgment debtor, or the obligation is non-transferable as prescribed by law or the judgment debtor does not voluntarily perform certain tasks, request a competent authority to conduct criminal prosecution for failure to execute the judgment.

Article 92. Prohibition from performance of certain tasks

Upon prohibition from performance of certain tasks, if necessary, the enforcer may request the judgment debtor to restore the original state.

In case the judgment debtor still fails to terminate the performance of these tasks or to restore the original state, the enforcer shall request a competent authority to conduct criminal prosecution for failure to execute the judgment.

Article 93. Coercive delivery of minors to authorized guardians under judgments or decisions

1. In case of coercive delivery of a minor to an authorized guardian, when issuing a coercion decision, the enforcer shall set a time limit of 5 working days from the date of due notification for the judgment debtor or the custodian of the minor to abide by the decision.

Before issuing the coercion decision, the enforcer shall cooperate with the commune-level People's Committee and relevant organizations and individuals to persuade the litigant to voluntarily execute the judgment.

2. Upon the expiration of the set time limit, if the judgment debtor or the custodian of the minor fails to deliver the minor to the authorized guardian, the enforcer shall request a competent authority to conduct criminal prosecution for failure to execute the judgment.

3. Procedures for coercive delivery of a person who is legally incapacitated, or a person with limited cognition and behavior control to an authorized guardian that is an organization/individual shall be followed in accordance with clauses 1 and 2 of this Article.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case of coercive reinstatement of an employee, when issuing a coercion decision, the enforcer shall set a time limit of 05 working days from the date of due notification for an employer to reinstate their employee.

Upon the expiration of the set time limit, if the employer still fails to do so, the enforcer shall discipline the employer or criminally prosecute the employer for failure to execute the judgment.

Article 95. Termination of application of security measures and coercive measures and release of distrained assets

1. Decisions on application of security measures/coercive measures for enforcing a judgment shall automatically cease to be effective when a decision to terminate enforcement of the judgment or a decision to cancel the application of security measures/coercive measures is issued by a competent person.

2. The competent person who applied the security measures specified in points a, b, and c, clause 1, Article 66 of this Law must issue a decision to terminate the application of security measures within 03 working days from the date on which there is one of the following grounds:

a) The person requesting the application of security measures makes a request for termination of such measures;

b) The judgment debtor has fully paid their debt, fees, and judgment enforcement expenses in accordance with this Law;

c) The judgment debtor does not have the ownership or the right to use of assets and documents;

d) Other cases prescribed by law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The litigant reaches an agreement on the release of distrained assets, except where such agreement violates the law, is contrary to social ethics, affects the State interests or the legitimate rights and interests of the third party, or aims to evade the obligation to pay judgment enforcement fees;

b) The judgment debtor has fully paid their debt, fees, and judgment enforcement expenses or other cases in accordance with the law.

4. The enforcer shall issue a decision to terminate coercive utilization of an asset within 03 working days from the date on which there is one of the following grounds:

a) The utilization of assets is ineffective or obstructs the judgment enforcement;

b) The judgment debtor or the asset-utilizing person fails to properly follow the enforcer’s request for utilization of the asset;

c) The judgment debtor has fully paid their debt, fees, and judgment enforcement expenses or other cases in accordance with the law.

5. In case the coercive utilization of asset is terminated according to points a and b, clause 4 of this Article, the enforcer shall continue to distrain and handle the asset for enforcement of the judgment.

6. After termination of application of security measures and coercive measures and release of distrained assets, assets and documents shall be returned in accordance with the Government's regulations.

Chapter IV

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Section 1. COMPLAINTS ABOUT AND RESOLUTION OF COMPLAINS ABOUT ENFORCEMENT OF CIVIL JUDGMENTS

Article 96. Right to complain about enforcement of civil judgment

1. Litigants have the rights to complain about civil judgment enforcement decisions or acts issued/committed by heads of civil judgment-enforcing agencies, enforcers, heads of civil judgment-enforcing offices and bailiffs if they have grounds to believe that these decisions or acts are illegal or have infringed upon their legitimate rights and interests.

Persons having related interests and obligations specified in clause 4 Article 3 of this Law have the rights to complain about civil judgment enforcement decisions or acts issued/committed by heads of civil judgment-enforcing agencies, enforcers, heads of civil judgment-enforcing offices and bailiffs if they have grounds to believe that these decisions or acts are illegal or have directly infringed upon their legitimate rights and interests.

2. The prescriptive period of the initial complaint about enforcement of a civil judgment is prescribed as follows:

a) Regarding a judgment enforcement decision issued or act committed before the decision on application of security or coercive measure is issued, the prescriptive period is 15 days from the date of due notification of the decision or detection of the act;

b) Regarding a decision on or act of application of a security measure, the prescriptive period is 10 days from the date of due notification of the decision or detection of the act;

c) Regarding a decision on or act of application of a coercive measure after the coercive measure application decision is issued, the prescriptive period is 30 days from the date of due notification of the decision or detection of the act;

3. For a subsequent complaint, the prescriptive period is 15 days from the date of due notification of the decision to resolve the initial complaint.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 97. Cases where complaints are not accepted for resolution

1. The complained decision or act is not directly related to the legitimate rights and interests of the complainant.

2. The complainant does not have full civil act capacity and lawful representative, unless otherwise provided for by law.

3. The representative has no proof of his/her lawful representation.

4. The prescriptive period for lodging the complaint has expired, except for the case specified in clause 4 Article 96 of this Law.

5. The complaint has been already resolved under a legally effective decision.

6. Administrative decisions or acts that are complained are internal decisions or acts issued/committed by state authorities for direction and organization of the performance of tasks and civil works; administrative decisions or acts related to direction and administration of inferior administrative agencies by superior administrative agencies; or administrative decisions containing legal rules issued by competent authorities, organizations, or individuals according to procedures of the law on promulgation of legislative documents.

7. Complaints have been resolved according to procedures for settlement of denunciations or the complaint resolution termination notification has been previously issued in accordance with clause 3, Article 105 of this Law.

Article 98. Jurisdiction to resolve complaints about enforcement of civil judgments

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Heads of civil judgment-enforcing offices shall resolve initial complaints about their civil judgment enforcement decisions and acts and those issued/committed by bailiffs under their management.

2. The head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice of Vietnam shall resolve second-time complaints about legally ineffective complaint resolution decisions issued by heads of provincial civil judgment-enforcing agencies and heads of civil judgment-enforcing offices. The complaint resolution decision issued by the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice shall immediately take effect.

3. The Minister of Justice of Vietnam may review each complaint resolution decision which is effective for enforcement specified in clause 1 or 2 of this Article when there is one of the following grounds:

a) The complained decision or act is unlawful, but the complaint resolution decision concludes that such decision or act is lawful;

b) The complaint resolution seriously violates regulations of the law on procedures for resolving complaints against enforcement of civil judgments;

c) There is a new fact that fundamentally changes the complaint resolution result;

d) The Supreme People's Procuracy makes a proposal.

4. Heads of military zone-level civil judgment-enforcing agencies shall resolve initial complaints about their decisions and acts and those issued/committed deputy heads and enforcers under their management.

5. The head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense of Vietnam shall resolve second-time complaints about legally ineffective complaint resolution decisions issued by heads of military zone-level civil judgment-enforcing agencies. The complaint resolution decision issued by the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense shall immediately take effect.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 99. Rights and obligations of complainants

1. A complainant has the following rights:

a) Lodge complaints directly or through his/her lawful representative;

b) Hire a lawyer or a duty solicitor to receive legal consultancy in the complaint process;

d) Get access to proofs serving as grounds for resolution of the complaint, except for information and documents included in the list of state secrets; show proofs relevant to the complaint and give his/her opinions on these proofs; receive the complaint acceptance document, the notification of suspension/termination, and decision on resolution of the complaint;

d) Have his/her legitimate rights and interests, which have been infringed upon, restored, and be eligible for compensations for damage, if any;

dd) Lodge the second complaint if he/she disagrees with the initial complaint resolution decision which is legally ineffective and issued by the person having the jurisdiction to resolve complaints;

e) Fully or partially revoke his/her complaint at any stage of the complaint resolution and complaint process. The complaint shall be revoked through a written request for revocation of the complaint or a record specifying the complainant's opinion on the revocation when he/she works with the person having the jurisdiction to resolve complaints or the person verifying the complaint.

2. A complainant has the following obligations:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Give truthful presentations of the matters, supply information and documents to the person having the jurisdiction to resolve complaints; take responsibilities to law for the contents of their presentations and the supply of such information and documents;

c) Comply with the complained decision or act issued/committed by the head of the civil judgment-enforcing agency, the enforcer, the head of the civil judgment-enforcing office or the bailiff during the complaint period, except for cases of suspension of the implementation of the complained decision or act, or suspension of enforcement of the judgment as prescribed in point b, clause 1, Article 101 of this Law;

d) Strictly abide by the effective complaint resolution decision and the decisions issued by the Minister of Justice of Vietnam and the Minister of National Defense of Vietnam specified at clause 3 and clause 6, Article 98 of this Law.

Article 100. Rights and obligations of the complained persons

1. A complained person has the following rights:

a) Get access to proofs serving as grounds for resolution of the complaint, except for information and documents included in the list of state secrets; show proofs of the legality of the complained decision/act and give his/her opinions on such proofs;

b) Receive the complaint acceptance document, the notification of suspension/termination, and decision on resolution of the complaint;

2. The complained person has the following obligations:

a) Explain the complained decision or act, supply relevant information and documents when requested by the person having the jurisdiction to resolve complaints;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Pay compensations or indemnities and remedy consequences caused by his/her illegal decisions or acts according to the law.

Article 101. Rights and obligations of persons having the jurisdiction to resolve complaints

1. A person having the jurisdiction to resolve complaints has the following rights:

a) Request any complainant, complained person, person having related interests and obligations or another agency/organization/individual to supply information and documents related to each complaint;

b) Suspend enforcement of any complained decision or performance of any complained act or request a civil judgment-enforcing agency/office to suspend the judgment enforcement during the complaint resolution period in accordance with this Law, if he/she believes that the judgment enforcement will affect legitimate rights and interests of the litigant or the complaint resolution.

c) Cancel the suspension of the implementation of the complained decision or act, or the suspension of enforcement of the judgment as prescribed in point b of this clause;

d) Suspend or terminate the complaint resolution as per law.

2. A person having the jurisdiction to resolve complaints has the following obligations:

a) Receive and resolve complaints about the complained decisions or acts; provide evidence to serve as grounds for resolution of the complaints when requested by the complainant or the complained person;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Be responsible to the law for his/her resolution of complaints.

Article 102. Time limit for resolution of complaint

1. Regarding a decision or act specified at point a, clause 2, Article 96 of this Law, the time limit for resolution of the initial complaint is 15 days and the time limit for resolution of the second complaint is 30 days from the date of acceptance of the complaint.

2. Regarding a decision or act specified at point b, clause 2, Article 96 of this Law, the time limit for resolution of complaint is 05 working days from the date of acceptance of the complaint.

3. Regarding a decision or act specified at point c, clause 2, Article 96 of this Law, the time limit for resolution of the initial complaint is 30 days and the time limit for resolution of the second complaint is 45 days from the date of acceptance of the complaint.

Regarding a complicated case, the time limit for resolution of the complaint may be extended up to 30 days from the expiration of the original time limit.

4. In case of a deep-lying and remote area which is difficult to access or a complicated case, the time limit for resolution of the complaint may be extended up to 30 days from the expiration of the original time limit.

Article 103. Complaint forms

A complainant may lodge his/her complaint in any of the following forms:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The written complaint must clearly state the date; full name, address and ID number of the complainant; full name and address of the complained person; complaint contents and reasons for the complaint and complaint resolution request. The written complaint must bear the signature or fingerprints of the complainant, or be verified via electronic identification;

2. The complainant may be presented in person at the competent complaint-resolving agency; The person responsible for receiving the complaint shall direct the complainant to write down his/her complaint or record complaint contents according to clause 1 of this Article, and these documents shall bear the signature or fingerprints of the complainant;

3. The complainant may lodge his/her complaint through his/her representative. The representative shall have documents proving the legality of the representation and the complaint shall be lodged according to procedures specified in clauses 1 and 2 of this Article.

Article 104. Acceptance of written complaints

Within 05 working days from the date of receipt of the initial complaint or 10 days from the date of receipt of the second complaint within the jurisdiction, if the complaint does not fall within the cases prescribed in Article 97 of this Law, the person having the jurisdiction to resolve complaints must accept it for resolution and notify the complainant in writing. In case where the person does not accept the complaint for settlement, he/she must notify and clearly state the reasons.

Article 105. Procedures for resolving initial complaints

1. After accepting a written complaint, the person having the jurisdiction to resolve complaints shall conduct verification and request the complained person to provide explanation, and when necessary, may request external assessment or organize dialogues to clarify the complaint, the complainant’s request and resolution direction.

The person having the jurisdiction to resolve complaints shall issue a decision to resolve the complaint within his/her jurisdiction.

2. The person having the jurisdiction to resolve complaints shall issue notification of suspension of resolution of the complaint in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) It is necessary to await the resolution result from another competent agency/organization/individual regarding issues directly related to the complaint.

3. The person having the jurisdiction to resolve complaints shall issue notification of termination of resolution of the complaint in the following cases:

a) The complainant revokes his/her complaint;

b) The individual complainant dies, and the rights and interests related to the complaint are not inheritable; the organizational complainant is dissolved, declared bankrupt, or has terminated its operations;

c) The complaint cannot be resolved due to lack of investigative leads.

d) The complaint has been resolved according to procedures for settlement of denunciations.

4. When the grounds for suspension no longer exist, the complaint-resolving person shall continue to resolve the complaint and notify the involved parties; the suspension period shall not be included in the time limit for resolution of the complaint.

5. The initial complaint resolution decision issued by the head of the civil judgment-enforcing agency or office shall take legal effect from the date on which the time limit prescribed in clause 3, Article 96 of this Law expires and the complainant does not lodge the second complaint.

Regarding a decision on or act of application of security measure, the initial complaint resolution decision issued by the head of the civil judgment-enforcing agency shall immediately take effect.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. In case of continuation in complaint, the complainant shall lodge a written complaint and submit it enclosed with a copy of the initial complaint resolution decision and relevant documents to the person having the jurisdiction to resolve the second complaint.

2. In the course of the second complaint resolution, the person having the jurisdiction to resolve complaints have the rights provided for in Article 101 of this Law and may request the initial complaint-resolving person, relevant agencies, organizations and individuals to supply information, documents and proofs related to the complaint; summons the complained person and the complainant for organization of dialogues when necessary; verify complaint contents; request external assessment, and take other measures provided for by law to resolve the complaint. When receiving the request, relevant agencies, organizations and individuals shall satisfactorily respond to the request.

The person having the jurisdiction to resolve the second complaint shall issue a complaint resolution decision.

3. The complaint resolution suspension/termination shall comply with regulations in Article 105 of this Law.

Article 107. Complaint resolution decision

1. A complaint resolution decision must include the following contents:

a) Date of issuance of the decision;

b) Full name and address of the complainant/complained person;

c) Complained matters;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Legal grounds for resolution of the complaint;

e) Conclusions on correct, partially correct or wholly wrongful complaint contents;

g) Maintenance, amendment, annulment or request for partial amendment or annulment of the complained decision or act, or forcible termination of the enforcement or performance of the complained decision or act;

h) Guidance on the litigant’s right to lodge the second complaint;

i) Legal effect of the complaint resolution decision.

2. A decision to resolve the second complaint must include the following contents:

a) Contents specified in points a, b, c, d, dd, g and i clause 1 of this Article;

b) Conclusion on complaint details and resolution by the person having jurisdiction to resolve the initial complaint.

Section 2. DENUNCIATIONS OF ENFORCEMENT OF CIVIL JUDGMENTS AND SETTLEMENT THEREOF

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Individuals are entitled to issue denunciations to competent agencies, organizations or individuals of illegal acts committed by heads of civil judgment-enforcing agencies/offices, bailiffs, enforcers and other civil servants engaged in enforcement of civil judgments if such acts cause damage or threaten to cause damage to the State interests, legitimate rights and interests of citizens, agencies and organizations.

2. A denouncer has the following the rights:

a) Submit a written denunciation in person, by post or online or present the denunciation in person to a competent authority/organization/individual;

b) Make a request to keep his/her full name, address, and handwriting confidential;

c) Send a request to be notified of acceptance or non-acceptance of a denunciation, transfer of the denunciation to a competent authority/organization/individual for settlement; suspension or termination of settlement of the denunciation, continuation in settlement of the denunciation and result of settlement of the denunciation;

d) Request the competent authority/organization/individual to apply protective measures when threatened, harassed, or retaliated against; receive commendation and compensation for damages as prescribed by law;

dd) Fully or partially revoke his/her denunciation before the denunciation-settling person concludes the denunciation. The denunciation shall be revoked through a written request for revocation of the denunciation or a record specifying the denouncer’s opinion on the revocation when he/she works with the denunciation-settling person or the person verifying the denunciation;

e) Issue a further denunciation when there are grounds to believe that the settlement of the denunciation by the competent authority/organization/individual is unlawful, or when the time limit for settlement has expired but the denunciation remains unsettled.

3. A denouncer has the following the obligations:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Clearly state his/her full name and address;

c) Be responsible to the law for untruthful denunciation;

d) Cooperate with the denunciation-settling person when requested;

d) Pay compensation for damage caused by his/her intentional untruthful denunciation.

Article 109. Rights and obligations of the denounced persons

1. A denounced person has the following the rights:

a) Be notified of a denunciation, suspension or termination of settlement of the denunciation, continuation in settlement of the denunciation and result of settlement of the denunciation;

b) Produce evidence to prove that the denunciation is untruthful;

c) Have his/her legitimate rights and interests, which have been infringed upon, restored; have his/her honor restored and receive compensation for any damage caused by the untruthful denunciation;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Receive the denunciation conclusion;

e) Have his/her legitimate rights and interests protected when a denunciation conclusion has not yet been issued by the denunciation-settling person;

g) Complain about a disciplinary decision, mandatory remedial measures, or other measures taken by the competent authority/organization/individual in accordance with the law.

2. A denounced person has the following the obligations:

a) Explain the denounced acts; provide relevant information and documents at the request of the competent authority/organization/individual; and be present as requested by the denunciation-settling person;

b) Strictly abide by the settlement decision issued by the competent authority/organization/individual;

c) Pay compensation and take remedial measures against his/her illegal acts in accordance with the law.

Article 110. Jurisdiction, time limit and procedures for settling denunciations

1. Denunciation of any illegal act committed by a person managed by an agency or organization shall be settled by the head of such agency or organization.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

In case the denounced person is the head of civil judgment-enforcing office or a bailiff, the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice of Vietnam shall be responsible for settlement.

In case the denounced person is the head of military zone-level civil judgment-enforcing agency, the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense of Vietnam shall be responsible for settlement.

The time limit for settlement of the denunciation is 30 days from the date of acceptance. Regarding a complicated case, the time limit may be extended up to 60 days from the date of acceptance; regarding a extremely complicated case, the time limit must not exceed 90 days from the date of acceptance.

3. Denunciation of an illegal act showing sign of crime shall be settled under the Criminal Procedure Code.

4. Procedures for settling denunciations shall be followed in accordance with the law on denunciations.

Article 111. Responsibilities of persons having the jurisdiction to settle denunciations

1. Competent agencies, organizations and individuals shall, within their tasks and powers, receive and promptly and lawfully settle denunciations; strictly handle violators; apply necessary measures to prevent damage that may be caused; ensure that settlement decisions are strictly enforced, and be responsible to the law for their decisions.

2. Persons who have the jurisdiction to settle denunciations but fail to settle denunciations or settle denunciations irresponsibly or in contravention of law shall, depending on the nature and severity of their violations, be disciplined or face criminal prosecution. If any damage is caused, they shall pay compensations therefor in accordance with the law.

Section 3. PROTESTS AGAINST AND RECOMMENDATIONS ABOUT ENFORCEMENT OF CIVIL JUDGMENTS

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. The jurisdiction of the People’s Procuracy to lodge protest or offer recommendation shall be exercised as follows:

a) The Regional People's Procuracy has the jurisdiction to protest against or recommend decisions or acts issued/committed by the head of the provincial civil judgment-enforcing agency or the enforcer, and related to the judgment enforcement organized by the regional civil judgment-enforcing office; decisions or acts issued/committed by the head of the civil judgment-enforcing office, the bailiff, and relevant agencies, organizations or individuals within the region.

The provincial People's Procuracy has the jurisdiction to protest against or recommend decisions or acts issued/committed by the head of the provincial civil judgment-enforcing agency, the enforcer, the head of the civil judgment-enforcing office, the bailiff, and relevant agencies, organizations or individuals within the province.

The Supreme People's Procuracy has the jurisdiction to protest against or recommend decisions or acts issued/committed by the head of the provincial civil judgment-enforcing agency, the enforcer, the head of the civil judgment-enforcing office, the bailiff, and relevant agencies, organizations or individuals nationwide;

b) The Central Military Procuracy or the military procuracy of military zone has the jurisdiction to protest against or recommend decisions or acts issued/committed by the head or the enforcer of the military zone-level civil judgment-enforcing agency.

2. The time limit for the Regional People's Procuracy, the military procuracy of military zone or the provincial People's Procuracy to lodge protest against a judgment enforcement decision/act is 15 days; for the Supreme People's Procuracy or the Central Military Procuracy to lodge protest is 30 days from the date of receipt of the decision or detection of the illegal act.

If the judgment has been completely enforced, the time limit for lodging a protest is 01 year from the date on which the competent People's Procuracy receives the notification of completion of the enforcement.

Article 113. Response to People’s Procuracy’s protest or recommendation

1. The head of the civil judgment-enforcing agency/office is responsible for responding to the People's Procuracy’s protest against or recommendation about his/her own decisions or acts, or those issued/committed by civil servants, enforcers, or bailiffs under his/her management, within 15 days from the date of receipt of such protest or recommendation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. In case of disagreement about the protest, the head of the civil judgment-enforcing agency/office shall request in writing the People's Procuracy that has lodged the protest to review the protest. Within 10 days from the date of receipt of the written request, the People's Procuracy shall provide a written response.

In case where the People's Procuracy upholds its protest and the head of the civil judgment-enforcing agency/office still disagrees about such protest, the matter shall be settled as follows:

a) The head of provincial civil judgment-enforcing agency/office that has issued/committed the protested decision/act shall send a report to the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice and the Supreme People's Procuracy.

The head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice shall consider providing a written response within 30 days from the date of receipt of the report. The written response from the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice shall take legal effect;

b) The head of military zone-level civil judgment-enforcing agency that has issued/committed the protested decision/act shall send a report to the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense and the Central Military Procuracy.

The head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense shall consider providing a written response within 30 days from the date of receipt of the report. The written response from the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense shall take legal effect;

3. If the written response to the protest as prescribed in clause 2 of this Article is found to be groundless, the Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy shall request the Minister of Justice to reconsider the legally effective written response provided by the head of the civil judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of Justice; or request the Minister of National Defense to reconsider the legally effective written response issued by the head of the judgment enforcement-managing agency affiliated to the Ministry of National Defense.

The Minister of Justice or the Minister of National Defense shall be responsible for consideration and provision of a written response for the Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy within 30 days from the date of receipt of request.

The written response from the Minister of Justice or the Minister of National Defense shall take legal effect;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Chapter V

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 114. Amendments to some articles of relevant laws

1. Point dd, clause 1, Article 90 of the Criminal Procedure Code No. 101/2015/QH13 amended by Law No. 02/2021/QH15, Law No. 34/2024/QH15, Law No. 59/2024/QH15, and Law No. 99/2025/QH15 shall be amended as follows:

“dd) Regarding exhibits transferred to competent presiding authorities for preservation, the People's Public Security force, the People's Army, and agencies assigned to conduct certain investigation activities shall be responsible for preserving such exhibits during the stages of investigation, prosecution, and adjudication.

After a judgment or decision takes legal effect, exhibits shall continue to be preserved and stored at their current locations; civil judgment-enforcing agencies shall follow procedures for inventorying, receiving, and sealing exhibits during the judgment enforcement stage and processing them in accordance with the law on civil judgment enforcement. In case where exhibits are being preserved in leased warehouses, civil judgment-enforcing agencies shall be responsible for paying warehouse rents from the time of receipt until the assets are destroyed, returned, or handed over to provincial financial agencies or commune-level People's Committees for confiscation or are completely handled in accordance with the Law on Civil Judgment Enforcement.”.

2. The phrase “văn phòng thừa phát lại” (bailiff office) shall be replaced by the phrase “văn phòng thi hành án dân sự” (civil judgment-enforcing office) and the phrase “Thừa phát lại” (bailiff) shall be replaced by the phrase “Thừa hành viên” (bailiff) in clause 10, Article 104 and clause 4, Article 123 of the Law on Organization of People’s Courts No. 34/2024/QH15, amended by Law No. 81/2025/QH15; and in point h, clause 1, Article 9; point b, clause 3, Article 11; clause 6 and clause 8, Article 14 of the Law on Notarization No. 46/2024/QH15.

Article 115. Effect

1. This Law takes effect from July 01, 2026, except for regulations in clause 2 of this Article.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The Resolution No. 107/2015/QH13 dated November 26, 2015, of the National Assembly on bailiff implementation; the Law on Enforcement of Civil Judgments No. 26/2008/QH12, amended by Law No. 64/2014/QH13, Law No. 23/2018/QH14, Law No. 67/2020/QH14, Law No. 03/2022/QH15, Law No. 31/2024/QH15, Law No. 43/2024/QH15, Law No. 59/2024/QH15, Law No. 81/2025/QH15, and Law No. 84/2025/QH15 (hereinafter referred to as “Law on Enforcement of Civil Judgments No. 26/2008/QH12), shall cease to be effective from the effective date of this Law, except for regulations in clause 1, Article 116 of this Law.

4. The Minister of Justice shall preside over and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People's Court, the Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy, and relevant Ministers and Heads of ministerial-level agencies, within their tasks and powers, in providing guidance on inter-sectoral cooperation in enforcement of civil judgments and other necessary contents of this Law.

Article 116. Transitional clauses

1. If a judgment is completely enforced before the effective date of this Law, but the litigant still lodges a complaint or denunciation, or the People's Procuracy still has protest or recommendation, regulations of the Law on Enforcement of Civil Judgments No. 26/2008/QH12 shall apply.

2. If a judgment is completely enforced before the effective date of this Law, the time limit for the People's Procuracy to lodge a protest shall comply with regulations of this Law.

3. If a judgment has not yet been enforced or has not been completely enforced before the effective date of this Law, regulations in this Law shall apply to continue to enforce the judgment, except for the case specified in clause 4 of this Article.

4. Agencies, organizations, or individuals that have followed procedures in accordance with the Law on Enforcement of Civil Judgments No. 26/2008/QH12 before the effective date of this Law are not required to re-follow such procedures according to this Law.

5. Bailiffs appointed before the effective date of this Law may continue their operations without being re-appointed, but must change their bailiff cards before July 01, 2027, in accordance with the Government's regulations.

A bailiff office established before the effective date of this Law may continue its operations but it must follow procedures for changing its name into “civil judgment-enforcing office” before July 01, 2027, in accordance with the Government's regulations.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Civil judgment-enforcing offices and bailiffs shall continue to perform tasks of bailiff offices and bailiffs as per law.

6. Exhibits received by civil judgment-enforcing agencies before the effective date of this Law shall continue to be preserved and processed by such civil judgment-enforcing agencies in accordance with the law.

Regarding exhibits that have been received by provincial civil judgment-enforcing agencies and are being preserved in exhibit warehouses located outside their head offices’ premises, the Ministry of Justice, the Ministry of Public Security, and the Ministry of Finance shall cooperate in the transfer of such warehouses and the exhibits stored therein to the Ministry of Public Security for management before July 01, 2028.

The State shall facilitate investment in upgradation and construction of exhibit warehouse systems of the People's Public Security force, the People's Army, and agencies assigned to conduct certain investigation activities 

This Law is ratified by the 15th National Assembly of Socialist Republic of Vietnam on December, 15 2025 during its 10th session.

 

 

CHAIRMAN OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh
Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Thi hành án dân sự 2025
Số hiệu: 106/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Thủ tục Tố tụng
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 05/12/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 56 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Điều 56. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tại địa phương, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận tương đương đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên; quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên;

b) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm của Thừa hành viên, văn phòng thi hành án dân sự theo thẩm quyền;

c) Chỉ đạo, hướng dẫn việc cung cấp, cập nhật thông tin cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên trên địa bàn theo quy định;

d) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan.

2. Sở Tư pháp chịu trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tại địa phương; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan.

Sở Tư pháp cập nhật thông tin về tổ chức, hoạt động hành nghề của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên vào cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên.

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
...
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ;

b) Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;

c) Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên; đăng ký hành nghề và cấp Thẻ Thừa hành viên; tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên; thành lập, đăng ký hoạt động, chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về khiếu nại;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 56 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Chương III Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương III VĂN PHÒNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 15. Phạm vi hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự
...
Điều 16. Cơ cấu tổ chức của văn phòng thi hành án dân sự
...
Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng thi hành án dân sự
...
Điều 18. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của Thừa hành viên
...
Điều 19. Tạm ngừng hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự
...
Điều 20. Chấm dứt hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự
...
Điều 21. Chế độ thông tin, báo cáo, thống kê

Xem nội dung VB
Điều 26. Văn phòng thi hành án dân sự
...
5. Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự.
Khoản này được hướng dẫn bởi Chương III Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 18 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Điều 18. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của Thừa hành viên

1. Văn phòng thi hành án dân sự có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên hành nghề tại văn phòng mình kể từ ngày Thừa hành viên được cấp Thẻ Thừa hành viên. Việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên phải được duy trì trong suốt thời gian hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự.

2. Văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm thông báo và gửi bản sao hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của Thừa hành viên cho Sở Tư pháp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày mua bảo hiểm hoặc kể từ ngày thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm.

Xem nội dung VB
Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng thi hành án dân sự
...
4. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên của Văn phòng mình theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 18 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 đến Điều 13 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương II THỪA HÀNH VIÊN

Điều 4. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thừa hành viên
...
Điều 5. Đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên và công nhận tương đương đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên
...
Điều 6. Tập sự hành nghề Thừa hành viên
...
Điều 7. Kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên
...
Điều 8. Bổ nhiệm Thừa hành viên
...
Điều 9. Những trường hợp không được bổ nhiệm Thừa hành viên
...
Điều 10. Tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên
...
Điều 11. Miễn nhiệm Thừa hành viên
...
Điều 12. Bổ nhiệm lại Thừa hành viên
...
Điều 13. Đăng ký hành nghề và cấp, cấp lại Thẻ Thừa hành viên

Xem nội dung VB
Điều 29. Thừa hành viên
...
5. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa hành viên.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 đến Điều 13 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục 1, 2 Chương IV Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương IV THẨM QUYỀN, PHẠM VI, THỦ TỤC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA THỪA HÀNH VIÊN

Mục 1. TỐNG ĐẠT

Điều 22. Thẩm quyền, phạm vi tống đạt của Thừa hành viên
...
Điều 23. Thỏa thuận về tống đạt
...
Điều 24. Trình tự, thủ tục tống đạt
...
Điều 25. Thông báo kết quả tống đạt
...
Mục 2. LẬP VI BẰNG

Điều 26. Thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng
...
Điều 27. Giá trị pháp lý của vi bằng
...
Điều 28. Các trường hợp không được lập vi bằng
...
Điều 29. Thỏa thuận về việc lập vi bằng
...
Điều 30. Nội dung, hình thức, thủ tục lập vi bằng
...
Điều 31. Sửa lỗi kỹ thuật vi bằng
...
Điều 32. Cấp bản sao vi bằng

Xem nội dung VB
Điều 30. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa hành viên
...
1. Thừa hành viên được thực hiện các công việc sau đây:
...
c) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu;

d) Lập vi bằng theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
...
4. Thực hiện các công việc quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục 1, 2 Chương IV Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Điều 39. Quyền yêu cầu thi hành án
...
Điều 40. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền tổ chức thi hành án
...
Điều 41. Thỏa thuận về việc tổ chức thi hành án
...
Điều 42. Ra quyết định thi hành án, trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án dân sự
...
Điều 44. Chuyển hồ sơ thi hành án giữa cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự
...
Điều 45. Trách nhiệm phối hợp giữa văn phòng thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự trong tổ chức thi hành án
...
Điều 46. Chấm dứt tổ chức thi hành án

Xem nội dung VB
Điều 31. Việc tổ chức thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên

1. Văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với những bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật này trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở, trừ quy định tại điểm k khoản 1 Điều 32 và khoản 2 Điều 33 của Luật này.

Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền tổ chức thi hành án giữa cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp quyết định.

2. Việc yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật này.

Trong cùng một bản án, quyết định mà các đương sự yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự khác nhau tổ chức thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm phối hợp trong quá trình tổ chức thi hành án.

3. Thỏa thuận về việc tổ chức thi hành án giữa người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự được thể hiện dưới hình thức hợp đồng dịch vụ.

Người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận về thù lao, chi phí thi hành án và các chi phí khác (nếu có).

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án.

Quy định tại Chương III của Luật này được áp dụng trong trường hợp văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án như Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; Thừa hành viên thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án như Chấp hành viên. Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên không được áp dụng các quy định liên quan đến ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các quy định liên quan đến trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

5. Việc thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt và các bên thanh lý hợp đồng dịch vụ trong các trường hợp sau đây:

a) Có căn cứ quy định tại Điều 55 của Luật này;

b) Theo thỏa thuận chấm dứt việc thi hành án giữa văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu thi hành án;

c) Có căn cứ xác định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này, trừ trường hợp văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu có thỏa thuận khác;

d) Người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;

đ) Người phải thi hành án yêu cầu thi hành án mà không thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ theo bản án, quyết định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án, trừ thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Sau khi thanh lý hợp đồng, người phải thi hành án không được yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.

6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều này, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, trừ trường hợp người yêu cầu không đồng ý. Việc giao, nhận hồ sơ thi hành án được lập thành biên bản.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

Kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật được công nhận và sử dụng. Văn phòng thi hành án dân sự chịu trách nhiệm đối với các thủ tục đã thực hiện.

7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng dịch vụ theo quy định tại khoản 5 Điều này, văn phòng thi hành án dân sự phải thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân sự cùng địa bàn tỉnh, thành phố.

8. Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện các quyết định về thi hành án, văn bản, đề nghị của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên khi tổ chức thi hành án.

9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 58 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Điều 58. Điều khoản chuyển tiếp

1. Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, việc đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành văn phòng thi hành án dân sự quy định tại khoản 5 Điều 116 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện theo trình tự, thủ tục của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan; việc đổi Thẻ Thừa phát lại thành Thẻ Thừa hành viên quy định tại khoản 5 Điều 116 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện theo trình tự, thủ tục tại khoản 4 Điều 13 Nghị định này.

Việc đổi Thẻ Thừa phát lại phải thực hiện đồng thời hoặc sau khi đã thực hiện đổi tên Văn phòng Thừa phát lại.

Xem nội dung VB
Điều 116. Điều khoản chuyển tiếp
...
5. Thừa phát lại được bổ nhiệm trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động, không cần bổ nhiệm lại nhưng phải đổi thẻ Thừa hành viên trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.

Văn phòng thừa phát lại được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động nhưng phải thực hiện thủ tục đổi tên thành "văn phòng thi hành án dân sự” trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.

Kết quả thực hiện việc tổ chức thi hành án của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được công nhận và không phải thực hiện lại theo quy định của Luật này.

Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tiếp tục thực hiện các công việc của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại theo quy định của pháp luật.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 58 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa hành viên

1. Các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

2. Các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa hành viên hằng năm;

b) Mặc trang phục Thừa hành viên khi hành nghề; xuất trình Thẻ Thừa hành viên khi hành nghề;

c) Tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Thừa hành viên (nếu có); chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, văn phòng thi hành án dân sự nơi đang hành nghề và tổ chức xã hội - nghề nghiệp nơi Thừa hành viên là thành viên.

Xem nội dung VB
Điều 30. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa hành viên

1. Thừa hành viên được thực hiện các công việc sau đây:

a) Tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này;

b) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

c) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu;

d) Lập vi bằng theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

đ) Thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật.

2. Khi tổ chức thi hành án dân sự, Thừa hành viên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức thi hành vụ việc được phân công;

b) Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

c) Yêu cầu đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến văn phòng thi hành án dân sự để giải quyết việc thi hành án;

d) Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án theo quy định của Luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Thừa hành viên có quyền xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở.

Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên có nghĩa vụ thanh toán chi phí (nếu có) theo quy định của pháp luật khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo quy định của Luật này;

đ) Đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản;

e) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật;

g) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

3. Khi thực hiện xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu, Thừa hành viên thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.

4. Thực hiện các công việc quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này theo quy định của Chính phủ.

5. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Thừa hành viên tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và trước pháp luật về việc thực hiện công việc của mình.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục 3 Chương IV Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương IV THẨM QUYỀN, PHẠM VI, THỦ TỤC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA THỪA HÀNH VIÊN
...
Mục 3. XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN

Điều 33. Thẩm quyền, phạm vi xác minh điều kiện thi hành án
...
Điều 34. Thỏa thuận về xác minh điều kiện thi hành án
...
Điều 35. Ra quyết định xác minh và trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án
...
Điều 36. Bảo mật thông tin xác minh điều kiện thi hành án
...
Điều 37. Ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án
...
Điều 38. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án

Xem nội dung VB
Điều 30. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa hành viên
...
2. Khi tổ chức thi hành án dân sự, Thừa hành viên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
...
d) Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án theo quy định của Luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Thừa hành viên có quyền xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở.

Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên có nghĩa vụ thanh toán chi phí (nếu có) theo quy định của pháp luật khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo quy định của Luật này;
...
3. Khi thực hiện xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu, Thừa hành viên thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục 3 Chương IV Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 47, 48, 49 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương IV THẨM QUYỀN, PHẠM VI, THỦ TỤC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA THỪA HÀNH VIÊN
...
Mục 5. CƠ SỞ DỮ LIỆU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA HÀNH VIÊN; LƯU TRỮ HỒ SƠ

Điều 47. Cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên
...
Điều 48. Cập nhật, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên
...
Điều 49. Kết nối, chia sẻ, cung cấp thông tin trong cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên

Xem nội dung VB
Điều 5. Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự

1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp quản lý, được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác có trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự về việc truy cập, khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu đó để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

Việc kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 47, 48, 49 Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Chi phí thực hiện công việc của Thừa hành viên được hướng dẫn bởi Mục 6 Chương IV Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương IV THẨM QUYỀN, PHẠM VI, THỦ TỤC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA THỪA HÀNH VIÊN
...
Mục 6. CHI PHÍ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA THỪA HÀNH VIÊN

Điều 52. Chi phí thực hiện công việc của Thừa hành viên

Chi phí thực hiện công việc của Thừa hành viên được thực hiện theo thỏa thuận giữa văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu.

Điều 53. Chi phí tống đạt

1. Chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự do Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự thỏa thuận với văn phòng thi hành án dân sự và ghi nhận trong hợp đồng được ký kết giữa 02 bên phù hợp với khung mức chi phí quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Khung mức chi phí tống đạt như sau:

a) Tối thiểu là 120.000 đồng/lần tống đạt hợp lệ và tối đa là 240.000 đồng/lần tống đạt hợp lệ, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Trường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng đặt trụ sở, mở chi nhánh hoặc ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn thì Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự thỏa thuận với văn phòng thi hành án dân sự về chi phí tống đạt, bao gồm: chi phí phát sinh thực tế nhưng không vượt quá chế độ công tác phí theo quy định của pháp luật áp dụng đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; tiền công theo ngày làm việc của người thực hiện việc tống đạt nhưng không vượt quá mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Chi phí tống đạt quy định tại khoản này bao gồm cả chi phí thực hiện niêm yết công khai trong trường hợp không thể tống đạt trực tiếp, phải niêm yết công khai theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật về thi hành án dân sự.

3. Thanh toán chi phí tống đạt được thực hiện như sau:

a) Việc thanh toán chi phí tống đạt được thực hiện hằng tháng. Văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm lập và giao hóa đơn dịch vụ cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hóa đơn, chứng từ hợp lệ, các cơ quan trên có trách nhiệm hoàn tất thủ tục, hồ sơ thanh toán theo quy định của pháp luật gửi Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản để thanh toán chi phí tống đạt cho văn phòng thi hành án dân sự;

b) Đối với việc tống đạt mà theo quy định của pháp luật đương sự phải chịu chi phí thì Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự thu và chuyển số tiền đó cho văn phòng thi hành án dân sự.

Trường hợp chưa thu được tiền của đương sự thì cơ quan thi hành án dân sự tạm ứng trước kinh phí để thanh toán cho văn phòng thi hành án dân sự từ nguồn dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm đôn đốc thu hồi khoản tiền tống đạt mà đương sự phải nộp để hoàn trả cho ngân sách nhà nước;

c) Trường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự, nếu vụ việc được ủy thác thì cơ quan thi hành án dân sự đã chuyển giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho Thừa hành viên tống đạt phải thanh toán chi phí tống đạt đã thực hiện. Trường hợp đương sự phải chịu chi phí tống đạt nhưng chưa thu được thì cơ quan thi hành án dân sự ủy thác phải có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy thác thu hồi chi phí tống đạt của đương sự;

d) Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán chi phí tống đạt theo quy định của pháp luật.

4. Hằng năm, căn cứ vào khối lượng công việc của năm trước, mức chi phí quy định tại Điều này và công việc dự kiến thực hiện cho năm kế hoạch, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự lập dự toán kinh phí tống đạt để tổng hợp chung vào dự toán ngân sách của cơ quan mình gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, trong đó tách riêng làm 02 phần:

a) Kinh phí trong trường hợp ngân sách nhà nước chi trả;

b) Kinh phí tạm ứng trong trường hợp đương sự phải chi trả.

5. Kinh phí tống đạt văn bản, hồ sơ, tài liệu của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự được bố trí trong dự toán chi ngân sách nhà nước hằng năm theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí tống đạt thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 54. Chi phí lập vi bằng, chi phí xác minh điều kiện thi hành án, chi phí tổ chức thi hành án

1. Chi phí lập vi bằng, chi phí xác minh điều kiện thi hành án, chi phí tổ chức thi hành án do người yêu cầu và văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận bao gồm: thù lao thực hiện công việc; chi phí đi lại, lưu trú; chi phí theo quy định của pháp luật khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật (nếu có); chi phí cho người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác (nếu có).

2. Trường hợp văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án thì chi phí xác minh điều kiện thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu thỏa thuận hoặc được tính vào chi phí thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án

1. Đương sự yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án theo quy định của pháp luật.

Người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản tiền, tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án hoặc trong thời hạn tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người phải thi hành án trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản phải thi hành theo quy định của Luật này.

2. Chi phí thi hành án là các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án, bao gồm chi phí cưỡng chế và chi phí khác. Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định do ngân sách nhà nước, người được thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chịu.

3. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;

b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;

c) Chi phí cho việc thẩm định giá, xác định giá, giám định tài sản, bán tài sản; chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi phí xác minh, thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;

đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;

e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án;

g) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.

4. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại hoặc trường hợp hoãn thi hành án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 của Luật này dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực;

b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ;

c) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.

5. Ngân sách nhà nước trả chi phí thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 82 của Luật này;

b) Xác minh điều kiện thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế;

c) Đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;

d) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

6. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.

7. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán tài sản. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.

8. Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí bảo đảm cho việc tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án.

9. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 1 Chương III Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương III QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KINH PHÍ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH ĐỂ THI HÀNH ÁN

Mục 1. QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KINH PHÍ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 78. Nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự
...
Điều 79. Nội dung chi từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ chi theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự
...
Điều 80. Chi phí thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả
...
Điều 81. Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu
...
Điều 82. Chi phí thi hành án do người được thi hành án chịu
...
Điều 83. Chi phí thi hành án do người thứ ba chịu
...
Điều 84. Mức chi phí thi hành án dân sự
...
Điều 85. Nộp chi phí thi hành án
...
Điều 86. Tạm ứng chi phí cưỡng chế
...
Điều 87. Miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án

1. Đương sự yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án theo quy định của pháp luật.

Người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản tiền, tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án hoặc trong thời hạn tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người phải thi hành án trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản phải thi hành theo quy định của Luật này.

2. Chi phí thi hành án là các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án, bao gồm chi phí cưỡng chế và chi phí khác. Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định do ngân sách nhà nước, người được thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chịu.

3. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;

b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;

c) Chi phí cho việc thẩm định giá, xác định giá, giám định tài sản, bán tài sản; chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi phí xác minh, thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;

đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;

e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án;

g) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.

4. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại hoặc trường hợp hoãn thi hành án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 của Luật này dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực;

b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ;

c) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.

5. Ngân sách nhà nước trả chi phí thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 82 của Luật này;

b) Xác minh điều kiện thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế;

c) Đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;

d) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

6. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.

7. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán tài sản. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.

8. Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí bảo đảm cho việc tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án.

9. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.
Chi phí thực hiện công việc của Thừa hành viên được hướng dẫn bởi Mục 6 Chương IV Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 1 Chương III Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của thừa hành viên được hướng dẫn bởi Chương V Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
...
Chương V QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA HÀNH VIÊN

Điều 55. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp và các bộ có liên quan

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp:

a) Ban hành chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên;

b) Phổ biến, giáo dục pháp luật về văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

c) Hướng dẫn, phối hợp với các địa phương trong việc quản lý tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

d) Hướng dẫn chế độ báo cáo thống kê tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; quản lý tập trung, thống nhất cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

đ) Quản lý và thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Thừa hành viên;

e) Tổng kết công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

g) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

2. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn trại giam, trại tạm giam về việc thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án phải nộp trong trường hợp người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù đối với vụ việc do văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành.

Điều 56. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tại địa phương, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận tương đương đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên; quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên;

b) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm của Thừa hành viên, văn phòng thi hành án dân sự theo thẩm quyền;

c) Chỉ đạo, hướng dẫn việc cung cấp, cập nhật thông tin cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên trên địa bàn theo quy định;

d) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan.

2. Sở Tư pháp chịu trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tại địa phương; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan.

Sở Tư pháp cập nhật thông tin về tổ chức, hoạt động hành nghề của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên vào cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên.

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện các biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự;

b) Chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

c) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

d) Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự.
Quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của thừa hành viên được hướng dẫn bởi Chương V Nghị định 151/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự.
...
Điều 4. Tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

1. Người được bổ nhiệm Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

a) Tiêu chuẩn đối với chức danh công chức lãnh đạo, quản lý theo quy định;

b) Có kinh nghiệm thực tiễn về thi hành án dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự;

c) Có năng lực điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;

d) Là Chấp hành viên trung cấp trở lên hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Người được bổ nhiệm Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

a) Tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;

b) Là Chấp hành viên trung cấp trở lên hoặc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 hoặc quy định tại khoản 6 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức các chức danh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

4. Tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Xem nội dung VB
Điều 22. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
...
3. Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể phân công, ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp không được ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc phân công, ủy quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân công, ủy quyền, trừ trường hợp người được phân công, ủy quyền thực hiện không đúng nội dung, phạm vi, thời hạn đã được phân công, ủy quyền.

Người được phân công, ủy quyền phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đã được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, ủy quyền.
...
5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này và tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 đến Điều 13 Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự.
...
Điều 5. Thời gian làm công tác pháp luật

Thời gian làm công tác pháp luật quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 6 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự được xác định như sau:

1. Là thời gian làm việc tại các vị trí việc làm trong hệ thống thi hành án dân sự hoặc các cơ quan, tổ chức khác có yêu cầu trình độ cử nhân luật trở lên.

Trường hợp các cơ quan, tổ chức không có vị trí việc làm theo quy định tại khoản này thì thời gian làm công tác pháp luật là thời gian thực tế thực hiện các công việc liên quan đến pháp luật.

2. Trường hợp thời gian làm công tác pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này mà không liên tục thì được cộng dồn.

Điều 6. Thi tuyển Chấp hành viên

1. Người tham dự thi tuyển Chấp hành viên phải đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong thời gian 03 năm gần nhất tính đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thi tuyển đối với công chức, viên chức trong hệ thống thi hành án dân sự hoặc các cơ quan, tổ chức khác.

Trường hợp các cơ quan, tổ chức không có quy định về việc đánh giá, xếp loại hằng năm tại khoản này thì phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức đó về việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao;

c) Chưa từng bị cách chức Chấp hành viên;

d) Không thuộc một trong các trường hợp sau đây: đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật nhưng chưa có kết luận, quyết định cuối cùng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trường hợp khác theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng, Ban giám sát và ban hành Kế hoạch tổ chức thi tuyển Chấp hành viên.

Điều 7. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ thi tuyển Chấp hành viên

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện tiếp nhận, kiểm tra và gửi hồ sơ thi tuyển Chấp hành viên đến Cục Quản lý Thi hành án dân sự. Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường số.

2. Cục Quản lý Thi hành án dân sự tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ thi tuyển; thông báo danh sách những người đủ điều kiện tham dự thi tuyển Chấp hành viên.

3. Hồ sơ thi tuyển Chấp hành viên gồm:

a) Đơn tham dự thi tuyển của người dự thi;

b) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố hoặc của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;

c) Xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức về thời gian làm công tác pháp luật và kết quả thực hiện nhiệm vụ của người dự thi trong 03 năm gần nhất tính đến ngày nộp hồ sơ đăng ký dự thi;

d) Bản sao các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu vị trí việc làm;

đ) Trường hợp các tài liệu quy định tại điểm c và điểm d khoản này đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tồn tại trong cơ sở dữ liệu quốc gia thì được sử dụng để thay thế bản giấy tương ứng.

Điều 8. Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên và Ban giám sát

1. Thành phần Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định gồm 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng và các Ủy viên. Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo Bộ Tư pháp hoặc lãnh đạo Cục Quản lý Thi hành án dân sự được lãnh đạo Bộ Tư pháp ủy quyền.

2. Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp tổ chức thi tuyển Chấp hành viên và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thông báo kế hoạch thi tuyển; nội quy, quy chế thi; môn thi, hình thức thi, thời gian thi, địa điểm thi;

b) Căn cứ vào hình thức thi và yêu cầu công việc, Chủ tịch Hội đồng quyết định việc thành lập bộ phận giúp việc phù hợp trong số các bộ phận sau: Ban đề thi, Ban coi thi, Ban phách, Ban chấm thi, Ban chấm phúc khảo (nếu có), Tổ thư ký giúp việc;

c) Chỉ đạo và tổ chức thi; báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận kết quả kỳ thi;

d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi tuyển.

3. Hội đồng được sử dụng con dấu của Bộ Tư pháp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

4. Ban giám sát gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Điều 9. Nội dung, hình thức thi, cách tính điểm, cách xác định người trúng tuyển

1. Người thi tuyển Chấp hành viên phải tham gia các bài thi gồm:

a) Bài thi pháp luật về thi hành án dân sự;

b) Bài thi kỹ năng thi hành án dân sự.

2. Hình thức thi: Thi viết hoặc thi trắc nghiệm trên máy vi tính.

3. Nội dung, hình thức thi, cách tính điểm, cách xác định người trúng tuyển, thủ tục thông báo và công nhận kết quả kỳ thi thực hiện theo Kế hoạch thi tuyển do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành.

Điều 10. Bổ nhiệm Chấp hành viên

1. Bổ nhiệm Chấp hành viên qua thi tuyển:

Căn cứ danh sách trúng tuyển, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có văn bản đề nghị bổ nhiệm Chấp hành viên kèm theo hồ sơ đề nghị bổ nhiệm đến Cục Quản lý Thi hành án dân sự. Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường số, bao gồm:

a) Sơ yếu lý lịch theo mẫu có xác nhận của cơ quan quản lý công chức hoặc theo quy định của Bộ Quốc phòng đối với trường hợp bổ nhiệm Chấp hành viên trong quân đội;

b) Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp trong thời hạn 06 tháng;

c) Bản kê khai tài sản, thu nhập.

2. Cục Quản lý Thi hành án dân sự tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Chấp hành viên. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định bổ nhiệm Chấp hành viên; trường hợp từ chối thì trả lời bằng văn bản cho cơ quan đề nghị quy định tại khoản 1 Điều này và nêu rõ lý do.

Trường hợp cần thiết phải xác minh thông tin, tài liệu trong hồ sơ thì thời gian thực hiện xác minh không tính vào thời hạn quy định tại khoản này.

3. Trường hợp bổ nhiệm Chấp hành viên theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ gửi Cục Quản lý Thi hành án dân sự.

Cục Quản lý Thi hành án dân sự tiếp nhận, kiểm tra, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 11. Trình tự, thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên

1. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng gửi hồ sơ đề nghị miễn nhiệm Chấp hành viên đến Cục Quản lý Thi hành án dân sự. Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường số, bao gồm:

a) Văn bản đề nghị miễn nhiệm Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố hoặc của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;

b) Đơn xin miễn nhiệm Chấp hành viên (nếu có), trong đó nêu rõ lý do của việc xin miễn nhiệm Chấp hành viên;

c) Các tài liệu chứng minh lý do xin miễn nhiệm Chấp hành viên (nếu có).

2. Cục Quản lý Thi hành án dân sự tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ đề nghị miễn nhiệm Chấp hành viên. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên; trường hợp từ chối thì trả lời bằng văn bản cho cơ quan đề nghị quy định tại khoản 1 Điều này và nêu rõ lý do.

Trường hợp cần thiết phải xác minh thông tin, tài liệu trong hồ sơ thì thời gian thực hiện xác minh không tính vào thời hạn quy định tại khoản này.

Điều 12. Trình tự, thủ tục cách chức Chấp hành viên

1. Trình tự, thủ tục cách chức Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố được thực hiện như sau:

a) Khi có căn cứ cách chức Chấp hành viên theo quy định tại khoản 9 Điều 24 của Luật Thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tổ chức họp kiểm điểm, thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo;

b) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có văn bản đề nghị cách chức Chấp hành viên kèm theo hồ sơ đến Cục Quản lý Thi hành án dân sự. Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường số, bao gồm các tài liệu trong quá trình thực hiện trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật theo quy định.

Cục Quản lý Thi hành án dân sự tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Quản lý Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cách chức Chấp hành viên; trường hợp từ chối thì trả lời bằng văn bản cho cơ quan đề nghị quy định tại khoản 1 Điều này và nêu rõ lý do.

Trường hợp cần thiết phải xác minh thông tin, tài liệu trong hồ sơ thì thời gian thực hiện xác minh không tính vào thời hạn quy định tại khoản này.

2. Trình tự, thủ tục cách chức Chấp hành viên trong quân đội thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng. Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng gửi hồ sơ đề nghị cách chức Chấp hành viên để Cục Quản lý Thi hành án dân sự báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cách chức Chấp hành viên.

Điều 13. Bố trí công tác sau miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên

1. Sau khi công chức bị miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố xem xét, bố trí công tác phù hợp với vị trí việc làm theo yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, phù hợp với năng lực, sở trường, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo của công chức. Công chức có trách nhiệm chấp hành quyết định phân công của cấp có thẩm quyền.

2. Việc bố trí công tác sau miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên trong quân đội thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Xem nội dung VB
Điều 24. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên

1. Công chức được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp phải có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;

b) Có trình độ cử nhân luật trở lên;

c) Có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên;

d) Đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự;

đ) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên.

2. Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp phải đáp ứng một trong các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên và đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm Chấp hành viên trung cấp;

b) Chấp hành viên sơ cấp được bổ nhiệm Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực, Trưởng phòng Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự.

3. Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên cao cấp phải đáp ứng một trong các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:

a) Có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên và đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm Chấp hành viên cao cấp;

b) Chấp hành viên trung cấp được bổ nhiệm Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

4. Sỹ quan quân đội tại ngũ được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp trong quân đội phải có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này.

Điều kiện, tiêu chuẩn để được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp trong quân đội thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự, người đã từng là Chấp hành viên nhưng được điều động, bố trí vào vị trí việc làm khác và có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên ở ngạch tương đương.

6. Trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp, từ 15 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên cao cấp.

Trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực, người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp, từ 10 năm trở lên thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp.

7. Chấp hành viên đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác đến cơ quan khác hoặc được bố trí vào vị trí việc làm khác.

8. Chấp hành viên có thể bị xem xét miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

a) Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên;

b) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà không còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên;

c) Theo nguyện vọng của Chấp hành viên.

9. Chấp hành viên có thể bị cách chức khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án chưa đến mức bị buộc thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy cần phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức;

b) Vi phạm nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này mà xét thấy cần thiết phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức.

10. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 đến Điều 13 Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19, Điều 20, Điều 21 Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự.
...
Điều 19. Đối tượng và loại công cụ hỗ trợ được trang bị, sử dụng trong thi hành án dân sự

1. Cơ quan thi hành án dân sự được trang bị công cụ hỗ trợ để cấp cho Chấp hành viên sử dụng theo quy định của pháp luật.

2. Các loại công cụ hỗ trợ gồm:

a) Dùi cui điện, dùi cui cao su, găng tay điện, áo giáp;

b) Phương tiện xịt hơi cay, chất gây mê;

c) Súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, chất gây mê và đạn sử dụng cho các loại súng này.

Điều 20. Lập kế hoạch và trang bị công cụ hỗ trợ thi hành án

1. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Nghị định này, hằng năm, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố lập kế hoạch trang bị công cụ hỗ trợ trình Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự xem xét, quyết định.

Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự quyết định số lượng, chủng loại công cụ hỗ trợ trang bị cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố giao công cụ hỗ trợ cho Chấp hành viên sử dụng khi thi hành công vụ; khi giao phải lập danh sách, có phiếu giao nhận của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố cho người sử dụng.

3. Việc trang bị công cụ hỗ trợ thi hành án đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Điều 21. Mua, vận chuyển, sửa chữa, quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ thi hành án

1. Việc mua, vận chuyển, sửa chữa, quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ được thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

2. Việc mua, vận chuyển, sửa chữa, quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ thi hành án đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Xem nội dung VB
Điều 25. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
...
9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19, Điều 20, Điều 21 Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 2 Chương I, Chương III, Chương IV Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự.
...
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
...
Điều 2. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự
...
Chương III THẺ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ, TRANG PHỤC, PHÙ HIỆU, CẤP HIỆU CỦA CHẤP HÀNH VIÊN, THẨM TRA VIÊN, NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 18. Thẻ Chấp hành viên, Thẩm tra viên
...
Điều 19. Đối tượng và loại công cụ hỗ trợ được trang bị, sử dụng trong thi hành án dân sự
...
Điều 20. Lập kế hoạch và trang bị công cụ hỗ trợ thi hành án
...
Điều 21. Mua, vận chuyển, sửa chữa, quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ thi hành án
...
Điều 22. Thanh lý, tiêu hủy công cụ hỗ trợ thi hành án
...
Điều 23. Phù hiệu, cấp hiệu thi hành án dân sự
...
Điều 24. Đối tượng được cấp phù hiệu, cấp hiệu thi hành án dân sự
...
Điều 25. Cấp hiệu đối với công chức và người làm công tác thi hành án khác
...
Điều 26. Trang phục của người làm công tác thi hành án dân sự
...
Điều 27. Niên hạn, cấp phát, sử dụng trang phục, phù hiệu, cấp hiệu thi hành án dân sự
...
Chương IV BIỆN PHÁP BẢO VỆ CƠ QUAN, NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 28. Cơ quan, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự được bảo vệ
...
Điều 29. Các biện pháp bảo vệ
...
Điều 30. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro, loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm

Xem nội dung VB
Điều 9. Bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự

1. Nhà nước bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, kinh phí, trụ sở làm việc, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác và nguồn lực chuyển đổi số cho hệ thống thi hành án dân sự; công cụ hỗ trợ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

Khoán phí thi hành án dân sự và các khoản thu hợp pháp khác của cơ quan thi hành án dân sự được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước. Sau khi nộp ngân sách nhà nước, khoản phí thi hành án dân sự và các khoản thu hợp pháp khác được bố trí tương ứng cho cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện các nhiệm vụ chi tăng cường, hiện đại hóa trụ sở làm việc, chuyển đổi số, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác và các hoạt động nghiệp vụ đặc thù phục vụ công tác quản lý thi hành án dân sự, công tác thi hành án dân sự.

2. Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác thi hành án khác trong hệ thống thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, thẻ để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác.

3. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được bảo vệ an ninh, an toàn, trật tự về trụ sở, phương tiện, tài liệu, tài sản.

Người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự được bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật, an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân, tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 2 Chương I, Chương III, Chương IV Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 17 Chương II; Chương III Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự.
...
Chương II CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, THỦ TRƯỞNG, PHÓ THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, CHẤP HÀNH VIÊN, THẨM TRA VIÊN, THƯ KÝ THI HÀNH ÁN
...
Điều 17. Lương và phụ cấp của Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và những người làm công tác thi hành án khác

1. Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự được hưởng tiền lương, phụ cấp trách nhiệm theo nghề và chế độ ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.

2. Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, cán bộ, công chức quốc phòng và quân nhân chuyên nghiệp làm công tác thi hành án dân sự trong quân đội được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề và chế độ ưu đãi khác.
...
Chương IV BIỆN PHÁP BẢO VỆ CƠ QUAN, NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 28. Cơ quan, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự được bảo vệ

1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được bảo vệ an ninh, an toàn, trật tự, uy tín, sự tôn nghiêm; bảo vệ an toàn về tài sản, hồ sơ, tài liệu, phương tiện, trang thiết bị làm việc, kho quản lý tài sản thi hành án, tài liệu, đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án, vụ việc.

2. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi chung là người thi hành công vụ) được bảo vệ vị trí công tác, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật, an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân; tính mạng, sức khoẻ, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác.

Điều 29. Các biện pháp bảo vệ

1. Đối với cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự

a) Được bố trí lực lượng bảo vệ và các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật;

b) Khi tổ chức thi hành án ngoài trụ sở hoặc trong trường hợp cưỡng chế thi hành án hoặc vụ việc phức tạp, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm xây dựng phương án bảo vệ; chủ động phối hợp hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bố trí lực lượng bảo vệ;

c) Khi có hành vi xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm thì kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý và yêu cầu khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.

2. Đối với người thi hành công vụ:

a) Có quyền từ chối thực hiện yêu cầu trái pháp luật; báo cáo, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định khi bị xúc phạm uy tín, nhân phẩm, danh dự, bị trả thù, trù dập; trường hợp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự thì được bảo vệ, phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp và bồi thường theo quy định của pháp luật;

c) Trường hợp cần thiết, yêu cầu cá nhân, tổ chức áp dụng biện pháp bảo mật thông tin, hạn chế tiếp cận dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

d) Được áp dụng biện pháp bảo vệ khi có căn cứ bị đe dọa hoặc xâm hại liên quan đến việc thi hành công vụ, bao gồm bố trí lực lượng bảo vệ, ngăn chặn việc tiếp cận trái pháp luật, bảo vệ nơi ở, nơi làm việc khi cần thiết và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 30. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro, loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm

Người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án dân sự được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo quy định của pháp luật về hình sự, trách nhiệm bồi thường nhà nước, xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, pháp luật khác có liên quan.

Xem nội dung VB
Điều 9. Bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự
...
2. Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác thi hành án khác trong hệ thống thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, thẻ để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 17 Chương II; Chương III Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Chương IV Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự.
...
Chương IV BIỆN PHÁP BẢO VỆ CƠ QUAN, NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 28. Cơ quan, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự được bảo vệ

1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được bảo vệ an ninh, an toàn, trật tự, uy tín, sự tôn nghiêm; bảo vệ an toàn về tài sản, hồ sơ, tài liệu, phương tiện, trang thiết bị làm việc, kho quản lý tài sản thi hành án, tài liệu, đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án, vụ việc.

2. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi chung là người thi hành công vụ) được bảo vệ vị trí công tác, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật, an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân; tính mạng, sức khoẻ, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác.

Điều 29. Các biện pháp bảo vệ

1. Đối với cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự

a) Được bố trí lực lượng bảo vệ và các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật;

b) Khi tổ chức thi hành án ngoài trụ sở hoặc trong trường hợp cưỡng chế thi hành án hoặc vụ việc phức tạp, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm xây dựng phương án bảo vệ; chủ động phối hợp hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bố trí lực lượng bảo vệ;

c) Khi có hành vi xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm thì kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý và yêu cầu khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.

2. Đối với người thi hành công vụ:

a) Có quyền từ chối thực hiện yêu cầu trái pháp luật; báo cáo, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định khi bị xúc phạm uy tín, nhân phẩm, danh dự, bị trả thù, trù dập; trường hợp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự thì được bảo vệ, phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp và bồi thường theo quy định của pháp luật;

c) Trường hợp cần thiết, yêu cầu cá nhân, tổ chức áp dụng biện pháp bảo mật thông tin, hạn chế tiếp cận dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

d) Được áp dụng biện pháp bảo vệ khi có căn cứ bị đe dọa hoặc xâm hại liên quan đến việc thi hành công vụ, bao gồm bố trí lực lượng bảo vệ, ngăn chặn việc tiếp cận trái pháp luật, bảo vệ nơi ở, nơi làm việc khi cần thiết và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 30. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro, loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm

Người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án dân sự được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo quy định của pháp luật về hình sự, trách nhiệm bồi thường nhà nước, xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, pháp luật khác có liên quan.

Xem nội dung VB
Điều 9. Bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự
...
3. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được bảo vệ an ninh, an toàn, trật tự về trụ sở, phương tiện, tài liệu, tài sản.

Người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự được bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật, an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân, tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Khoản này được hướng dẫn bởi Chương IV Nghị định 150/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 9. Yêu cầu thi hành án

1. Đương sự thực hiện việc yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Gửi yêu cầu trên môi trường số qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp, ứng dụng VNeID hoặc phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật;

b) Trực tiếp nộp đơn yêu cầu hoặc trình bày bằng lời nói. Trường hợp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản, chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu;

c) Gửi đơn yêu cầu qua dịch vụ bưu chính;

d) Hình thức khác theo quy định của pháp luật.

2. Yêu cầu thi hành án phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Thông tin của người yêu cầu, người được thi hành án, người phải thi hành án, bao gồm: họ, tên; địa chỉ; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân, số định danh cơ quan, tổ chức; mã số doanh nghiệp, hợp tác xã, số điện thoại (nêu có);

b) Ngày, tháng, năm yêu cầu thi hành án;

c) Tên cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu;

d) Số, ngày, tháng, năm, cơ quan ra bản án, quyết định;

đ) Các khoản yêu cầu thi hành;

e) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (nếu có);

g) Trường hợp người yêu cầu là người được thi hành án thì ghi rõ số tài khoản ngân hàng để nhận tiền (nếu có);

h) Trường hợp yêu cầu thi hành án bằng hình thức quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì phải thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền về hình thức yêu cầu trên phương tiện đó; trường hợp yêu cầu thi hành án bằng hình thức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; nếu là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân đó;

i) Bản án, quyết định; tài liệu liên quan (nếu có). Trường hợp yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài thì phải cung cấp thông tin, tài liệu về việc Tòa án thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài hoặc việc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc hoặc thông tin, tài liệu khác chứng minh giá trị áp dụng, hiệu lực thi hành của phán quyết trọng tài theo quy định.

3. Ngày yêu cầu thi hành án là ngày gửi yêu cầu thành công trên các phương tiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; ngày cơ quan thi hành án dân sự nhận đơn hoặc lập biên bản trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hoặc ngày được ghi trên dấu của doanh nghiệp bưu chính nơi gửi trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

4. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải cấp phiếu nhận yêu cầu. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ vào sổ nhận yêu cầu thi hành án khi nội dung yêu cầu thi hành án và các tài liệu kèm theo chính xác, đầy đủ theo quy định.

5. Trường hợp bản án, quyết định tuyên thực hiện nghĩa vụ thi hành theo định kỳ hoặc theo các thời hạn khác nhau thì khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án đối với các kỳ tiếp theo, cơ quan thi hành án dân sự khai thác bản án, quyết định đã tiếp nhận để ra quyết định thi hành án và lập hồ sơ thi hành án, tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp nội dung yêu cầu thi hành án và các tài liệu kèm theo chưa chính xác, chưa đầy đủ thì trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận yêu cầu, cơ quan thi hành án dân sự thông báo để người yêu cầu sửa đổi hoặc cung cấp bổ sung.

7. Cơ quan thi hành án dân sự không được từ chối yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Giao quyền sở hữu, sử dụng, quản lý tài sản mà tại thời điểm yêu cầu thi hành án, người được thi hành án không được trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản;

b) Giao quyền nuôi dưỡng người chưa thành niên mà tại thời điểm yêu cầu thi hành án, người được thi hành án không được trực tiếp nuôi dưỡng;

c) Giao quyền thăm nom, chăm sóc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người không có khả năng lao động mà tại thời điểm yêu cầu thi hành án, người được thi hành án không trực tiếp nuôi dưỡng, thăm nom, chăm sóc;

d) Nội dung yêu cầu đã được cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự.

8. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được thi hành án đối với khoản tiền, tài sản thuộc sở hữu nhà nước không yêu cầu thi hành án thì cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hoặc cơ quan đại diện chủ sở hữu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó có trách nhiệm chỉ đạo việc yêu cầu thi hành án.

Điều 10. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Đối với bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ thi hành theo định kỳ hoặc theo thời hạn thì thời hiệu yêu cầu thi hành án được áp dụng cho từng định kỳ hoặc từng thời hạn kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc không thể yêu cầu thi hành án trong thời hiệu thì đương sự có quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn.

Việc yêu cầu thi hành án quá hạn được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định này, nêu rõ lý do, kèm theo bản gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc dữ liệu điện tử các tài liệu chứng minh quy định tại Điều 3 Nghị định này về lý do không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn để đối chiếu.

3. Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án mà chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp; lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.

Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, xử lý tài sản để thi hành nghĩa vụ mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có.

Điều 11. Ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án theo yêu cầu đối với mỗi người phải thi hành án, trừ các trường hợp sau đây:

a) Bản án, quyết định tuyên nhiều người được nhận chung một tài sản, một khoản tiền cụ thể; chia tài sản chung, chia thừa kế, chia tài sản trong ly hôn hoặc tuyên các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì ra một quyết định thi hành án theo nội dung bản án, quyết định;

b) Thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới thì ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới. Trường hợp người phải thi hành án yêu cầu thi hành án và tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án thì ra một quyết định thi hành án đối với người phải thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp. Người phải thi hành án vẫn có trách nhiệm liên đới thi hành nghĩa vụ còn lại theo bản án, quyết định.

2. Đối với bản án, quyết định có ấn định một thời hạn cụ thể để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi nghĩa vụ đã đến hạn, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với bản án, quyết định ấn định nghĩa vụ được thực hiện theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến hạn.

Đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng theo định kỳ hằng tháng, quý thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến hạn hoặc sẽ đến hạn trong năm thi hành án. Quá trình thi hành án, người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện các nghĩa vụ đến hạn trừ trường hợp người có nghĩa vụ tự nguyện thi hành cả nghĩa vụ chưa đến hạn. Khi có bản án, quyết định của Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự về thay đổi mức cấp dưỡng mà vụ việc đang được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án đã ban hành và ra quyết định thi hành án theo mức cấp dưỡng mới. Việc thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện bắt đầu từ thời điểm được xác định tại bản án, quyết định mới của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc thi hành một lần đối với toàn bộ nghĩa vụ theo định kỳ hoặc theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho toàn bộ nghĩa vụ.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ hoặc theo thời hạn mà cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với các kỳ, thời hạn tiếp theo.

3. Việc ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án hành chính thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định này.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án về việc không tiếp tục tạm đình chỉ thi hành quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.
...
Điều 12. Quyết định thi hành án, hồ sơ thi hành án

1. Quyết định thi hành án phải có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, chức vụ của người ra quyết định;

b) Số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan ra bản án, quyết định;

c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án, người phải thi hành án và số định danh cá nhân, số định danh của cơ quan, tổ chức, mã số doanh nghiệp, hợp tác xã (nếu có);

d) Nghĩa vụ phải thi hành;

đ) Thời hạn tự nguyện thi hành án;

e) Chỉ dẫn để nộp tiền thi hành án (nếu có), hình thức thông báo thi hành án;

g) Nội dung khác có liên quan.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Chấp hành viên lập hồ sơ thi hành án.

Quyết định thi hành án, quyết định xử lý tài sản ủy thác là căn cứ để lập hồ sơ thi hành án. Mỗi quyết định thi hành án hoặc mỗi quyết định xử lý tài sản ủy thác lập thành một hồ sơ thi hành án.

Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án, quá trình xử lý tài sản ủy thác của Chấp hành viên, lưu giữ tất cả các tài liệu đã, đang thực hiện và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Hồ sơ thi hành án được thể hiện dưới dạng hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 34. Yêu cầu và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

1. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật này. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Cạnh tranh.

Việc yêu cầu thi hành án được thực hiện trên môi trường số hoặc trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua đường bưu điện.

2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật này.

3. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu, các tài liệu kèm theo và thông báo cho người yêu cầu.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án và bản án, quyết định, trừ trường hợp từ chối yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó.

4. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án, thông báo cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định;

b) Bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

c) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;

d) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án;

đ) Nội dung yêu cầu thi hành án đã có quyết định thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 22. Xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý như sau:

1. Đối với việc cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi để thống kê riêng.

Khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh và tổ chức thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Đối với việc cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo bằng văn bản về việc gửi lại yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu. Yêu cầu thi hành án và tài liệu kèm theo phải được sao chụp và lưu trong hồ sơ thi hành án.

Thông báo về việc gửi lại yêu cầu thi hành án phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.

Sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành. Trường hợp có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

Việc yêu cầu thi hành án trở lại thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 9 Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 38. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành
...
3. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 23 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 23. Công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đăng tải công khai thông tin tên, địa chỉ của người phải thi hành án, bản án, quyết định phải thi hành, quyết định thi hành án, nghĩa vụ chưa có điều kiện thi hành, lý do chưa có điều kiện thi hành án trên Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự; gửi quyết định chưa có điều kiện thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, có trụ sở hoặc nơi cư trú, có trụ sở cuối cùng của người phải thi hành án để niêm yết.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày xác định được thông tin về sự thay đổi tên, địa chỉ, nghĩa vụ và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đã công khai thông tin phải bổ sung, sửa đổi thông tin và công khai nội dung thay đổi.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án hoặc quyết định thu hồi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án hoặc có cơ sở xác định người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải chấm dứt việc công khai thông tin trên Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ thi hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án hoặc quyết định thu hồi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án hoặc thông tin về việc người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chấm dứt niêm yết công khai.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đăng tải, cập nhật, quản lý, khai thác, sử dụng, cung cấp thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 38. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành
...
2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 23 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 24. Bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án

1. Trường hợp người phải thi hành án, người thân thích của họ được giao bảo quản tài sản thì phải cam kết thực hiện đúng yêu cầu của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án.

2. Kho bạc Nhà nước được giao bảo quản tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự là Kho bạc Nhà nước quản lý địa bàn nơi có trụ sở của cơ quan thi hành án dân sự.

3. Trường hợp giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ bảo quản tài sản thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Hợp đồng phải có nội dung về chi phí, điều kiện bảo quản, trách nhiệm của bên nhận bảo quản và nội dung khác có liên quan.

Trường hợp có căn cứ xác định chi phí thuê bảo quản tài sản lớn hơn giá trị tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo và ấn định thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án tự bảo quản tài sản. Hết thời hạn đã ấn định, Chấp hành viên thanh lý hợp đồng với cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao bảo quản tài sản. Cơ quan thi hành án dân sự không chịu trách nhiệm về việc tài sản có mất mát, hư hỏng nếu người phải thi hành án không nhận hoặc không tự bảo quản tài sản.

4. Việc giao bảo quản tài sản phải được lập thành biên bản ghi rõ loại tài sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên, đương sự, người được giao bảo quản, người chứng kiến (nếu có); quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản; cam kết của người được giao bảo quản theo quy định tại khoản 1 Điều này và có chữ ký của các bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

Đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự thì biên bản ghi rõ: Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ; hiện trạng sử dụng đất; thời hạn giao quản lý, khai thác, sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.

Người được giao bảo quản tài sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự được trả thù lao, được thanh toán chi phí bảo quản tài sản.

5. Biên bản giao bảo quản tài sản được giao cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người được giao bảo quản tài sản hoặc người đang sử dụng, bảo quản tài sản.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao bảo quản tài sản có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật; thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên về việc bảo quản, lưu giữ, nhập, xuất tài sản.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao bảo quản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản, không bảo đảm các điều kiện bảo quản, không thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, cản trở việc tổ chức thi hành án thì Chấp hành viên giao cho tổ chức, cá nhân khác bảo quản.

Xem nội dung VB
Điều 40. Bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án

1. Việc giao bảo quản tài sản thi hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Trường hợp tài sản đang do người phải thi hành án hoặc người khác quản lý, sử dụng, bảo quản thì giao cho người đó bảo quản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Tài sản là vàng, bạc, đồ cổ, kim khí quý, đá quý, tiền mặt, ngoại tệ tiền mặt hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước;

c) Giao cho cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;

d) Do cơ quan thi hành án dân sự bảo quản;

đ) Trường hợp không thực hiện được việc giao bảo quản theo quy định tại các điểm a, c và d khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo quản trong thời gian chưa xử lý được tài sản.

2. Tài sản thi hành án là quyền sử dụng đất đang được khai thác, sử dụng thì người được giao bảo quản được tiếp tục khai thác, sử dụng tài sản đó.

3. Trường hợp phát sinh lợi tức thu được từ việc khai thác tài sản thì sau khi trừ các chi phí có liên quan, người được giao bảo quản tài sản phải nộp cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

4. Trong thời gian được giao bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án, người được giao không được chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản hoặc thực hiện các giao dịch khác liên quan đến tài sản; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản, làm thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng, mục đích sử dụng tài sản.

Người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 26, Điều 28 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 26. Ủy thác thi hành án

1. Căn cứ bản án, quyết định được thi hành hoặc kết quả xác minh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở theo quy định tại Điều 49 của Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp tài sản đang xử lý để thi hành án nhưng có tranh chấp và đã được Tòa án thụ lý giải quyết mà đương sự có tài sản ở địa phương khác thì ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản để thi hành án.

Trường hợp tài sản là tiền, tài sản số hoặc tài sản khác trong tài khoản thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án mà không ủy thác thi hành án.

2. Trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài sản ở nhiều tỉnh, thành phố thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ủy thác theo thứ tự sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

b) Nơi có tài sản ước tính đủ để thi hành án;

c) Nơi có tổng giá trị tài sản ước tính lớn nhất.

3. Quyết định ủy thác thi hành án phải ghi rõ khoản phải thi hành, khoản đã thi hành xong, khoản đang thi hành, khoản ủy thác và các thông tin cần thiết cho việc thực hiện ủy thác.

Khi gửi quyết định ủy thác thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải gửi kèm theo bản án, quyết định; biên bản kê biên, tạm giữ tài sản và các tài liệu khác có liên quan, nếu có.

4. Trường hợp người phải thi hành án không có tài sản hoặc không cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở ở địa phương thì cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác thực hiện theo quy định tại Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự; trường hợp xác định người phải thi hành án có tài sản hoặc cư trú, làm việc hoặc có trụ sở ở địa phương khác thì ủy thác tiếp cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có điều kiện thi hành.

5. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được từ chối thực hiện quyết định ủy thác thi hành án, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót về nội dung hoặc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.

6. Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau thì cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án.

7. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ được ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây khi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở tỉnh, thành phố khác:

a) Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;

b) Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;

c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;

d) Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

8. Sau khi thực hiện ủy thác thi hành án, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án hoặc bản án, quyết định khác có liên quan đến việc thi hành án đã ủy thác thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định đó, cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để xử lý theo quy định của pháp luật.
...
Điều 28. Thi hành nghĩa vụ liên đới

1. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới thì trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới.

Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người mà người được thi hành án có văn bản đồng ý cho một hoặc một số người phải thi hành án không thi hành phần nghĩa vụ của họ thì cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án phần nghĩa vụ của một hoặc một số người phải thi hành án đó. Những người phải thi hành án còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Xem nội dung VB
Điều 49. Ủy thác thi hành án

1. Cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở sau khi đã xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên trên địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này, trường hợp tài sản là tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản hoặc trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ về tài sản thì ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; trường hợp không xác định được nơi có tài sản thì ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này;
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 26, Điều 28 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 27, Điều 28 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 27. Ủy thác xử lý tài sản

1. Thủ tục ủy thác xử lý tài sản được thực hiện như sau:

a) Hồ sơ ủy thác xử lý tài sản bao gồm quyết định ủy thác xử lý tài sản; bản án, quyết định; quyết định thi hành án và các tài liệu khác có liên quan, nếu có;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác xử lý tài sản chuyển số tiền thu được cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác để thanh toán theo quy định tại Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự, sau khi trừ chi phí thi hành án, đồng thời, thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác;

c) Cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác xử lý tài sản chịu trách nhiệm toàn bộ về quá trình tổ chức thi hành vụ việc, trừ việc xử lý tài sản của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác; theo dõi việc xử lý tài sản của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.

Trường hợp xác định kết quả thẩm định giá, xác định giá, đấu giá tài sản đủ để thanh toán nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí liên quan hoặc có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án thì thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để tạm dừng việc xử lý các tài sản còn lại. Việc tiếp tục xử lý tài sản ủy thác được thực hiện theo thông báo của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác.

Trường hợp đã thu đủ số tiền thi hành án và các chi phí liên quan hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án thì thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để chấm dứt việc xử lý các tài sản còn lại, giải tỏa kê biên tài sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác phải thanh toán các chi phí thi hành án phát sinh trước thời điểm chấm dứt việc xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác theo quy định tại Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự;

d) Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác xử lý tài sản chịu trách nhiệm thực hiện các quy định liên quan đến việc xử lý tài sản ủy thác; gửi quyết định xử lý tài sản ủy thác và thông báo kết quả thẩm định giá, xác định giá, thời điểm bán đấu giá, kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác; tạm dừng hoặc chấm dứt xử lý tài sản theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác.

2. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác xử lý tài sản không được từ chối thực hiện quyết định ủy thác xử lý tài sản, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót về nội dung hoặc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.

Điều 28. Thi hành nghĩa vụ liên đới

1. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới thì trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới.

Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người mà người được thi hành án có văn bản đồng ý cho một hoặc một số người phải thi hành án không thi hành phần nghĩa vụ của họ thì cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án phần nghĩa vụ của một hoặc một số người phải thi hành án đó. Những người phải thi hành án còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Xem nội dung VB
Điều 50. Ủy thác xử lý tài sản

1. Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở, đồng thời có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản được bản án, quyết định tuyên kê biên, phong tỏa hoặc xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án trong trường hợp tài sản ở nhiều địa phương khác nhau.

2. Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới, cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở không đủ để thi hành án;

b) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở đã được Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mà người phải thi hành án không có tài sản khác trên địa bàn tỉnh, thành phố đó để thi hành án.

3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định ủy thác xử lý tài sản khi có căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác xử lý tài sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác ra quyết định xử lý tài sản ủy thác. Chấp hành viên căn cứ quyết định thi hành án, kết quả tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác và quyết định xử lý tài sản ủy thác để tiếp tục thực hiện trình tự, thủ tục xử lý tài sản theo quy định của Luật này.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 27, Điều 28 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 88 đến Điều 93 Mục 2 Chương III Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương III QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KINH PHÍ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH ĐỂ THI HÀNH ÁN
...
Mục 2. BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH ĐỂ THI HÀNH ÁN

Điều 88. Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án
...
Điều 89. Điều kiện được bảo đảm tài chính để thi hành án
...
Điều 90. Phạm vi bảo đảm tài chính để thi hành án
...
Điều 91. Xác định nghĩa vụ phải thi hành án
...
Điều 92. Mức và nguồn kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án
...
Điều 93. Thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án

Xem nội dung VB
Điều 51. Bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án

Trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 88 đến Điều 93 Mục 2 Chương III Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 79 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 79. Nội dung chi từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ chi theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự

Nguồn ngân sách nhà nước bố trí theo số thu nộp ngân sách nhà nước năm trước liền kề để thực hiện các nhiệm vụ chi theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự.

1. Chi tăng cường, hiện đại hóa cơ sở vật chất, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác phục vụ công tác quản lý thi hành án dân sự, công tác thi hành án dân sự:

a) Chi cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, mở rộng, hiện đại hóa trụ sở làm việc, kho quản lý tài sản thi hành án;

b) Chi mua sắm, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc; tài sản chuyên dùng; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ, phương tiện và các trang thiết bị chuyên dùng cần thiết khác phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

2. Chi công tác chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: chi thuê, đầu tư, vận hành, quản trị, nâng cấp, bảo đảm an toàn, an ninh hạ tầng số, hệ thống số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và các hoạt động khác theo quy định tại Luật Chuyển đổi số, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và pháp luật có liên quan.

3. Chi các hoạt động nghiệp vụ đặc thù phục vụ công tác quản lý thi hành án dân sự, công tác thi hành án dân sự:

a) Kinh phí may sắm trang phục; kinh phí chỉ đạo, giải quyết án trọng điểm, phức tạp, kéo dài, án kinh tế, tham nhũng; kinh phí thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên; kinh phí bồi thường nhà nước; kinh phí thuê trụ sở, thuê kho, trông giữ, bảo quản tang vật;

b) Chi phục vụ công tác thu phí thi hành án dân sự;

c) Các khoản chi phí thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả quy định tại Điều 80 Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 9. Bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự

1. Nhà nước bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, kinh phí, trụ sở làm việc, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác và nguồn lực chuyển đổi số cho hệ thống thi hành án dân sự; công cụ hỗ trợ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

Khoán phí thi hành án dân sự và các khoản thu hợp pháp khác của cơ quan thi hành án dân sự được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước. Sau khi nộp ngân sách nhà nước, khoản phí thi hành án dân sự và các khoản thu hợp pháp khác được bố trí tương ứng cho cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện các nhiệm vụ chi tăng cường, hiện đại hóa trụ sở làm việc, chuyển đổi số, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác và các hoạt động nghiệp vụ đặc thù phục vụ công tác quản lý thi hành án dân sự, công tác thi hành án dân sự.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 79 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 80 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 80. Chi phí thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả

Ngân sách nhà nước chi trả các chi phí quy định tại khoản 5 Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự và các chi phí sau đây:

1. Chi phí xác minh điều kiện thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự gồm: các khoản chi xác minh và thực hiện các biện pháp để xác minh điều kiện thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế thi hành án của Chấp hành viên hoặc trước khi thực hiện việc cưỡng chế trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên cưỡng chế, kê biên tài sản.

2. Các trường hợp khác theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Các khoản chi trước khi có quyết định cưỡng chế thi hành án của Chấp hành viên hoặc trước khi thực hiện việc cưỡng chế trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên cưỡng chế, kê biên tài sản gồm: chi thông báo thi hành án, trừ trường hợp thông báo bằng hình thức theo yêu cầu của đương sự; chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, cứu hộ, cứu nạn, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác; chi giám định tài sản, giấy tờ; chi họp với các cơ quan có liên quan để giải quyết việc thi hành án; chi bồi dưỡng cho các đối tượng tham gia công tác thi hành án dân sự;

b) Chi phí khi Chấp hành viên xác định giá tài sản hoặc thuê doanh nghiệp thẩm định giá, tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn để ước tính giá trị tài sản;

c) Chi phí cho việc bố trí phiên dịch, biên dịch trong trường hợp đương sự là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số của Việt Nam không biết tiếng Việt, người khuyết tật nghe, khuyết tật nói hoặc khuyết tật nhìn;

d) Chi thực hiện việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án.

Chi phí thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thực hiện kê biên, tạm giữ khẩn cấp tài sản theo quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trừ trường hợp người yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì người đó phải thanh toán các chi phí thực tế do việc thi hành quyết định đó và khoản tiền đặt trước được đối trừ, tài sản bảo đảm bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ;

đ) Chi phí sung công, gửi, giữ, trông coi, bảo quản, giao, nhận, bốc dỡ, vận chuyển vật chứng, tài sản tạm giữ;

e) Chi tiêu hủy vật chứng, tài sản, trừ trường hợp bản án, quyết định tuyên đương sự chịu, bao gồm: chi bồi dưỡng cho Hội đồng tiêu hủy; chi thuê chuyên gia, tổ chức để thực hiện tiêu hủy vật chứng, tài sản đối với trường hợp tiêu hủy các loại hóa chất độc hại hoặc các vật chứng, tài sản khác mà cần thiết phải có các trang thiết bị chuyên dùng để thực hiện việc tiêu hủy bảo đảm an toàn và không làm ảnh hưởng đến môi trường tại nơi tiêu hủy; chi phí vận chuyển vật chứng, tài sản đến nơi tiêu hủy; chi thuê địa điểm tiêu hủy, mua nhiên liệu, các khoản chi khác phục vụ cho việc tiêu hủy;

g) Chi thực hiện công tác tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật;

h) Chi phí chuyển tiền, tài sản, giấy tờ từ cơ quan thi hành án dân sự cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự và ngược lại; chi phí thu tiền, tài sản, giấy tờ của phạm nhân tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự; chi phí cho việc gửi tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân;

i) Chi phí thi hành án trong trường hợp không thu được của đương sự, người thứ ba bao gồm: trường hợp do người phải thi hành án phải giao, trả tài sản theo bản án, quyết định hoặc bị áp dụng biện pháp tạm giữ, thu giữ giấy tờ, tài liệu; chi phí thuê gửi, giữ, trông coi, bảo quản, xử lý, tiêu hủy vật chứng, tài sản tạm giữ, tài sản thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải trả lại vật chứng, tài sản cho đương sự, người thứ ba mà họ không đến nhận; chi phí thuê bốc dỡ, vận chuyển tài sản mà bản án, quyết định tuyên người phải thi hành án, người thứ ba chịu mà kết quả xác minh cho thấy đương sự, người thứ ba thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự; người phải thi hành án phải thực hiện công việc nhất định bỏ đi khỏi nơi cư trú hoặc chết mà không còn tài sản để thanh toán chi phí thi hành án;

k) Chi phí khi đang hoặc đã tổ chức cưỡng chế xong nhưng có quyết định đình chỉ thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật Thi hành án dân sự; tạm đình chỉ thi hành án;

l) Chi phí cưỡng chế đã thực hiện trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền có quyết định hủy quyết định cưỡng chế hoặc trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành;

m) Chi phí khi đang tiến hành tổ chức cưỡng chế nhưng phải ngừng vì các lý do sau đây: do tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng thi hành án để giải quyết khiếu nại; chi phí kiểm tra, xác minh, trưng cầu giám định phục vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo;

n) Chi thuê chuyên gia tư vấn đối với vụ án phức tạp. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm xác định các vụ án phức tạp cần thuê chuyên gia tư vấn;

o) Chi phí bảo quản, xử lý, tiêu hủy tài sản trong trường hợp phải trả lại tài sản cho đương sự, người có tài sản mà họ không đến nhận theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;

p) Chi bồi dưỡng cho các đối tượng tham gia công tác tổ chức thi hành án dân sự; bồi dưỡng cho các thành viên tham gia họp Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự, họp với các cơ quan liên quan để chỉ đạo tổ chức thi hành các vụ án trọng điểm, phức tạp, kéo dài, án kinh tế, tham nhũng;

q) Chi cho Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tham gia xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; chi cho các thành viên tham gia giao tài sản theo bản án, quyết định tuyên;

r) Chi phụ cấp lưu trú, tiền thuê chỗ nghỉ cho những người không hưởng lương ngân sách nhà nước tham gia công tác xác minh điều kiện thi hành án và thông báo thi hành án theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự;

s) Các khoản chi phục vụ tổ chức thi hành án khác theo quy định mà không thuộc các khoản chi thường xuyên của cơ quan thi hành án dân sự đã được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
5. Ngân sách nhà nước trả chi phí thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 82 của Luật này;

b) Xác minh điều kiện thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế;

c) Đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;

d) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 80 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 81 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 81. Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu

Người phải thi hành án chịu các chi phí quy định tại khoản 3 Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự và các chi phí sau đây:

1. Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án (gồm trường hợp sau khi có quyết định cưỡng chế thi hành án của Chấp hành viên và thực hiện việc cưỡng chế trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên cưỡng chế, kê biên tài sản) như: cán bộ thi hành án, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức xã hội và các thành phần khác.

2. Chi phí cho việc thẩm định giá, xác định giá, thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản; giám định tài sản, bán đấu giá tài sản:

a) Chi phí thẩm định giá, xác định giá; thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản:

Chi phí thẩm định giá, thẩm định giá lại tài sản: Giá dịch vụ thẩm định giá, thẩm định giá lại tài sản theo hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá.

Chi phí liên quan đến việc xác định giá, xác định giá lại trong trường hợp Chấp hành viên thực hiện việc xác định giá tài sản;

b) Chi bồi dưỡng cho các thành viên họp xác định giá, xác định giá lại tài sản;

c) Chi giám định tài sản: Chi phí giám định tài sản và một số khoản chi thực tế, hợp lý để thực hiện việc giám định tài sản;

d) Giá dịch vụ đấu giá theo quy định và các chi phí thực tế, hợp lý cho việc đấu giá trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền cho tổ chức đấu giá tài sản;

đ) Tiền thuê địa điểm, phương tiện và các chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán tài sản trong trường hợp Chấp hành viên bán tài sản.

3. Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu:

a) Chi thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, thuê địa điểm và các khoản chi phí thực tế hợp pháp khác phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu;

b) Chi bồi dưỡng cho các đối tượng trực tiếp thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu.

4. Chi tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo quy định sau:

a) Đối tượng được bồi dưỡng gồm Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, Kiểm sát viên, công an, dân quân tự vệ; đại diện chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, tổ dân phố; trưởng thôn, già làng, trưởng bản và các lực lượng khác được huy động tham gia các hoạt động để cưỡng chế thi hành án;

b) Chế độ bồi dưỡng được áp dụng cho các hoạt động xác minh điều kiện để bảo vệ cưỡng chế thi hành án, trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án, trực tiếp tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, họp bàn cưỡng chế thi hành án, họp thẩm định giá, xác định giá, thẩm định giá lại, xác định giá lại, bán tài sản trong trường hợp không ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức có chức năng đấu giá tài sản; trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cần thiết.

5. Chi phí mở khóa, mở gói tài sản, đồ vật; thuê dọn dẹp mặt bằng và các chi phí khác phát sinh trong và sau khi thực hiện việc cưỡng chế.

6. Chi phí thông báo thi hành án theo đề nghị của người phải thi hành án hoặc chi phí mà bản án, quyết định tuyên người phải thi hành án chịu.

7. Chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 5 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 62 Nghị định này tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận.

8. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và các chi phí tố tụng khác trong trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự.

9. Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại do người phải thi hành án yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp có nhiều người yêu cầu thì chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại được chia đều cho mỗi người yêu cầu.

10. Chi phí bảo quản, xử lý, tiêu hủy tài sản trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải trả lại tài sản cho người phải thi hành án mà họ không đến nhận theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

11. Các khoản chi phí khác do pháp luật quy định phục vụ cho cưỡng chế.

Trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ thực hiện thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thì chi phí thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
3. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;

b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;

c) Chi phí cho việc thẩm định giá, xác định giá, giám định tài sản, bán tài sản; chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi phí xác minh, thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;

đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;

e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án;

g) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 81 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 82 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 82. Chi phí thi hành án do người được thi hành án chịu

Chi phí khác mà người được thi hành án chịu quy định tại điểm c khoản 4 Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

1. Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại do người được thi hành án yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp có nhiều người yêu cầu thì chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại được chia đều cho mỗi người yêu cầu.

2. Chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 5 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 62 Nghị định này tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận.

3. Trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không đúng thì người đó phải thanh toán các khoản chi phí thực tế do việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đó.

4. Chi phí thông báo thi hành án theo đề nghị của người được thi hành án hoặc chi phí mà bản án, quyết định tuyên người được thi hành án chịu.

5. Chi phí thi hành án do người được thi hành án tự nguyện chịu.

6. Chi phí bảo quản, xử lý, tiêu hủy tài sản trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải trả lại tài sản cho người được thi hành án mà họ không đến nhận theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
4. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại hoặc trường hợp hoãn thi hành án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 của Luật này dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực;

b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ;

c) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 82 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 82 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 82. Chi phí thi hành án do người được thi hành án chịu

Chi phí khác mà người được thi hành án chịu quy định tại điểm c khoản 4 Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

1. Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại do người được thi hành án yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp có nhiều người yêu cầu thì chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại được chia đều cho mỗi người yêu cầu.

2. Chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 5 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 62 Nghị định này tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận.

3. Trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không đúng thì người đó phải thanh toán các khoản chi phí thực tế do việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đó.

4. Chi phí thông báo thi hành án theo đề nghị của người được thi hành án hoặc chi phí mà bản án, quyết định tuyên người được thi hành án chịu.

5. Chi phí thi hành án do người được thi hành án tự nguyện chịu.

6. Chi phí bảo quản, xử lý, tiêu hủy tài sản trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải trả lại tài sản cho người được thi hành án mà họ không đến nhận theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
4. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại hoặc trường hợp hoãn thi hành án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 của Luật này dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực;

b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ;

c) Chi phí khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 82 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 86 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 86. Tạm ứng chi phí cưỡng chế

1. Trong khi chưa thu được chi phí cưỡng chế thi hành án của người phải thi hành án, người được thi hành án, người thứ ba chịu; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ứng trước kinh phí để tổ chức cưỡng chế thi hành án từ nguồn dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền giao cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp đương sự tự nguyện nộp tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự căn cứ kế hoạch cưỡng chế và dự trù chi phí phục vụ cho cưỡng chế để xác định mức kinh phí đề nghị đương sự nộp.

2. Trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập và trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt dự trù chi phí cưỡng chế, trong đó nêu rõ: biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; lực lượng tham gia (số lượng người, thành phần tham gia); dự toán chi phí phục vụ cho cưỡng chế.

Trên cơ sở dự trù chi phí cưỡng chế, kế hoạch cưỡng chế được phê duyệt, Chấp hành viên làm thủ tục tạm ứng kinh phí cho hoạt động cưỡng chế từ nguồn kinh phí được ngân sách nhà nước giao cho cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp đương sự tự nguyện nộp tạm ứng chi phí cưỡng chế.

Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án để thu hồi kinh phí đã tạm ứng. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự kiểm tra, theo dõi, chỉ đạo các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thu hồi kinh phí đã tạm ứng.

3. Ngân sách nhà nước bố trí một khoản kinh phí để tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án. Hết thời gian chỉnh lý quyết toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, số dư dự toán chưa sử dụng sẽ bị hủy bỏ theo quy định, số dư tạm ứng chi phí cưỡng chế còn lại sẽ thu hồi bằng cách giảm trừ vào dự toán của phần kinh phí tạm ứng cưỡng chế thi hành án đã bố trí trong dự toán hàng năm của cơ quan thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 6. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án
...
1. Người được thi hành án có các quyền sau đây:
...
l) Tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án và được xét miễn, giảm phí thi hành án theo quy định của pháp luật;
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 86 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 87 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 87. Miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án

1. Đương sự là cá nhân có thể được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có thu nhập không đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu để sinh sống bình thường hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn.

Mức thu nhập tối thiểu được xác định theo chuẩn hộ nghèo của từng địa phương nơi người đó cư trú, nếu địa phương chưa có quy định thì theo chuẩn hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng giai đoạn cụ thể;

b) Thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng;

c) Thuộc diện neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài.

2. Đương sự phải làm đơn đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án nêu rõ lý do đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.

Đương sự có khó khăn về kinh tế, thuộc diện neo đơn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, sinh sống hoặc xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó nhận thu nhập. Đương sự là gia đình chính sách, có công với cách mạng phải có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để chứng minh. Đương sự bị tàn tật, ốm đau kéo dài phải có hồ sơ bệnh án hoặc bản sao hồ sơ bệnh án có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị và tài liệu kèm theo của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự xem xét, quyết định về việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.

3. Mức miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án được xác định như sau:

a) Đương sự thuộc diện quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này được xét giảm 1/2 chi phí cưỡng chế thi hành án phải nộp;

b) Đương sự thuộc diện quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã thi hành được ít nhất 1/2 chi phí cưỡng chế thì có thể được xét miễn chi phí cưỡng chế thi hành án còn lại.

4. Người có lỗi trong việc vi phạm thủ tục về thẩm định giá, xác định giá tài sản, trong việc ra quyết định miễn, giảm chi phí cưỡng chế sai quy định dẫn đến việc ngân sách nhà nước phải trả chi phí cưỡng chế có trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền đó cho ngân sách nhà nước.

Quyết định xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế bị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thu hồi hoặc hủy bỏ trong trường hợp phát hiện đối tượng bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán, cất giấu tiền, tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án hoặc cung cấp các căn cứ không đúng sự thật để được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
5. Ngân sách nhà nước trả chi phí thi hành án trong các trường hợp sau đây:
...
c) Đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 87 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 86 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 86. Tạm ứng chi phí cưỡng chế

1. Trong khi chưa thu được chi phí cưỡng chế thi hành án của người phải thi hành án, người được thi hành án, người thứ ba chịu; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ứng trước kinh phí để tổ chức cưỡng chế thi hành án từ nguồn dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền giao cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp đương sự tự nguyện nộp tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự căn cứ kế hoạch cưỡng chế và dự trù chi phí phục vụ cho cưỡng chế để xác định mức kinh phí đề nghị đương sự nộp.

2. Trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập và trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt dự trù chi phí cưỡng chế, trong đó nêu rõ: biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; lực lượng tham gia (số lượng người, thành phần tham gia); dự toán chi phí phục vụ cho cưỡng chế.

Trên cơ sở dự trù chi phí cưỡng chế, kế hoạch cưỡng chế được phê duyệt, Chấp hành viên làm thủ tục tạm ứng kinh phí cho hoạt động cưỡng chế từ nguồn kinh phí được ngân sách nhà nước giao cho cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp đương sự tự nguyện nộp tạm ứng chi phí cưỡng chế.

Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án để thu hồi kinh phí đã tạm ứng. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự kiểm tra, theo dõi, chỉ đạo các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thu hồi kinh phí đã tạm ứng.

3. Ngân sách nhà nước bố trí một khoản kinh phí để tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án. Hết thời gian chỉnh lý quyết toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, số dư dự toán chưa sử dụng sẽ bị hủy bỏ theo quy định, số dư tạm ứng chi phí cưỡng chế còn lại sẽ thu hồi bằng cách giảm trừ vào dự toán của phần kinh phí tạm ứng cưỡng chế thi hành án đã bố trí trong dự toán hàng năm của cơ quan thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
8. Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí bảo đảm cho việc tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 86 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 85 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 85. Nộp chi phí thi hành án

Chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án, người được thi hành án, người thứ ba bị cưỡng chế thi hành án nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ, thuê, vay, mượn, sửa chữa, trừ trường hợp chi phí cưỡng chế do ngân sách nhà nước bảo đảm.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
7. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán tài sản. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 85 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 87 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 87. Miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án

1. Đương sự là cá nhân có thể được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có thu nhập không đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu để sinh sống bình thường hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn.

Mức thu nhập tối thiểu được xác định theo chuẩn hộ nghèo của từng địa phương nơi người đó cư trú, nếu địa phương chưa có quy định thì theo chuẩn hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng giai đoạn cụ thể;

b) Thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng;

c) Thuộc diện neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài.

2. Đương sự phải làm đơn đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án nêu rõ lý do đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.

Đương sự có khó khăn về kinh tế, thuộc diện neo đơn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, sinh sống hoặc xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó nhận thu nhập. Đương sự là gia đình chính sách, có công với cách mạng phải có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để chứng minh. Đương sự bị tàn tật, ốm đau kéo dài phải có hồ sơ bệnh án hoặc bản sao hồ sơ bệnh án có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị và tài liệu kèm theo của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự xem xét, quyết định về việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.

3. Mức miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án được xác định như sau:

a) Đương sự thuộc diện quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này được xét giảm 1/2 chi phí cưỡng chế thi hành án phải nộp;

b) Đương sự thuộc diện quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã thi hành được ít nhất 1/2 chi phí cưỡng chế thì có thể được xét miễn chi phí cưỡng chế thi hành án còn lại.

4. Người có lỗi trong việc vi phạm thủ tục về thẩm định giá, xác định giá tài sản, trong việc ra quyết định miễn, giảm chi phí cưỡng chế sai quy định dẫn đến việc ngân sách nhà nước phải trả chi phí cưỡng chế có trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền đó cho ngân sách nhà nước.

Quyết định xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế bị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thu hồi hoặc hủy bỏ trong trường hợp phát hiện đối tượng bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán, cất giấu tiền, tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án hoặc cung cấp các căn cứ không đúng sự thật để được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 53. Phí, chi phí thi hành án
...
6. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 87 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 32 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 32. Kết thúc thi hành án và xác nhận kết quả thi hành án

1. Việc thi hành án kết thúc theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật Thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã thực hiện việc thông báo, gửi quyết định thi hành án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và cơ quan ra bản án, quyết định trong trường hợp thi hành bản án, quyết định chỉ có nội dung tuyên hủy bỏ lệnh hoặc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó của cơ quan có thẩm quyền hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trừ trường hợp phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Có căn cứ kết thúc việc thi hành án theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản;

c) Thi hành nghĩa vụ về trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã được Chấp hành viên chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự hoặc trường hợp trả tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được đã được cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự;

d) Đã có thông báo của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định này;

đ) Trường hợp bản án, quyết định tuyên giao quyền thăm nom, chăm sóc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người không có khả năng lao động mà người đó chết, đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự hoặc có khả năng lao động;

e) Cơ quan có thẩm quyền đã truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án theo đề nghị của Chấp hành viên quy định tại Điều 91 và Điều 92 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Định kỳ hằng tháng, cơ quan thi hành án dân sự trích xuất danh sách việc thi hành án kết thúc để thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.

3. Đương sự và thân nhân của họ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án theo các hình thức quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc thân nhân của họ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp giấy xác nhận về kết quả thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quyết định thi hành án.

Nội dung của văn bản xác nhận phải thể hiện rõ khoản nghĩa vụ theo bản án, quyết định, nghĩa vụ phải thi hành theo quyết định thi hành án và kết quả thi hành án cho đến thời điểm xác nhận.

Kết quả thi hành án được xác nhận thể hiện việc đương sự đã thực hiện xong toàn bộ hoặc một phần quyền, nghĩa vụ của mình theo quyết định thi hành án hoặc thi hành xong nghĩa vụ thi hành án của từng định kỳ, thời hạn trong trường hợp việc thi hành án được tiến hành theo định kỳ, theo thời hạn.

Xem nội dung VB
Điều 55. Kết thúc thi hành án

Việc thi hành án kết thúc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
...
3. Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 32 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 37 đến Điều 41 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 37. Giao, nhận, xuất vật chứng, tài sản tạm giữ
...
Điều 38. Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ
...
Điều 39. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước
...
Điều 40. Tiêu hủy vật chứng, tài sản
...
Điều 41. Trả lại tiền, tài sản cho đương sự

Xem nội dung VB
Điều 56. Bảo quản, nhập, xuất vật chứng, tài sản tạm giữ
...
2. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bảo quản vật chứng, tài sản, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan tài chính, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan khác có liên quan trong việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ để thi hành khoản tịch thu, sung quỹ nhà nước, tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc xử lý để thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 37 đến Điều 41 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 40 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 40. Tiêu hủy vật chứng, tài sản

1. Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản thực hiện việc tiêu hủy vật chứng, tài sản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày được thành lập. Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản quy định tại khoản 2 Điều 58 của Luật Thi hành án dân sự có từ ba thành viên trở lên, làm việc theo nguyên tắc tập trung, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Quyết định của Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp kết quả biểu quyết bằng nhau thì Chủ tịch Hội đồng có quyền quyết định cuối cùng.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản có nhiệm vụ tiếp nhận vật chứng, tài sản; xem xét, đối chiếu vật chứng, tài sản với nội dung bản án, quyết định, biên bản thu giữ ban đầu và quyết định hình thức tiêu hủy vật chứng, tài sản.

2. Việc tiêu hủy vật chứng, tài sản được thực hiện bằng hình thức đốt cháy, đập vỡ, chôn lấp hoặc bằng hình thức phù hợp khác do Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản quyết định. Việc tiêu hủy vật chứng, tài sản có thể được thực hiện tại nơi đang bảo quản, lưu giữ vật chứng, tài sản.

Trường hợp tiêu hủy các loại hóa chất độc hại hoặc các vật chứng, tài sản khác mà cần thiết phải có trang thiết bị chuyên dùng thì Chấp hành viên ký hợp đồng với cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện tiêu hủy vật chứng, tài sản để thực hiện việc tiêu hủy bảo đảm an toàn không ảnh hưởng đến môi trường nơi tiêu hủy.

Việc tiêu hủy vật chứng, tài sản phải lập thành biên bản, ghi rõ hiện trạng của vật chứng, tài sản tiêu hủy, họ tên, có chữ ký của các thành viên Hội đồng tiêu hủy.

Xem nội dung VB
Điều 58. Tiêu hủy vật chứng, tài sản

1. Cơ quan thi hành án dân sự tiêu hủy vật chứng, tài sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bản án, quyết định tuyên tiêu hủy vật chứng, tài sản;

b) Các trường hợp tiêu hủy tài sản theo quy định của Luật này.

2. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này hoặc kể từ ngày có quyết định tiêu hủy đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy ngay.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản do cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thành lập gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức tiêu hủy là thành viên và đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan chuyên môn có trách nhiệm cử đại diện tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản do cơ quan thi hành án cấp quân khu thành lập gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên và đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần thiết.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản quyết định cách thức tiêu hủy vật chứng, tài sản phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

3. Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu hủy vật chứng, tài sản.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 40 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 41 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 41. Trả lại tiền, tài sản cho đương sự

1. Trường hợp trả lại vật chứng, tài sản cho đương sự tại nơi đang bảo quản, lưu giữ thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự về thời gian, địa điểm trả vật chứng, tài sản. Việc trả lại vật chứng, tài sản phải có sự tham gia của Chấp hành viên, người được nhận vật chứng, tài sản.

2. Trường hợp trả tiền mà đương sự không đến nhận hoặc không cung cấp số tài khoản nhận tiền theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên lập bảng kê chi tiết và gửi theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn tại ngân hàng thương mại đối với số tiền lớn hơn 02 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở, đối với số tiền bằng 02 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng trở xuống thì gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước hoặc tài khoản mở tại ngân hàng thương mại và thông báo cho họ biết.

Cơ quan thi hành án dân sự áp dụng quy định về các hình thức thanh toán tiền qua chuyển khoản, thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được pháp luật công nhận, trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc qua dịch vụ bưu chính theo quy định tại khoản 5 Điều 30 Nghị định này để trả lại tiền cho đương sự.

3. Đối với tiền, tài sản mà bản án, quyết định của Tòa án tuyên tạm giữ để bảo đảm thi hành án nhưng hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà người được thi hành án không yêu cầu thi hành án và người phải thi hành án đã thi hành xong khoản thu cho ngân sách nhà nước thì tiền, tài sản đó được trả lại cho người phải thi hành án. Thủ tục trả lại tiền, tài sản trong trường hợp này được thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và quy định pháp luật khác có liên quan.

4. Sau khi đã chuyển nộp số tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự mà đương sự chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng dẫn đến không thể nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục thoái thu để trả lại cho đương sự.

5. Quyết định tiêu hủy tài sản quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự phải được thông báo cho người có tài sản bị tiêu hủy. Trước khi thực hiện việc tiêu hủy mà người có tài sản đến nhận tài sản thì Chấp hành viên trả lại tài sản cho họ. Người có tài sản phải chịu các chi phí bảo quản, xử lý tài sản (nếu có).

Xem nội dung VB
Điều 59. Trả lại tiền, tài sản cho đương sự

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với trường hợp bản án, quyết định tuyên trả lại tiền, tài sản cho đương sự hoặc kể từ ngày có căn cứ trả lại tiền, tài sản, cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho đương sự về việc nhận tiền, tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền hoặc không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số tiền đó vào Kho bạc Nhà nước hoặc gửi theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho họ biết.

Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tài sản thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này; trường hợp tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận thì Chấp hành viên bán tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 83 của Luật này, đồng thời thông báo cho đương sự. Số tiền thu được sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản (nếu có) được gửi vào Kho bạc Nhà nước hoặc gửi theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự biết.

Trường hợp người được nhận tiền, tài sản đến nhận hoặc cung cấp số tài khoản nhận tiền thì cơ quan thi hành án dân sự chi tiền, trả tài sản cho người được nhận, sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản (nếu có). Phần lãi tiền gửi (nếu có) được cộng vào số tiền gửi ban đầu và trả cho người được nhận.

Hết thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc 01 năm kể từ ngày thông báo đối với trường hợp thu được tiền sau thời điểm 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà người được nhận tiền, tài sản không đến nhận thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định sung quỹ nhà nước và chuyển nộp số tiền đó vào ngân sách nhà nước.

2. Đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng mà đương sự không đến nhận thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy theo quy định tại Điều 58 của Luật này,

Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó để xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình bảo quản và đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng Nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự.

Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định và các trường hợp trả lại tiền, tài sản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều này.

5. Trường hợp người được trả tiền, tài sản đồng thời là người phải thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà không thi hành thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 41 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 33 đến Điều 36 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 33. Thủ tục thông báo thi hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù

1. Cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản, quyết định về thi hành án cho Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù theo các hình thức quy định tại Điều 20 Nghị định này.

Trường hợp chuyển trực tiếp thì phải lập biên bản, trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm, nội dung giao nhận; họ, tên, chữ ký của bên giao, bên nhận.

2. Khi gửi quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải gửi văn bản thông báo cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù.

Văn bản thông báo có các nội dung sau: địa chỉ, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự; số tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người phải thi hành án phải nộp; số tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người được thi hành án dân sự được nhận; quyền từ chối nhận tiền, tài sản, giấy tờ hoặc ủy quyền cho người khác nhận thay; trách nhiệm thanh toán các chi phí cho việc gửi tiền, tài sản, giấy tờ.

Trường hợp phạm nhân vừa là người được thi hành án, vừa là người phải thi hành án thì văn bản thông báo phải ghi rõ nếu không tự nguyện thi hành án thì số tiền, tài sản, giấy tờ đó sẽ được xử lý để thi hành án theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản, quyết định về thi hành án, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu giao văn bản, quyết định cho người được thông báo là phạm nhân; yêu cầu ký nhận hoặc điểm chỉ vào phiếu chuyển và gửi phiếu chuyển đó cho cơ quan thi hành án dân sự. Ngày ký nhận hoặc điểm chỉ là ngày được thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không nhận văn bản thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến. Ngày lập biên bản là ngày thông báo hợp lệ.

4. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự khác thì phải thông báo bằng văn bản cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án biết về việc ủy thác thi hành án dân sự, kết quả thi hành án dân sự.

Điều 34. Thủ tục thu tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp hành hình phạt tù

1. Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tiền, tài sản, giấy tờ tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thi hành án thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thu tiền, lập phiếu thu hoặc lập biên bản ghi nhận việc thu tiền, tài sản, giấy tờ; lý do nộp tiền, tài sản, giấy tờ.

Trường hợp chưa nhận được quyết định thi hành án thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ do phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ nộp; đồng thời, lập biên bản và thu tiền, tài sản, giấy tờ đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thu tiền, tài sản, giấy tờ, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo việc thu tiền, tài sản, giấy tờ kèm theo biên bản tự nguyện nộp tiền, tài sản, giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án xét xử sơ thẩm. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo và các tài liệu khác có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu biết số tài khoản, địa chỉ của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Việc thu tài sản, giấy tờ không phải là tiền của phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải lập biên bản thu tài sản, giấy tờ. Trong biên bản thu tài sản, giấy tờ phải ghi rõ thời gian, địa điểm, lý do, căn cứ thu tài sản, giấy tờ, số lượng, tình trạng tài sản, giấy tờ; họ, tên, chữ ký của người nộp, người thu; họ, tên, chữ ký của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Biên bản thu tài sản, giấy tờ được lập thành 03 bản, 01 bản giao cho phạm nhân là người nộp tài sản, giấy tờ hoặc thân nhân của họ, 01 bản lưu tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, 01 bản chuyển cơ quan thi hành án dân sự.

3. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày thu được tiền hoặc tài sản, giấy tờ, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chuyển số tiền thu được vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc đã gửi thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này; gửi tài sản, giấy tờ đã thu được và biên bản hoặc phiếu thu, danh sách phạm nhân nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc đã gửi thông báo. Danh sách phạm nhân nộp tiền phải ghi rõ các thông tin sau: họ, tên của phạm nhân; bản án, quyết định; quyết định thi hành án; lý do nộp tiền; số tiền thu viết bằng số, bằng chữ.

Sau khi nhận được tiền và danh sách phạm nhân nộp tiền, cơ quan thi hành án dân sự lập biên lai thu tiền và gửi cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

4. Đối với khoản tiền trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đã chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý để thi hành án theo quy định.

Trường hợp không xác định được bản án, quyết định được thi hành hoặc không xác định được người được nhận tiền thì sau 05 năm kể từ ngày nhận được tiền, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công, trường hợp xác định được bản án, quyết định của Tòa án hoặc xác định được người nhận tiền thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để trả lại người được nhận tiền.

Đối với khoản tiền đã chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà vẫn không xác định được bản án, quyết định được thi hành hoặc không xác định được người được nhận tiền hoặc việc thi hành án đã kết thúc thì được xử lý theo quy định tại khoản này.

Điều 35. Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp hành hình phạt tù

1. Trường hợp người được nhận tiền, tài sản, giấy tờ đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thì việc trả tiền, tài sản, giấy tờ được thực hiện thông qua Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

2. Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án có đơn đề nghị được nhận tiền, tài sản, giấy tờ tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm gửi tiền, tài sản, giấy tờ cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để trả tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tiền, tài sản, giấy tờ do cơ quan thi hành án dân sự gửi thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trả tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân.

Việc trả tiền, tài sản, giấy tờ phải lập thành biên bản và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.

3. Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án đề nghị được ủy quyền cho người thân nhận tiền, tài sản, giấy tờ thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập biên bản về việc ủy quyền (hoặc xác nhận vào giấy ủy quyền) và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự. Trong biên bản về việc ủy quyền hoặc giấy ủy quyền phải ghi họ, tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người được ủy quyền, nội dung ủy quyền.

4. Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án từ chối nhận tiền, tài sản, giấy tờ thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập biên bản về việc phạm nhân từ chối nhận tiền, tài sản, giấy tờ và gửi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án để tiến hành các thủ tục xử lý theo quy định của pháp luật. Biên bản được lập thành 03 bản, trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự giữ 01 bản, phạm nhân là người được thi hành án giữ 01 bản và 01 bản gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.

Điều 36. Trách nhiệm thông tin về tình trạng của đương sự đang chấp hành hình phạt tù

1. Trường hợp phạm nhân chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án bị chết thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự chấp hành hình phạt tù có trách nhiệm thông báo bằng văn bản, kèm theo tài liệu có liên quan (nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm biết.

2. Trường hợp phạm nhân chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án mà chuyển trại giam, trại tạm giam thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gửi quyết định thi hành án và các tài liệu, giấy tờ có liên quan đến nơi phạm nhân được chuyển đến; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm biết.

Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án các thông tin về họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải thi hành án hoặc phạm nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam.

3. Trường hợp phạm nhân chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án mà được đặc xá, đã chấp hành xong án phạt tù, được miễn chấp hành án phạt tù hoặc được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và các tài liệu liên quan (nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm biết.

Xem nội dung VB
Điều 61. Thi hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù

1. Trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án, người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù phối hợp trong việc thông báo về thi hành án, cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, thu, trả tiền, tài sản liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án, người được thi hành án.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 33 đến Điều 36 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 43, Điều 57 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 43. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản đang gửi giữ quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thành viên lưu ký, doanh nghiệp công nghệ số và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản, tiền gửi và tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án.

Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa.

2. Sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa theo quy định sau đây:

a) Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án thì phong tỏa số tiền, phần tài sản tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản;

b) Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản nhỏ hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản trong tài khoản ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản; trường hợp phát sinh tiền, tài sản trong tài khoản thì phong tỏa tiếp số tiền, tài sản theo quy định tại khoản này;

c) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thực hiện việc phong tỏa thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện;

d) Không thực hiện phong tỏa đối với các tài khoản quy định tại khoản 5 Điều 49 Nghị định này.

3. Trường hợp Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao trực tiếp văn bản mà người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản không nhận hoặc không có người nhận văn bản thì Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và tiến hành niêm yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản tại trụ sở cơ quan, tổ chức đó.

Người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra.

4. Chấp hành viên có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích các thông tin về tài khoản, tài sản của người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp bảo đảm.
...
Điều 57. Phong tỏa, kê biên, xử lý chứng khoán, cổ phần, phần vốn góp, giấy tờ có giá

1. Trường hợp chứng khoán đang niêm yết hoặc đang đăng ký giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán thì thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên ra quyết định phong tỏa chứng khoán gửi Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Chấp hành viên, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện phong tỏa chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán; gửi thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự và thành viên lưu ký.

Quyết định phong tỏa chứng khoán gồm những nội dung sau: nội dung yêu cầu phong tỏa chứng khoán; họ, tên, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân hoặc căn cước hoặc hộ chiếu đối với cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc giấy tờ pháp lý tương đương đối với pháp nhân; mã số giao dịch chứng khoán; số tiền phải thi hành án và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa; mã chứng khoán, số lượng chứng khoán đề nghị phong tỏa và số tài khoản chứng khoán (nếu có);

b) Chấp hành viên ra quyết định kê biên, xử lý chứng khoán theo quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định kê biên, xử lý chứng khoán, đương sự được thỏa thuận về việc bán chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự về việc thỏa thuận đó.

Hết thời hạn trên, cơ quan thi hành án dân sự ban hành văn bản yêu cầu Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam chuyển quyền sở hữu chứng khoán đã kê biên sang cơ quan thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đối với số chứng khoán đã nhận. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán, Chấp hành viên thực hiện việc bán theo thỏa thuận của đương sự. Trường hợp đương sự không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì Chấp hành viên thực hiện bán chứng khoán theo phương thức khớp lệnh với mức giá tham chiếu theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án thì ngay sau khi ban hành quyết định kê biên, cơ quan thi hành án dân sự ban hành văn bản yêu cầu Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam chuyển quyền sở hữu chứng khoán đã kê biên sang cơ quan thi hành án dân sự và thực hiện việc bán chứng khoán theo phương thức khớp lệnh với mức giá tham chiếu theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

2. Trường hợp xử lý chứng khoán chưa niêm yết, chưa đăng ký giao dịch và đã đăng ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam hoặc đang niêm yết, đăng ký giao dịch nhưng không bán được theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Chấp hành viên ra quyết định phong tỏa theo quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự; ra quyết định kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự. Trình tự, thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán chứng khoán được thực hiện theo quy định tại Điều 82, Điều 83 và quy định khác của Luật Thi hành án dân sự, Luật Chứng khoán và pháp luật khác có liên quan. Sau khi bán, xử lý chứng khoán, cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản yêu cầu Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho người mua, người được nhận để trừ vào tiền thi hành án theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp chứng khoán, cổ phần, phần vốn góp không thuộc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này hoặc giấy tờ có giá thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định tại Điều 71, Điều 75, Điều 82, Điều 83 và quy định khác của Luật Thi hành án dân sự, pháp luật về đấu giá tài sản, pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan. Khi ra quyết định kê biên, Chấp hành viên đồng thời ban hành văn bản thông báo về việc kê biên tài sản đó cho doanh nghiệp nơi người phải thi hành án góp vốn và các cơ quan, tổ chức có liên quan để ngăn chặn việc chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi có quyết định của cơ quan thi hành án dân sự.

4. Sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên mà chứng khoán thuộc trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, đang bị phong tỏa bởi quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác, bị phong tỏa tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam làm nghĩa vụ bảo đảm theo yêu cầu của nhà đầu tư, đang đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các trường hợp chứng khoán chưa được chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài sản có văn bản thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết để quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 67. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

1. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản đang gửi giữ.

2. Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án. Chấp hành viên phải thông báo ngay quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án theo quy định của Chính phủ; trường hợp số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.

3. Quyết định phong tỏa tài sản phải xác định rõ tài sản, nơi gửi giữ tài sản và thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tài sản của người phải thi hành án để thực hiện việc phong tỏa tài sản.

4. Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự tẩu tán tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 43, Điều 57 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 45 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 45. Tạm hoãn xuất cảnh

1. Trường hợp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều 70 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Có căn cứ không bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh;

b) Là người nước ngoài phạm tội ít nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam, có đơn cam kết thực hiện nghĩa vụ sau khi về nước.

Đơn cam kết phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà người đó có quốc tịch về việc đôn đốc người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam;

c) Có văn bản của cơ quan công an hoặc cơ quan đại diện ngoại giao đề nghị cho xuất cảnh trong trường hợp cá nhân là người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam nhưng không được người được thi hành án cho xuất cảnh hoặc không xác định được địa chỉ của người được thi hành án hoặc người được thi hành án là người nước ngoài đã về nước và các trường hợp đặc biệt khác.

2. Cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thì việc tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp nhận được thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc khi căn cứ tạm hoãn xuất cảnh không còn hoặc thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật Thi hành án dân sự và khoản 1 Điều này thì cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để điều chỉnh thông tin.

Xem nội dung VB
Điều 70. Tạm hoãn xuất cảnh
...
3. Việc tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn, giải tỏa, hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 45 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 42 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 42. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án
...
2. Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.

Xem nội dung VB
Điều 72. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
...
5. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 42 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 51 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 51. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

1. Chấp hành viên căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án để xác định số tiền trừ hằng tháng nhưng phải để lại cho người phải thi hành án số tiền bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang thực tế sinh sống, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác; trường hợp người phải thi hành án đang nuôi dưỡng người khác thì số tiền để lại cho mỗi người được nuôi dưỡng bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng. Chấp hành viên căn cứ danh sách người phụ thuộc của người phải thi hành án đã được cơ quan thuế xác nhận để xác định người mà người phải thi hành án đang nuôi dưỡng.

Trường hợp thu nhập của người phải thi hành án nhỏ hơn số tiền phải để lại theo quy định tại khoản này thì không thực hiện việc trừ vào thu nhập.

2. Quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành phải ghi rõ các nội dung sau:

a) Ngày, tháng, năm ban hành quyết định;

b) Căn cứ ban hành quyết định;

c) Họ tên người phải thi hành án;

d) Số tiền phải thi hành án; số tiền phải trừ vào thu nhập;

đ) Tên tài khoản, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận tiền bị khấu trừ;

e) Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.

3. Chấp hành viên gửi quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án cho cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền nơi đang quản lý tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác của người phải thi hành án, kèm theo các tài liệu sau đây:

a) Quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

b) Bản sao bản án, quyết định;

c) Quyết định thi hành án.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu kỳ chi trả tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác gần nhất, cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý thu nhập phải thực hiện khấu trừ và chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế, đồng thời thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp nhận được quyết định trừ vào thu nhập sau khi đã chi trả xong các khoản tiền cho người lao động thì cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý thu nhập thực hiện khấu trừ và chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong kỳ lĩnh tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp tiếp theo; thời hạn 03 ngày làm việc được tính kể từ thời điểm bắt đầu kỳ chi trả tiếp theo.

Trường hợp chưa khấu trừ đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế mà cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đã chết, đã nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng có hưởng lương hoặc thu nhập thì Bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp Bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động không thực hiện, thực hiện không kịp thời dẫn đến không thể thi hành án được thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 76. Trừ vào thu nhập

1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

3. Khi khấu trừ, Chấp hành viên phải để lại số tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quyết định của cơ quan thi hành án dân sự.

5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 51 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 56 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 56. Kê biên quyền sử dụng đất

1. Trường hợp tài sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi hoặc trường hợp khác được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì trước khi ra quyết định kê biên, Chấp hành viên đề nghị cơ quan chức năng có ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; điều kiện để được cấp giấy chứng nhận và điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Trường hợp có thay đổi về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận hoặc điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì cơ quan chức năng thông báo cho Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đang được sử dụng hợp pháp nhưng đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý thuộc khu vực vi phạm hành lang giao thông, chỉ giới đê điều, lưới điện và vẫn được cơ quan có thẩm quyền cho phép tiếp tục tồn tại, sử dụng thì Chấp hành viên thống nhất với cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để thực hiện kê biên, xử lý tài sản đó theo quy định.

2. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà diện tích đất trên thực tế chênh lệch so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không thay đổi vị trí thì Chấp hành viên phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để xác định rõ tình trạng pháp lý, hiện trạng, diện tích thực tế của tài sản và xử lý như sau:

a) Trường hợp chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích chênh lệch không có tranh chấp, thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì kê biên, xử lý theo số liệu đo đạc thực tế, trừ trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản này;

b) Trường hợp chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích chênh lệch có tranh chấp thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự;

c) Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích chênh lệch do bị người khác lấn chiếm thì Chấp hành viên yêu cầu người lấn chiếm trả lại đất hoặc thỏa thuận với người có đất bị lấn chiếm và người được thi hành án về phương án giải quyết. Cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo nội dung thỏa thuận của đương sự.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý theo giấy chứng nhận; trường hợp có tranh chấp thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự;

d) Trường hợp diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích đất chênh lệch đủ điều kiện để tách thửa và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai thì kê biên, xử lý theo giấy chứng nhận nếu diện tích theo giấy chứng nhận đã đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án.

3. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà hiện trạng không đúng vị trí theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan điều chỉnh vị trí quyền sử dụng đất hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo quy định của pháp luật.

4. Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập thành biên bản, ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.

Xem nội dung VB
Điều 78. Quyết định kê biên tài sản
...
3. Ra quyết định kê biên đối với một số loại tài sản cụ thể:

a) Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp quyền sử dụng đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất. Việc xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật này.

Trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất đó thì Chấp hành viên kê biên khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp người phải thi hành án có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình thì Chấp hành viên chỉ kê biên khi người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở đó để thi hành án hoặc trường hợp nhà ở được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

c) Trường hợp tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó thì không phải kê biên cả quyền sử dụng đất.

Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng và quyền sử dụng đất nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng của người phải thi hành án nếu việc tách rời nhà ở, công trình xây dựng và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản;

d) Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án.

Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang được bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;

đ) Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi thì Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 79 của Luật này;

e) Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.

Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.

Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 56 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 61 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 61. Thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản là vàng, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác

1. Việc xác định loại vàng, giám định và kiểm định vàng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, chất lượng và đo lường trong kinh doanh vàng.

Trường hợp chưa xác định rõ loại, tuổi vàng, hàm lượng hoặc khối lượng thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức có chức năng thực hiện việc giám định, kiểm định làm căn cứ thẩm định giá, xác định giá và bán. Chi phí giám định, kiểm định được tính vào chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu.

2. Trường hợp tài sản là vàng miếng, vàng nhẫn tròn trơn thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên, Chấp hành viên bán vàng cho doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được phép kinh doanh vàng theo giá mua vào niêm yết công khai của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng tại thời điểm giao dịch.

Việc bán vàng phải lập thành biên bản; có chữ ký của Chấp hành viên, đại diện cơ sở mua vàng; kèm theo hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Chấp hành viên ghi nhận, lưu trong hồ sơ thi hành án thông tin niêm yết giá (bản in/bản chụp tại thời điểm bán) và kết quả kiểm định (nếu có).

Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bán tài sản là vàng.

3. Trường hợp tài sản là vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu và các loại vàng khác thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thẩm định giá, xác định giá theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 82 và bán theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự. Việc đấu giá tài sản là vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu và các loại vàng khác được thực hiện theo thủ tục rút gọn theo pháp luật về đấu giá tài sản.

Đối tượng được đăng ký mua vàng nguyên liệu là doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về kinh doanh vàng.

4. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định thì việc định giá, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản là tài sản số, tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Xem nội dung VB
Điều 82. Thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên

1. Việc thẩm định giá, xác định giá tài sản thực hiện như sau:
...
c) Việc thẩm định giá, xác định giá tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 61 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 62 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 62. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án

1. Việc thẩm định giá theo quy định tại khoản 5 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện khi tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá trị tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Người có đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản có trách nhiệm cung cấp tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản, kèm theo đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản. Tài liệu chứng minh có thể là khung giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định được áp dụng tại địa phương hoặc giá thị trường phổ biến của tài sản giống hệt hoặc tương tự với tài sản cần thẩm định giá tại địa phương hoặc giá chuyển nhượng thực tế ở địa phương của tài sản cùng loại.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản của đương sự và tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản, Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục thẩm định giá theo quy định tại Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự. Chi phí thẩm định giá do người yêu cầu thẩm định giá chịu.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản yêu cầu người được nhận tài sản nộp số tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản mà đương sự được nhận theo bản án, quyết định so với giá tài sản đã thẩm định quy định tại khoản 2 Điều này để thanh toán cho người được nhận tiền thi hành án.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu nộp tiền thi hành án, nếu người được nhận tài sản không tự nguyện nộp tiền thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đó để thi hành án. Số tiền thu được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng so với số tiền, tài sản mà các đương sự được nhận theo bản án, quyết định nhưng không tính lãi chậm thi hành án.

4. Chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 3 Điều này do đương sự chịu tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận theo quy định của pháp luật về chi phí thi hành án.

5. Người đang quản lý tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá thì bị cưỡng chế thi hành án và phải chịu chi phí thi hành án theo quy định.

Xem nội dung VB
Điều 82. Thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên
...
5. Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận nhưng giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm so với giá trị tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì tài sản được thẩm định giá theo quy định tại Điều này khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có ít nhất một trong các đương sự có đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản, cung cấp tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản và đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định giá tài sản;

b) Việc thi hành án kéo dài do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 62 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi khoản 7 Điều 65 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 65. Bán đấu giá tài sản thi hành án
...
7. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 84 của Luật Thi hành án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Trường hợp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật Thi hành án dân sự sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm;

b) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án;

c) Nhận được thông báo dừng xử lý tài sản ủy thác của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác xử lý tài sản;

d) Có căn cứ khác xác định tài sản đấu giá không đủ điều kiện đưa ra đấu giá.

Xem nội dung VB
Điều 84. Tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án
...
2. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá khi có một trong các căn cứ sau đây:
...
c) Có căn cứ xác định tài sản đấu giá không đủ điều kiện đưa ra đấu giá;
Điều này được hướng dẫn bởi khoản 7 Điều 65 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi khoản 8 Điều 65 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 65. Bán đấu giá tài sản thi hành án
...
8. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 84 của Luật Thi hành án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chung hoặc người được quyền ưu tiên thực hiện việc mua tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Trường hợp đang bán tài sản theo quy định tại Điều 59, khoản 2 Điều 81, điểm a khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự mà người có tài sản đến nhận lại tài sản. Người có tài sản phải thanh toán toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến việc xử lý tài sản (nếu có);

c) Người phải thi hành án đã nộp đủ tiền để nhận lại tài sản;

d) Người được thi hành án được nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 84. Tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án
...
2. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá khi có một trong các căn cứ sau đây:
...
d) Người phải thi hành án đã nộp đủ tiền để nhận lại tài sản hoặc người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của Luật này;
Điều này được hướng dẫn bởi khoản 8 Điều 65 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 69, Điều 72 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 69. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản

1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua tài sản thi hành án; người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày giao tài sản cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án hoặc giao tài sản theo thỏa thuận của đương sự thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp hồ sơ để đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Hồ sơ đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự;

b) Bản sao bản án, quyết định;

c) Bản sao quyết định thi hành án;

d) Quyết định kê biên tài sản (nếu có);

đ) Văn bản thông báo kết quả đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản hoặc biên bản giao nhận tài sản hoặc văn bản thỏa thuận về thi hành án hoặc biên bản về việc người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản để thi hành án;

e) Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản và giấy tờ khác có liên quan (nếu có).

2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không thu hồi được giấy tờ hoặc giấy tờ bị mất có liên quan đến tài sản quy định tại khoản 3 Điều 87 của Luật Thi hành án dân sự thì có văn bản nêu rõ lý do, gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ có liên quan đến tài sản để thực hiện việc hủy giấy tờ cũ, cấp giấy tờ mới theo quy định.

3. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật mà không thu hồi được giấy chứng nhận hoặc đã bị mất thì cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận đến Ủy ban nhân dân có thẩm quyền đối với giấy chứng nhận được cấp lần đầu hoặc tổ chức đăng ký đất đai hoặc chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai đối với giấy chứng nhận đã cấp khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan có thẩm quyền nêu tại khoản này quyết định thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp. Việc cấp, cấp lại giấy chứng nhận thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
...
Điều 72. Cưỡng chế chuyển quyền sở hữu chứng khoán, quyền sở hữu trí tuệ

1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên chuyển quyền sở hữu chứng khoán mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc chuyển quyền sở hữu chứng khoán.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự gửi quyết định cho Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế buộc chuyển quyền sở hữu chứng khoán thì Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho người được thi hành án theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho người được thi hành án, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện.

3. Trường hợp Chấp hành viên quyết định chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì việc chuyển giao quyền nói trên phải phù hợp với các quy định về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.

Xem nội dung VB
Điều 87. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản

1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.

Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp hồ sơ để đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của Chính phủ cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.

2. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất mà đủ điều kiện nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận mà không thu hồi được giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận đã cấp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật.

3. Đối với tài sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

4. Giấy tờ được cấp mới thay thế cho giấy tờ không thu hồi được. Giấy tờ không thu hồi được không còn giá trị.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 69, Điều 72 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 3 Điều 67 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 67. Giao tài sản để thi hành án
...
3. Mức tiền trích lại để người phải thi hành án thuê nhà trong thời hạn 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự là 12 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang cư trú.

Xem nội dung VB
Điều 89. Cưỡng chế giao, trả nhà, tài sản gắn liền với đất
...
2. Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà trong thời hạn 01 năm với mức tiền theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 3 Điều 67 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 73 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 73. Trả lại tài sản sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và giải tỏa kê biên tài sản

1. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tạm giữ hoặc bảo quản tài sản, giấy tờ thì sau khi ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản, Chấp hành viên phải trả lại tài sản, giấy tờ cho người phải thi hành án hoặc chủ sở hữu tài sản, giấy tờ.

2. Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 41 Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 95. Chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản
...
6. Việc trả lại tài sản, giấy tờ sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, giải tỏa kê biên thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 73 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 4. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự

1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác. Việc kết nối, chia sẻ được thực hiện theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành danh mục, định dạng dữ liệu và yêu cầu kỹ thuật bảo đảm kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu thuộc quyền quản lý để bảo đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu, phục vụ công tác thi hành án dân sự theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Điều 5. Môi trường số trong thi hành án dân sự

1. Các phương tiện thực hiện trên môi trường số trong thi hành án dân sự bao gồm:

a) Nền tảng số thi hành án dân sự;

b) Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp;

c) Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);

d) Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự;

đ) Thư điện tử và phương tiện khác theo quy định của pháp luật.

2. Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan thi hành án dân sự sử dụng một hoặc nhiều phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 6. Nền tảng số thi hành án dân sự

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành nền tảng số thi hành án dân sự phục vụ hoạt động thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính, quản lý tổ chức và hoạt động của Chấp hành viên.

Việc xây dựng, vận hành nền tảng số thi hành án dân sự được thực hiện thông qua đầu tư, thuê dịch vụ công nghệ thông tin, thuê phần mềm, thuê nền tảng số, thuê theo số lượng tài khoản người dùng hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

2. Nền tảng số thi hành án dân sự được triển khai tập trung, thống nhất, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu, hình thành cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự phục vụ hoạt động của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

3. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều này được bảo đảm từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và pháp luật khác có liên quan.

Xem nội dung VB
Điều 5. Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự

1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp quản lý, được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác có trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự về việc truy cập, khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu đó để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

Việc kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. Cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu theo quy định của pháp luật.

3. Các thủ tục về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật.

Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác dữ liệu vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 3. Tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng trong thi hành án dân sự

1. Tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tình trạng khẩn cấp được xác định theo quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp;

b) Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo hoặc phải thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn; đương sự bị tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức, chuyển giao bắt buộc, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn;

c) Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh mà không thuộc trường hợp tình trạng khẩn cấp quy định tại điểm a khoản này.

2. Tài liệu chứng minh xảy ra tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng là bản gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm:

a) Đối với trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp thì tài liệu chứng minh là văn bản của cơ quan có thẩm quyền ban bố, công bố theo quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp;

b) Đối với trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế hoặc trở ngại khách quan xảy ra tại địa phương nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cuối cùng hoặc nơi cư trú khi xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, trừ trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản này;

c) Đối với trường hợp tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có hồ sơ bệnh án hoặc bản sao hồ sơ bệnh án có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên và tài liệu kèm theo, nếu có;

d) Đối với trường hợp do yêu cầu công tác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử đi công tác của cơ quan, đơn vị đó;

đ) Đối với trường hợp do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan đã ra bản án, quyết định, cơ quan thi hành án có thẩm quyền;

e) Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức, chuyển giao bắt buộc, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp thì phải có văn bản hợp pháp chứng minh thời gian chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án;

g) Đối với các trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan khác dẫn đến không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác để chứng minh.

3. Xác nhận của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn.

4. Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được áp dụng để xác định tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng trong các trường hợp khác quy định tại Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 34. Yêu cầu và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu
...
2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 8. Chủ động ra quyết định thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra một quyết định thi hành án đối với mỗi người phải thi hành án, trừ các trường hợp sau đây:

a) Trả lại tiền, tài sản thì ra một quyết định thi hành án đối với người được trả lại tiền, tài sản đó;

b) Thi hành khoản tịch thu, sung quỹ nhà nước, tiêu hủy vật chứng, tài sản tạm giữ mà không xác định người phải thi hành án thì ra một quyết định thi hành án đối với các khoản đó;

c) Các khoản phải thi hành quy định tại điểm a và điểm b khoản này có liên quan đến cùng một vật chứng, tài sản tạm giữ thì ra chung một quyết định thi hành án liên quan đến vật chứng, tài sản đó;

d) Thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới hoặc nghĩa vụ chung thì ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ;

đ) Một người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ thì ra một quyết định thi hành án đối với người đó;

e) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Các khoản thu khác cho Nhà nước thuộc diện cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 33 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm: khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước; khoản bồi thường cho Nhà nước, cơ quan Nhà nước hoặc doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng; khoản thu nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước.

3. Đối với bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án hành chính, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và ra quyết định thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản, gồm: án phí; bồi thường thiệt hại; trả lại tiền, tài sản; giao lại đất được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án. Những nội dung khác của bản án, quyết định được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

4. Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ để bảo đảm thi hành án mà không tuyên để bảo đảm cho một nghĩa vụ cụ thể thì nội dung xử lý vật chứng, tài sản đó được đưa vào quyết định thi hành án chủ động, trừ trường hợp đã có quyết định thi hành án theo yêu cầu đối với nội dung này.

Trường hợp bản án, quyết định chỉ có nội dung tuyên hủy bỏ lệnh hoặc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó của cơ quan có thẩm quyền thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án theo nội dung bản án, quyết định và thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật Thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 33. Chuyển giao, gửi bản án, quyết định và chủ động ra quyết định thi hành án
...
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án đối với phần bản án, quyết định sau đây:

a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án;

b) Trả lại tiền, tài sản, vật, giấy tờ cho đương sự;

c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu khác cho Nhà nước; tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản;

d) Khoản tiền bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên trong bản án, quyết định;

đ) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;

e) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án;

h) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 10. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Đối với bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ thi hành theo định kỳ hoặc theo thời hạn thì thời hiệu yêu cầu thi hành án được áp dụng cho từng định kỳ hoặc từng thời hạn kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc không thể yêu cầu thi hành án trong thời hiệu thì đương sự có quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn.

Việc yêu cầu thi hành án quá hạn được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định này, nêu rõ lý do, kèm theo bản gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc dữ liệu điện tử các tài liệu chứng minh quy định tại Điều 3 Nghị định này về lý do không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn để đối chiếu.

3. Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án mà chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp; lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.

Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, xử lý tài sản để thi hành nghĩa vụ mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có.

Xem nội dung VB
Điều 34. Yêu cầu và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu
...
2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 13. Thay đổi Chấp hành viên

1. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp sau đây:

a) Có căn cứ cho rằng Chấp hành viên thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó.

2. Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên phải gửi Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc, nêu rõ lý do và căn cứ của việc yêu cầu thay đổi Chấp hành viên.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, quyết định việc thay đổi Chấp hành viên; trường hợp không thay đổi Chấp hành viên thì trả lời bằng văn bản cho người đã có yêu cầu thay đổi Chấp hành viên và nêu rõ lý do.

Xem nội dung VB
Điều 6. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án

1. Người được thi hành án có các quyền sau đây:
...
g) Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 14. Thỏa thuận thi hành án

1. Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.

Trường hợp các bên không thực hiện đúng thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì có quyền yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền thỏa thuận thi hành án. Việc thỏa thuận về thi hành án phải có sự tham gia của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung thỏa thuận. Trường hợp đương sự thỏa thuận về việc đình chỉ thi hành án sau thời điểm tài sản đã được đấu giá thành hoặc đã bán cho chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên mua hoặc người được thi hành án đã đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án mà chưa giao được tài sản cho họ thì việc thỏa thuận còn phải được sự đồng ý của người trúng đấu giá, người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.

3. Văn bản thỏa thuận về thi hành án phải được gửi cho Chấp hành viên. Khi đương sự có yêu cầu, Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án và ký tên vào văn bản thỏa thuận.

Đương sự phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án.

Trường hợp phát hiện thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án hoặc không đúng thành phần thì Chấp hành viên có quyền không công nhận thỏa thuận hoặc từ chối chứng kiến thỏa thuận nhưng phải nêu rõ lý do và tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định.

Việc chứng kiến thỏa thuận được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự. Đối với các trường hợp thỏa thuận giao quyền sử dụng đất, giao nhà, tài sản gắn liền với đất; giao quyền nuôi dưỡng người chưa thành niên; giao quyền thăm nom, chăm sóc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người không có khả năng lao động hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên chứng kiến ngoài trụ sở cơ quan nếu đương sự yêu cầu.

4. Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành.

5. Trường hợp đương sự thỏa thuận hoặc người được thi hành án yêu cầu đình chỉ một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định đình chỉ thi hành án sau khi các đương sự đã nộp các khoản phí, chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật tính đến thời điểm thỏa thuận hoặc yêu cầu đình chỉ.

6. Trường hợp người phải thi hành án thỏa thuận với người được thi hành án về việc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc giao tài sản. Biên bản này là cơ sở để Chấp hành viên giao tài sản theo thỏa thuận và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán. Chi phí giao tài sản và các chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp luật do người phải thi hành án chịu.

Xem nội dung VB
Điều 36. Tự nguyện và thỏa thuận thi hành án

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, trừ trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về việc thi hành án và phải chịu trách nhiệm về thỏa thuận đó. Khi thỏa thuận về việc thi hành án, các đương sự phải thỏa thuận về phí thi hành án và các chi phí phát sinh (nếu có).

Thỏa thuận phải được lập thành văn bản, thể hiện rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.

Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án.

Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 15, 16, 17, 18 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 15. Thông báo thi hành án trên môi trường số

1. Thông báo về thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trừ trường hợp quy định tại các Điều 16, 17, 18 và 19 Nghị định này.

2. Thông báo trên môi trường số được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID. Ngày ứng dụng VNeID báo đã gửi là ngày thông báo hợp lệ.

3. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm truy cập ứng dụng VNeID để nhận thông báo về thi hành án và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có trách nhiệm tích hợp, bảo mật, kết nối và chia sẻ các thông báo về thi hành án trên ứng dụng VNeID.

5. Trường hợp đương sự đề nghị thông báo trên phương tiện điện tử khác thì cơ quan thi hành án dân sự có thể thông báo đồng thời trên phương tiện đó.

Điều 16. Thông báo thi hành án qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo

1. Thông báo qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không xác định được số định danh của người được thông báo nhưng xác định được địa chỉ của người đó;

b) Thông báo quyết định thi hành án, trừ trường hợp quy định tại Điều 18 và Điều 19 Nghị định này;

c) Người được thông báo chứng minh không thể tiếp cận việc thông báo trên môi trường số;

d) Người được thông báo có yêu cầu và chịu chi phí.

2. Người trực tiếp thực hiện việc thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, bao gồm:

a) Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án;

b) Nhân viên bưu chính; Thừa hành viên; người được cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền; tổ trưởng tổ dân phố; trưởng khu phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc; công chức, công an cấp xã hoặc Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi người được thông báo có địa chỉ, cư trú, công tác.

3. Khi thông báo trực tiếp cho cá nhân, văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đó.

Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó. Người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ tên của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo; cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không có người có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định tại Điều 17 Nghị định này.

Trường hợp người được thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới và cung cấp địa chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì thông báo theo địa chỉ mới của người được thông báo. Trường hợp người được thông báo không cung cấp địa chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì việc thông báo theo địa chỉ xác định trước đó được coi là hợp lệ.

4. Khi thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức, văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.

5. Địa chỉ gửi qua dịch vụ bưu chính và địa chỉ giao trực tiếp là địa chỉ của người được thông báo theo bản án, quyết định; theo kết quả xác minh hoặc do đương sự cung cấp.

6. Việc thông báo phải lập thành biên bản. Trường hợp người nhận thông báo từ chối, không ký nhận hoặc điểm chỉ thì nội dung này phải được ghi vào biên bản, có chữ ký của người chứng kiến. Ngày lập biên bản là ngày thông báo hợp lệ.

7. Người trực tiếp thực hiện việc thông báo quy định tại khoản 2 Điều này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện thủ tục thông báo theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 17. Niêm yết công khai

1. Việc niêm yết công khai văn bản thông báo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không xác định được số định danh của người được thông báo và không rõ địa chỉ của người được thông báo;

b) Không thực hiện được thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định này;

c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Văn bản thông báo được niêm yết tại các địa điểm sau đây:

a) Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc trụ sở khu phố, tổ dân phố, trụ sở nhà văn hóa thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc nơi người được thông báo cư trú, có trụ sở hoặc cư trú, có trụ sở cuối cùng; trường hợp không xác định được nơi người được thông báo cư trú, có trụ sở hoặc cư trú, có trụ sở cuối cùng thì niêm yết tại cơ quan thi hành án dân sự;

b) Nơi cư trú, có trụ sở hoặc nơi cư trú, có trụ sở cuối cùng của người được thông báo (nếu có).

3. Việc niêm yết công khai phải lập thành biên bản, ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến.

Ngày niêm yết là ngày thông báo hợp lệ. Thời hạn niêm yết công khai văn bản thông báo là 07 ngày kể từ ngày niêm yết.

Điều 18. Thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng

1. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi thông báo quyết định thi hành án trong vụ việc có nhiều đương sự do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự quyết định; trường hợp pháp luật có quy định hoặc khi người được thông báo có yêu cầu và chịu chi phí.

Ngoài ra, việc thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng có thể được công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Trường hợp xác định được người được thông báo đang có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

Trường hợp xác định được người được thông báo không có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở hoặc không xác định được người được thông báo đang có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

3. Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.

Xem nội dung VB
Điều 35. Thông báo thi hành án, gửi quyết định về thi hành án
...
3. Việc thông báo thi hành án được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;

b) Niêm yết công khai;

c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 15, 16, 17, 18 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 19. Thông báo trong trường hợp xác định được địa chỉ của người được thông báo ở nước ngoài

1. Trường hợp người được thông báo không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo quyết định thi hành án được thực hiện trên môi trường số, đồng thời thông báo theo một trong các hình thức quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự. Thời điểm thông báo hợp lệ thực hiện theo quy định tại các Điều 15, 16 và 18 Nghị định này.

Từ lần thông báo thứ hai trở đi, cơ quan thi hành án dân sự lựa chọn một trong các hình thức quy định tại khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự để thực hiện.

2. Trường hợp thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự thì hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không có kết quả, cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp đôn đốc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện việc tương trợ tư pháp về dân sự.

Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà nhận được đủ kết quả theo yêu cầu thì ngày nhận được kết quả là ngày thông báo hợp lệ. Trình tự, thủ tục yêu cầu thực hiện tương trợ tư pháp thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật về tương trợ tư pháp về dân sự.

3. Trường hợp hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được đủ kết quả theo yêu cầu hoặc có thông báo về việc không thực hiện được việc tương trợ tư pháp hoặc không thực hiện được việc thông báo theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự thì việc thông báo được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Ngày đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp là ngày thông báo hợp lệ.

Xem nội dung VB
Điều 35. Thông báo thi hành án, gửi quyết định về thi hành án
...
4. Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.

Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu tương trợ tư pháp để tống đạt giấy tờ theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự;

c) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cho người được thông báo là công dân Việt Nam;

d) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của người được thông báo đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với hình thức này;

đ) Thông báo qua văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc người đại diện tại Việt Nam của người được thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 15 đến Điều 20 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 15. Thông báo thi hành án trên môi trường số

1. Thông báo về thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trừ trường hợp quy định tại các Điều 16, 17, 18 và 19 Nghị định này.

2. Thông báo trên môi trường số được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID. Ngày ứng dụng VNeID báo đã gửi là ngày thông báo hợp lệ.

3. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm truy cập ứng dụng VNeID để nhận thông báo về thi hành án và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có trách nhiệm tích hợp, bảo mật, kết nối và chia sẻ các thông báo về thi hành án trên ứng dụng VNeID.

5. Trường hợp đương sự đề nghị thông báo trên phương tiện điện tử khác thì cơ quan thi hành án dân sự có thể thông báo đồng thời trên phương tiện đó.

Điều 16. Thông báo thi hành án qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo

1. Thông báo qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không xác định được số định danh của người được thông báo nhưng xác định được địa chỉ của người đó;

b) Thông báo quyết định thi hành án, trừ trường hợp quy định tại Điều 18 và Điều 19 Nghị định này;

c) Người được thông báo chứng minh không thể tiếp cận việc thông báo trên môi trường số;

d) Người được thông báo có yêu cầu và chịu chi phí.

2. Người trực tiếp thực hiện việc thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, bao gồm:

a) Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án;

b) Nhân viên bưu chính; Thừa hành viên; người được cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền; tổ trưởng tổ dân phố; trưởng khu phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc; công chức, công an cấp xã hoặc Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi người được thông báo có địa chỉ, cư trú, công tác.

3. Khi thông báo trực tiếp cho cá nhân, văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đó.

Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó. Người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ tên của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo; cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không có người có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định tại Điều 17 Nghị định này.

Trường hợp người được thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới và cung cấp địa chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì thông báo theo địa chỉ mới của người được thông báo. Trường hợp người được thông báo không cung cấp địa chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì việc thông báo theo địa chỉ xác định trước đó được coi là hợp lệ.

4. Khi thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức, văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.

5. Địa chỉ gửi qua dịch vụ bưu chính và địa chỉ giao trực tiếp là địa chỉ của người được thông báo theo bản án, quyết định; theo kết quả xác minh hoặc do đương sự cung cấp.

6. Việc thông báo phải lập thành biên bản. Trường hợp người nhận thông báo từ chối, không ký nhận hoặc điểm chỉ thì nội dung này phải được ghi vào biên bản, có chữ ký của người chứng kiến. Ngày lập biên bản là ngày thông báo hợp lệ.

7. Người trực tiếp thực hiện việc thông báo quy định tại khoản 2 Điều này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện thủ tục thông báo theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 17. Niêm yết công khai

1. Việc niêm yết công khai văn bản thông báo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không xác định được số định danh của người được thông báo và không rõ địa chỉ của người được thông báo;

b) Không thực hiện được thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định này;

c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Văn bản thông báo được niêm yết tại các địa điểm sau đây:

a) Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc trụ sở khu phố, tổ dân phố, trụ sở nhà văn hóa thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc nơi người được thông báo cư trú, có trụ sở hoặc cư trú, có trụ sở cuối cùng; trường hợp không xác định được nơi người được thông báo cư trú, có trụ sở hoặc cư trú, có trụ sở cuối cùng thì niêm yết tại cơ quan thi hành án dân sự;

b) Nơi cư trú, có trụ sở hoặc nơi cư trú, có trụ sở cuối cùng của người được thông báo (nếu có).

3. Việc niêm yết công khai phải lập thành biên bản, ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến.

Ngày niêm yết là ngày thông báo hợp lệ. Thời hạn niêm yết công khai văn bản thông báo là 07 ngày kể từ ngày niêm yết.

Điều 18. Thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng

1. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi thông báo quyết định thi hành án trong vụ việc có nhiều đương sự do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự quyết định; trường hợp pháp luật có quy định hoặc khi người được thông báo có yêu cầu và chịu chi phí.

Ngoài ra, việc thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng có thể được công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Trường hợp xác định được người được thông báo đang có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

Trường hợp xác định được người được thông báo không có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở hoặc không xác định được người được thông báo đang có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

3. Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.

Điều 19. Thông báo trong trường hợp xác định được địa chỉ của người được thông báo ở nước ngoài

1. Trường hợp người được thông báo không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo quyết định thi hành án được thực hiện trên môi trường số, đồng thời thông báo theo một trong các hình thức quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự. Thời điểm thông báo hợp lệ thực hiện theo quy định tại các Điều 15, 16 và 18 Nghị định này.

Từ lần thông báo thứ hai trở đi, cơ quan thi hành án dân sự lựa chọn một trong các hình thức quy định tại khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự để thực hiện.

2. Trường hợp thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự thì hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không có kết quả, cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp đôn đốc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện việc tương trợ tư pháp về dân sự.

Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà nhận được đủ kết quả theo yêu cầu thì ngày nhận được kết quả là ngày thông báo hợp lệ. Trình tự, thủ tục yêu cầu thực hiện tương trợ tư pháp thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật về tương trợ tư pháp về dân sự.

3. Trường hợp hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được đủ kết quả theo yêu cầu hoặc có thông báo về việc không thực hiện được việc tương trợ tư pháp hoặc không thực hiện được việc thông báo theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự thì việc thông báo được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Ngày đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp là ngày thông báo hợp lệ.

Điều 20. Gửi, nhận văn bản về thi hành án

1. Việc gửi, nhận văn bản, hồ sơ, tài liệu liên quan đến thi hành án dân sự được thực hiện trên môi trường số. Trường hợp cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự đã kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu khác thì việc gửi, nhận văn bản, hồ sơ, tài liệu có thể được thực hiện bằng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

2. Trường hợp không gửi, nhận được văn bản, hồ sơ, tài liệu trên môi trường số thì thực hiện như sau:

a) Các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án được gửi qua dịch vụ bưu chính dưới hình thức chuyển phát nhanh, có báo phát hoặc do Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao trực tiếp;

b) Các văn bản, hồ sơ, tài liệu khác được thực hiện qua dịch vụ bưu chính hoặc được giao trực tiếp.

3. Trường hợp Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao trực tiếp văn bản, hồ sơ, tài liệu cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức thì việc giao, nhận phải được lập thành biên bản, có chữ ký của Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án và người nhận; trường hợp người nhận không ký hoặc không nhận thì nội dung này phải được ghi vào biên bản, có chữ ký của người chứng kiến.

Xem nội dung VB
Điều 35. Thông báo thi hành án, gửi quyết định về thi hành án

1. Quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

Việc thông báo được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung quyết định đó để thi hành.

3. Việc thông báo thi hành án được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;

b) Niêm yết công khai;

c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

4. Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.

Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu tương trợ tư pháp để tống đạt giấy tờ theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự;

c) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cho người được thông báo là công dân Việt Nam;

d) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của người được thông báo đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với hình thức này;

đ) Thông báo qua văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc người đại diện tại Việt Nam của người được thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 15 đến Điều 20 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 1, 2, 3 Điều 25 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 25. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án

1. Trường hợp người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định có thể được chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự và niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người được thi hành án; trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì việc niêm yết được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của người đó. Việc thi hành án được thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo mà cơ quan thi hành án dân sự nhận được bản án, quyết định của Tòa án hoặc văn bản phân chia di sản thừa kế có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật hoặc căn cứ khác xác định người được thi hành án có người thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án cho những người thừa kế và tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định.

Người cung cấp thông tin, tài liệu quy định tại điểm này phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các thông tin, tài liệu đã cung cấp;

b) Trường hợp không có căn cứ xác định người được thi hành án có người thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 48 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về trả tài sản chết nhưng có người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự ấn định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo để người quản lý, sử dụng tài sản của người phải thi hành án giao tài sản cho người được thi hành án. Hết thời hạn đã ấn định mà họ không thực hiện thì cơ quan thi hành án dân sự tổ chức giao tài sản, kể cả cưỡng chế đối với người đang quản lý, sử dụng tài sản để giao tài sản theo quy định của pháp luật mà không ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án.

3. Trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà người phải thi hành án chết nhưng có tài sản để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án mà không ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án. Trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án về việc phân chia di sản thừa kế hoặc văn bản phân chia di sản có công chứng hoặc chứng thực thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo, ấn định thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo để người thừa kế thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án. Hết thời hạn đã ấn định mà người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 41. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án
...
2. Trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế và hướng dẫn của Chính phủ.

Nếu thi hành nghĩa vụ về trả tài sản mà người phải thi hành án chết thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành án theo quy định của Luật này.

Nếu thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà người phải thi hành án chết nhưng có tài sản để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án theo quy định của Luật này, trừ trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về việc phân chia di sản thừa kế hoặc những người thừa kế thỏa thuận về việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 1, 2, 3 Điều 25 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 4, 5 Điều 25 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 25. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án
...
4. Thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật Thi hành án dân sự phải lập thành văn bản; có chữ ký xác nhận của người chuyển giao, người nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án, phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật khác có liên quan và phải được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thỏa thuận, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án.

5. Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật khác có liên quan được thực hiện trước khi Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án thì người nhận chuyển giao có các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 41. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án
...
3. Trường hợp đương sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba thì thực hiện như sau:

a) Người được thi hành án chuyển giao quyền được thi hành án của mình thì không cần có sự đồng ý của người phải thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác;

b) Người phải thi hành án chuyển giao nghĩa vụ thi hành án của mình thì phải được sự đồng ý của người được thi hành án;

c) Người chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự và các đương sự khác về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 4, 5 Điều 25 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án
...
2. Trường hợp thanh toán tiền khi xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự có nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán cho những người đã yêu cầu theo tỷ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào ngân hàng thương mại theo hình thức tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo cho những người chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà cơ quan thi hành án dân sự không nhận được yêu cầu thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành án trong bản án, quyết định đó; số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác (nếu có) tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả cho người có tài sản bị kê biên, xử lý.

Xem nội dung VB
Điều 54. Thanh toán tiền thi hành án
...
3. Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể đã được xác định trong bản án, quyết định thì số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đó được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ các chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này, các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản và án phí của bản án, quyết định đó.

Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 3, 4 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án
...
3. Trường hợp kéo dài thời hạn thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại khoản 6 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Việc thi hành án có số người được thi hành án nhiều, số tiền thu được ít và cơ quan thi hành án dân sự đang tiếp tục xử lý tài sản khác để thi hành án; thời hạn kéo dài không quá 45 ngày;

b) Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chưa chi trả tiền thi hành án theo quy định của pháp luật;

c) Có khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị liên quan đến việc xử lý số tiền, tài sản đó;

d) Xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến không thể thanh toán đúng thời hạn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

4. Thời hạn thanh toán tiền quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều này không quá 10 ngày kể từ ngày căn cứ kéo dài thời hạn thanh toán tiền không còn hoặc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Xem nội dung VB
Điều 54. Thanh toán tiền thi hành án
...
6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền thi hành án hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều này, trừ trường hợp cần kéo dài thời hạn thanh toán theo quy định của Chính phủ.

Việc thanh toán tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp không thể chuyển khoản thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ. Trường hợp đương sự không đến nhận thì số tiền đó được xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 3, 4 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 1 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án

1. Trường hợp nhiều người được nhận chung một khoản tiền theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những người đã yêu cầu, thanh toán tiền cho một trong những người được thi hành án đã yêu cầu hoặc người được thi hành án tại thời điểm thanh toán tiền và thu phí thi hành án đối với người được nhận tiền. Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những người đã yêu cầu, tổ chức giao tài sản cho những người được thi hành án đã yêu cầu hoặc những người được thi hành án có mặt tại thời điểm trả tài sản và thu phí thi hành án đối với những người được nhận tài sản. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định tuyên chia tài sản chung, chia thừa kế; chia tài sản trong ly hôn hoặc các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản thì những người được nhận tiền, tài sản phải nộp phí thi hành án tương ứng với giá trị tiền, tài sản họ thực nhận.

Xem nội dung VB
Điều 54. Thanh toán tiền thi hành án
...
2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:

a) Theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;

b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án theo một hoặc nhiều bản án, quyết định đã có yêu cầu của đương sự đang do cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế.

Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán;

c) Sau khi thanh toán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 1 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 5, 6, 7 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án
...
5. Số tiền thi hành án thu được phải nộp vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại ngân hàng thương mại hoặc mở tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật. Cơ quan thi hành án dân sự mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại để thu, chi tiền thi hành án.

Việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản hoặc thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được pháp luật công nhận từ tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự; trường hợp người được nhận tiền là cá nhân không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì thanh toán trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì việc chi trả tiền thi hành án chỉ thực hiện bằng chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp bản án, quyết định có nội dung khác. Trường hợp tại thời điểm thanh toán mà cơ quan, tổ chức đó đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi loại hình, sắp xếp lại, kết thúc hoạt động hoặc trường hợp khác mà không xác định được số tài khoản hoặc người được nhận tiền thì số tiền thi hành án được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự.

Đối với khoản tiền chi trả cho người được nhận là cá nhân, sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự mà người được nhận tiền không đến nhận nếu đã xác định được địa chỉ rõ ràng của họ và khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở thì cơ quan thi hành án dân sự lập phiếu chi và gửi tiền cho họ qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp doanh nghiệp bưu chính trả lại tiền do không có người nhận thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và khoản 2 Điều 41 Nghị định này.

6. Trường hợp bản án, quyết định tuyên trả tiền bằng ngoại tệ cho người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án thực hiện như sau:

a) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu ngoại tệ thì thanh toán cho người được thi hành án bằng ngoại tệ;

b) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu tiền Việt Nam đồng thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên đổi số tiền thu được sang ngoại tệ theo giá bán của Ngân hàng thương mại để thanh toán cho người được thi hành án; trừ trường hợp đương sự thỏa thuận về việc trả bằng tiền Việt Nam đồng.

7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền mà chưa giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng thương mại theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản.

Phần lãi từ tiền gửi phát sinh trong thời hạn giao tài sản quy định tại Điều 67 Nghị định này được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; phần lãi từ tiền gửi phát sinh ngoài thời hạn giao tài sản hoặc trong trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy thuộc về người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.

8. Cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền thi hành án đã thu theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng thương mại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án hoặc thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án để cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc kể từ ngày có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại.

Phần lãi tiền gửi tiết kiệm được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản thi hành án hoặc giao tài sản cho người được thi hành án nhận để trừ vào tiền thi hành án thì phần lãi tiền gửi tiết kiệm thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều này.

Xem nội dung VB
Điều 54. Thanh toán tiền thi hành án
...
6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền thi hành án hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều này, trừ trường hợp cần kéo dài thời hạn thanh toán theo quy định của Chính phủ.

Việc thanh toán tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp không thể chuyển khoản thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ. Trường hợp đương sự không đến nhận thì số tiền đó được xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Khoản này được hướng dẫn bởi khoản 5, 6, 7 Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 29, Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 29. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án

1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên lãi chậm thi hành án thì khi thu được tiền, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán số tiền được tuyên trong bản án, quyết định theo quyết định thi hành án trước, sau đó mới thanh toán tiền lãi chậm thi hành án theo yêu cầu tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác hoặc bản án, quyết định có nội dung khác.

2. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành theo quyết định thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả.

Thời điểm bắt đầu tính lãi chậm thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định; trường hợp bản án, quyết định không xác định thì được tính từ ngày yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này. Lãi chậm thi hành án được tính đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự thu được tiền; trường hợp bán tài sản hoặc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án thì lãi chậm thi hành án được tính đến thời điểm giao tài sản cho người mua được tài sản hoặc người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án.

3. Trường hợp có quyết định kê biên bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự thì thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán là thời điểm có quyết định kê biên ban đầu.

Trường hợp người phải thi hành án thỏa thuận với người được thi hành án về việc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án thì thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán là thời điểm có biên bản về việc giao tài sản quy định tại khoản 6 Điều 14 Nghị định này.

Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án

1. Trường hợp nhiều người được nhận chung một khoản tiền theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những người đã yêu cầu, thanh toán tiền cho một trong những người được thi hành án đã yêu cầu hoặc người được thi hành án tại thời điểm thanh toán tiền và thu phí thi hành án đối với người được nhận tiền. Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những người đã yêu cầu, tổ chức giao tài sản cho những người được thi hành án đã yêu cầu hoặc những người được thi hành án có mặt tại thời điểm trả tài sản và thu phí thi hành án đối với những người được nhận tài sản. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định tuyên chia tài sản chung, chia thừa kế; chia tài sản trong ly hôn hoặc các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản thì những người được nhận tiền, tài sản phải nộp phí thi hành án tương ứng với giá trị tiền, tài sản họ thực nhận.

2. Trường hợp thanh toán tiền khi xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự có nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán cho những người đã yêu cầu theo tỷ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào ngân hàng thương mại theo hình thức tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo cho những người chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà cơ quan thi hành án dân sự không nhận được yêu cầu thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành án trong bản án, quyết định đó; số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác (nếu có) tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả cho người có tài sản bị kê biên, xử lý.

3. Trường hợp kéo dài thời hạn thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại khoản 6 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Việc thi hành án có số người được thi hành án nhiều, số tiền thu được ít và cơ quan thi hành án dân sự đang tiếp tục xử lý tài sản khác để thi hành án; thời hạn kéo dài không quá 45 ngày;

b) Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chưa chi trả tiền thi hành án theo quy định của pháp luật;

c) Có khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị liên quan đến việc xử lý số tiền, tài sản đó;

d) Xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến không thể thanh toán đúng thời hạn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

4. Thời hạn thanh toán tiền quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều này không quá 10 ngày kể từ ngày căn cứ kéo dài thời hạn thanh toán tiền không còn hoặc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

5. Số tiền thi hành án thu được phải nộp vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại ngân hàng thương mại hoặc mở tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật. Cơ quan thi hành án dân sự mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại để thu, chi tiền thi hành án.

Việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản hoặc thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được pháp luật công nhận từ tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự; trường hợp người được nhận tiền là cá nhân không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì thanh toán trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì việc chi trả tiền thi hành án chỉ thực hiện bằng chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp bản án, quyết định có nội dung khác. Trường hợp tại thời điểm thanh toán mà cơ quan, tổ chức đó đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi loại hình, sắp xếp lại, kết thúc hoạt động hoặc trường hợp khác mà không xác định được số tài khoản hoặc người được nhận tiền thì số tiền thi hành án được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự.

Đối với khoản tiền chi trả cho người được nhận là cá nhân, sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự mà người được nhận tiền không đến nhận nếu đã xác định được địa chỉ rõ ràng của họ và khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở thì cơ quan thi hành án dân sự lập phiếu chi và gửi tiền cho họ qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp doanh nghiệp bưu chính trả lại tiền do không có người nhận thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và khoản 2 Điều 41 Nghị định này.

6. Trường hợp bản án, quyết định tuyên trả tiền bằng ngoại tệ cho người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án thực hiện như sau:

a) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu ngoại tệ thì thanh toán cho người được thi hành án bằng ngoại tệ;

b) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu tiền Việt Nam đồng thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên đổi số tiền thu được sang ngoại tệ theo giá bán của Ngân hàng thương mại để thanh toán cho người được thi hành án; trừ trường hợp đương sự thỏa thuận về việc trả bằng tiền Việt Nam đồng.

7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền mà chưa giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng thương mại theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản.

Phần lãi từ tiền gửi phát sinh trong thời hạn giao tài sản quy định tại Điều 67 Nghị định này được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; phần lãi từ tiền gửi phát sinh ngoài thời hạn giao tài sản hoặc trong trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy thuộc về người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.

8. Cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền thi hành án đã thu theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng thương mại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án hoặc thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án để cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc kể từ ngày có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại.

Phần lãi tiền gửi tiết kiệm được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản thi hành án hoặc giao tài sản cho người được thi hành án nhận để trừ vào tiền thi hành án thì phần lãi tiền gửi tiết kiệm thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều này.

9. Chi phí chuyển tiền thi hành án do người được nhận tiền chịu.

10. Việc quản lý, sử dụng tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Xem nội dung VB
Điều 54. Thanh toán tiền thi hành án

1. Sau khi trừ các chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì số tiền thi hành án được thanh toán cho các nghĩa vụ thi hành án theo thứ tự sau đây:

a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần;

b) Án phí, lệ phí Tòa án;

c) Tiền phạt; khoản truy thu tiền để sung quỹ nhà nước;

d) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế;

đ) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.

2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:

a) Theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;

b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án theo một hoặc nhiều bản án, quyết định đã có yêu cầu của đương sự đang do cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế.

Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán;

c) Sau khi thanh toán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.

3. Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể đã được xác định trong bản án, quyết định thì số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đó được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ các chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này, các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản và án phí của bản án, quyết định đó.

Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này.

4. Thứ tự thanh toán trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng sau khi trừ khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này.

5. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản thực hiện theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản.

6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền thi hành án hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều này, trừ trường hợp cần kéo dài thời hạn thanh toán theo quy định của Chính phủ.

Việc thanh toán tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp không thể chuyển khoản thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ. Trường hợp đương sự không đến nhận thì số tiền đó được xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 29, Điều 30 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 42 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 42. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án

1. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định xử lý tài sản ủy thác; nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án, người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 và khoản 8 Điều 25 của Luật Thi hành án dân sự; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế để lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.

2. Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.

3. Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Khi thực hiện kiểm tra hiện trạng, đo vẽ, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản, giao tài sản hoặc các trường hợp cần thiết khác, Chấp hành viên được áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 53 Nghị định này.

5. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng hoặc đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật và thực hiện như sau:

a) Trường hợp tài sản để thi hành án đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng về nghĩa vụ của người phải thi hành án. Tổ chức tín dụng đang thu giữ, xử lý tài sản có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, chuyển số tiền còn lại (nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xử lý tài sản;

b) Trường hợp tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế biết về nghĩa vụ của người phải thi hành án để phối hợp xử lý.

6. Trường hợp hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác trong trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành án, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.

Trường hợp doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã đó. Trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh.

Trường hợp cộng đồng dân cư là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản chung của cộng đồng dân cư.

7. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án; quyết định hủy bỏ, chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;

b) Đối với quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thì gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản và quyết định trừ vào thu nhập;

c) Cơ quan có thẩm quyền đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

8. Trường hợp người được thi hành án là người yêu cầu thi hành án và đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự. Sau khi đã yêu cầu ít nhất 02 lần mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên không xử lý tài sản và thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định này.

Trường hợp người được thi hành án đó giao nộp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 11 Nghị định này.

9. Trường hợp tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự là trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn hoặc lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.

10. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án là đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 88 Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án

1. Người phải thi hành án bị áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm thi hành án sau đây nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án:

a) Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ;

b) Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản;

c) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

d) Tạm hoãn xuất cảnh.

2. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.

Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không phải thông báo trước cho đương sự.

3. Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

4. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 42 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 42 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 42. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án

1. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định xử lý tài sản ủy thác; nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án, người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 và khoản 8 Điều 25 của Luật Thi hành án dân sự; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế để lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.

2. Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.

3. Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Khi thực hiện kiểm tra hiện trạng, đo vẽ, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản, giao tài sản hoặc các trường hợp cần thiết khác, Chấp hành viên được áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 53 Nghị định này.

5. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng hoặc đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật và thực hiện như sau:

a) Trường hợp tài sản để thi hành án đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng về nghĩa vụ của người phải thi hành án. Tổ chức tín dụng đang thu giữ, xử lý tài sản có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, chuyển số tiền còn lại (nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xử lý tài sản;

b) Trường hợp tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế biết về nghĩa vụ của người phải thi hành án để phối hợp xử lý.

6. Trường hợp hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác trong trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành án, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.

Trường hợp doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã đó. Trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh.

Trường hợp cộng đồng dân cư là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản chung của cộng đồng dân cư.

7. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án; quyết định hủy bỏ, chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;

b) Đối với quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thì gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản và quyết định trừ vào thu nhập;

c) Cơ quan có thẩm quyền đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

8. Trường hợp người được thi hành án là người yêu cầu thi hành án và đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự. Sau khi đã yêu cầu ít nhất 02 lần mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên không xử lý tài sản và thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định này.

Trường hợp người được thi hành án đó giao nộp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 11 Nghị định này.

9. Trường hợp tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự là trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn hoặc lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.

10. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án là đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 88 Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 72. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án

1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.

2. Căn cứ ra quyết định cưỡng chế thi hành án:

a) Bản án, quyết định;

b) Quyết định thi hành án;

c) Người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án.

3. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:

a) Tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản;

b) Tài sản đã được bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án;

c) Tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

d) Người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế thi hành án khi có quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc bản án, quyết định đã tuyên kê biên tài sản.

5. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

6. Trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng thì thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Kế hoạch cưỡng chế phải có tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế và các nội dung khác theo quy định của pháp luật;

b) Cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế thi hành án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế.

Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội;

c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

7. Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho đương sự biết ít nhất 02 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 42 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Xây dựng kế hoạch cưỡng chế, phối hợp thực hiện cưỡng chế và giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế được hướng dẫn bởi Điều 46, 47, 48 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 46. Xây dựng kế hoạch cưỡng chế

1. Trước khi ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có văn bản gửi cơ quan công an cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế để thống nhất các nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế.

2. Văn bản trao đổi bao gồm các nội dung chính sau đây:

a) Họ tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế;

b) Điều kiện, kết quả thi hành án của người bị cưỡng chế;

c) Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;

d) Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; tính chất phức tạp của vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng chống đối của người bị cưỡng chế và gia đình người bị cưỡng chế và các nội dung khác có liên quan);

đ) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế; các trang thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trao đổi, thủ trưởng cơ quan công an cấp xã phải trả lời về các nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương hoặc liên quan đến nhiều địa bàn cấp xã thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan công an cấp xã báo cáo cơ quan công an cấp tỉnh để chỉ đạo. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của công an cấp xã, công an cấp tỉnh phải có văn bản trả lời và cho ý kiến về nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Công an cấp tỉnh chỉ đạo việc bảo vệ cưỡng chế của công an cấp xã.

4. Trường hợp cơ quan công an có ý kiến khác về nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương xem xét quyết định và chỉ đạo việc cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thống nhất ý kiến với cơ quan công an hoặc có ý kiến chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc của Tư lệnh quân khu và tương đương thì Chấp hành viên phải dự thảo xong kế hoạch cưỡng chế trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, phê duyệt.

6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp xã phải xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế. Việc xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.

Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế đã được phê duyệt phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự trước khi tiến hành cưỡng chế 05 ngày làm việc; đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức khác có liên quan để kịp thời triển khai, thực hiện các nhiệm vụ được phân công.

Điều 47. Phối hợp thực hiện cưỡng chế

1. Lực lượng công an có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn, ngăn chặn, xử lý các hành vi chống đối, cản trở trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế.

2. Trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố đề nghị Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp tham gia cưỡng chế thi hành án.

3. Trước thời điểm cưỡng chế ít nhất 01 ngày làm việc, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cuộc họp với cơ quan công an và cơ quan, tổ chức có liên quan để triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế.

4. Tại buổi cưỡng chế, việc phối hợp được thực hiện như sau:

a) Lực lượng công an được phân công bảo vệ cưỡng chế thi hành án phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ việc cưỡng chế để duy trì trật tự và bảo đảm an toàn trong suốt quá trình diễn ra cưỡng chế.

Các lực lượng chức năng thuộc cơ quan công an và các lực lượng khác được giao nhiệm vụ phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải tuân thủ mệnh lệnh và điều hành trực tiếp của người chỉ huy lực lượng công an tham gia bảo vệ cưỡng chế;

b) Lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của Chấp hành viên chủ trì, điều hành việc cưỡng chế.

5. Cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cơ quan, đơn vị cấp dưới thuộc quyền thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự.

6. Cơ quan thi hành án cấp quân khu đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế cử đại diện tham gia cưỡng chế, đồng thời phối hợp với lực lượng công an xã để tham gia bảo vệ cưỡng chế.

Điều 48. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế

1. Trong quá trình diễn ra cưỡng chế, chỉ huy lực lượng công an bảo vệ cưỡng chế và các lực lượng tham gia cưỡng chế phải thông báo kịp thời cho Chấp hành viên chủ trì, điều hành buổi cưỡng chế biết những diễn biến phức tạp về an ninh, trật tự an toàn xã hội để có biện pháp xử lý.

2. Khi có tình huống xảy ra thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào thì cơ quan đó chủ trì xử lý, các cơ quan khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp.

3. Trường hợp có căn cứ cho rằng vụ việc có khả năng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành cưỡng chế chưa có biện pháp khắc phục, giải quyết thì cơ quan công an có thể đề nghị người chủ trì thực hiện việc cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 72. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
...
6. Trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng thì thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Kế hoạch cưỡng chế phải có tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế và các nội dung khác theo quy định của pháp luật;

b) Cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế thi hành án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế.

Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội;

c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.
Xây dựng kế hoạch cưỡng chế, phối hợp thực hiện cưỡng chế và giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế được hướng dẫn bởi Điều 46, 47, 48 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 49 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 49. Khấu trừ tiền trong tài khoản

1. Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau:

a) Ngày, tháng, năm ban hành quyết định;

b) Căn cứ ban hành quyết định;

c) Tên tài khoản, số tài khoản của người phải thi hành án;

d) Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản;

đ) Số tiền phải khấu trừ;

e) Tên tài khoản, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản tiền bị khấu trừ;

g) Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.

2. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có tài khoản tại nhiều Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí thi hành án.

3. Ngay sau khi nhận được quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản có trách nhiệm thực hiện quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản.

4. Đối với tài khoản của người phải thi hành án mở tại Kho bạc Nhà nước thì chỉ thực hiện khấu trừ đối với: kinh phí thực hiện các khoản thu, chi dịch vụ, liên doanh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; các khoản tiền gửi khác của cơ quan, đơn vị, tổ chức và tiền gửi của cá nhân mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.

5. Không khấu trừ đối với các tài khoản: Quỹ ngân sách nhà nước các cấp; kinh phí ngân sách nhà nước (bao gồm cả kinh phí trên tài khoản tiền gửi dự toán, đầu tư; tiền gửi thu phí, lệ phí theo quy định tại Luật Phí, lệ phí) giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án; các khoản tạm thu, tạm giữ giao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Xem nội dung VB
Điều 73. Khấu trừ tiền trong tài khoản

1. Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, trừ trường hợp không được khấu trừ theo quy định của pháp luật. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.

2. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 49 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 50 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 50. Thu tiền của người phải thi hành án

1. Khi thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên thu tiền theo định kỳ hằng tháng, quý hoặc năm tùy theo tính chất ngành nghề kinh doanh của người phải thi hành án.

Chấp hành viên căn cứ vào kết quả kinh doanh trên cơ sở sổ sách, giấy tờ và tình hình kinh doanh thực tế để xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án.

Chấp hành viên căn cứ vào đề nghị của người phải thi hành án; tài liệu do người phải thi hành án cung cấp; tính chất ngành, nghề kinh doanh; quy mô kinh doanh của người phải thi hành án để xác định hoặc điều chỉnh mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động kinh doanh.

Người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp các tài liệu chứng minh để xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh và mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của Chấp hành viên. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể đề nghị cơ quan chuyên môn có liên quan phối hợp để xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh và mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động kinh doanh.

Mức tiền tối thiểu để lại cho sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang thực tế sinh sống, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.

2. Khi có căn cứ xác định cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản hoặc có văn bản ấn định thời hạn, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ tiền giao nộp cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

Hết thời hạn đã được ấn định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tiền của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu thì Chấp hành viên ra quyết định thu số tiền đó để thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 74. Thu tiền của người phải thi hành án

1. Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.

Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình.

2. Trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án, trừ trường hợp có căn cứ xác định khoản tiền đó không phải của người phải thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp số tiền cho cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án. Trường hợp họ không thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định thu số tiền đó để thi hành án.

Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên mà giao số tiền đó cho người phải thi hành án hoặc người khác dẫn đến không thể thi hành cho người được thi hành án thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân khác phải trả tiền cho người phải thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp tiền để thi hành án. Nếu họ không thực hiện thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với tổ chức, cá nhân đó để thu tiền. Chi phí cưỡng chế trong trường hợp này do tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế chịu;

b) Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự khác thi hành thì Chấp hành viên thông báo và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 50 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 52 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 52. Cưỡng chế khai thác tài sản

1. Chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền, thời hạn, thời điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

Quyết định cưỡng chế khai thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với tài sản đó và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.

2. Việc thực hiện giao dịch, chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của Chấp hành viên. Người khai thác tài sản không nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 77 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên quyết định giao tổ chức, cá nhân khác khai thác hoặc kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 77. Khai thác tài sản

1. Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành mà tài sản đó có thể khai thác để thi hành án;

b) Người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

2. Việc cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án được thực hiện như sau:

a) Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác.

Trường hợp tài sản chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng để khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản;

b) Người khai thác tài sản quy định tại điểm a khoản này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết;

c) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng để khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 52 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 54, 55, 56, 57, 58, 59 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 54. Kê biên tài sản để thi hành án
...
Điều 55. Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp
...
Điều 56. Kê biên quyền sử dụng đất
...
Điều 57. Phong tỏa, kê biên, xử lý chứng khoán, cổ phần, phần vốn góp, giấy tờ có giá
...
Điều 58. Kê biên, xử lý tài sản hình thành trong tương lai
...
Điều 59. Kê biên, xử lý tài sản là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên

Xem nội dung VB
Điều 78. Quyết định kê biên tài sản

1. Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Trường hợp người thứ ba đang giữ hoặc phải trả tài sản cho người phải thi hành án mà tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc trường hợp khác được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.

2. Chấp hành viên không ra quyết định kê biên tài sản trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Ra quyết định kê biên đối với một số loại tài sản cụ thể:

a) Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp quyền sử dụng đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất. Việc xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật này.

Trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất đó thì Chấp hành viên kê biên khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp người phải thi hành án có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình thì Chấp hành viên chỉ kê biên khi người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở đó để thi hành án hoặc trường hợp nhà ở được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

c) Trường hợp tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó thì không phải kê biên cả quyền sử dụng đất.

Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng và quyền sử dụng đất nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng của người phải thi hành án nếu việc tách rời nhà ở, công trình xây dựng và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản;

d) Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án.

Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang được bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;

đ) Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi thì Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 79 của Luật này;

e) Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.

Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.

Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 54, 55, 56, 57, 58, 59 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Cưỡng chế mở khóa, mở gói được hướng dẫn bởi Điều 53 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 53. Cưỡng chế mở khóa, mở gói

Việc cưỡng chế mở khóa, mở gói theo quy định tại các Điều 37, 80 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện như sau:

1. Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản, đồ vật mở khóa, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người chứng kiến. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản, đồ vật phải chịu thiệt hại do việc mở khóa, mở gói.

2. Trường hợp cần thiết, sau khi mở khóa, mở gói, Chấp hành viên niêm phong tài sản, đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Việc mở khóa, mở gói, niêm phong phải lập thành biên bản, có chữ ký của đại diện Viện kiểm sát nhân dân (nếu có), những người tham gia và người chứng kiến.

Xem nội dung VB
Điều 80. Thực hiện kê biên
...
2. Thực hiện kê biên đối với một số tài sản cụ thể:
...
đ) Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình xây dựng hoặc tài sản khác mà người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản vắng mặt hoặc không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế mở khóa, mở gói; buộc ra khỏi nhà, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất; các biện pháp cần thiết khác để tiến hành kê biên, cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng. Người phải thi hành án phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại do việc cưỡng chế;
Cưỡng chế mở khóa, mở gói được hướng dẫn bởi Điều 53 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Cưỡng chế mở khóa, mở gói được hướng dẫn bởi Điều 53 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 53. Cưỡng chế mở khóa, mở gói

Việc cưỡng chế mở khóa, mở gói theo quy định tại các Điều 37, 80 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện như sau:

1. Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản, đồ vật mở khóa, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người chứng kiến. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản, đồ vật phải chịu thiệt hại do việc mở khóa, mở gói.

2. Trường hợp cần thiết, sau khi mở khóa, mở gói, Chấp hành viên niêm phong tài sản, đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Việc mở khóa, mở gói, niêm phong phải lập thành biên bản, có chữ ký của đại diện Viện kiểm sát nhân dân (nếu có), những người tham gia và người chứng kiến.

Xem nội dung VB
Điều 37. Xác minh điều kiện thi hành án
...
4. Khi xác minh điều kiện thi hành án, trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên thực hiện như sau:

a) Yêu cầu đương sự cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án; yêu cầu người phải thi hành án nộp các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và các tài liệu khác có liên quan đến điều kiện thi hành án;

b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ thông tin tài sản, tài khoản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cung cấp thông tin, giao nộp hoặc cung cấp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất; những tài liệu có liên quan đến giải quyết việc thi hành án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ;

c) Xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, thu nhập và các điều kiện khác của người phải thi hành án. Trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên có quyền:

Yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn để xem xét hiện trạng tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản của người phải thi hành án hoặc làm rõ các nội dung cần xác minh.

Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định số cổ phần, phần vốn góp, tài sản số và các tài sản đặc thù khác của người phải thi hành án.

Trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định giá trị tài sản của người phải thi hành án.

Tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan chuyên môn thực hiện đo vẽ, xác định ranh giới, mốc giới đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh;
Cưỡng chế mở khóa, mở gói được hướng dẫn bởi Điều 53 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
... này được hướng dẫn bởi Điều 55 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 55. Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp

1. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Trường hợp tài sản đang được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Giá trị tài sản bảo đảm ước tính lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án;

b) Thuộc trường hợp được kê biên theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

3. Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp hoặc thuộc trường hợp không được kê biên theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự.

Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có.

Trường hợp người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp mà giá trị tài sản sau khi giảm giá bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án thì người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án có trách nhiệm ra ngay quyết định thu hồi quyết định kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 của Luật Thi hành án dân sự; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự.

5. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp thì người nhận cầm cố, nhận thế chấp phải cung cấp thông tin, giao nộp hoặc cung cấp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất; những tài liệu có liên quan đến việc thi hành án mà họ đang quản lý, lưu giữ và phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp.

Xem nội dung VB
Điều 78. Quyết định kê biên tài sản
...
3. Ra quyết định kê biên đối với một số loại tài sản cụ thể:
...
d) Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án.

Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang được bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;
... này được hướng dẫn bởi Điều 55 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 63, 64, 65 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 63. Bán tài sản cho chủ sở hữu chung hoặc người được quyền ưu tiên mua

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, thẩm định giá lại hoặc có kết quả xác định giá, xác định giá lại thì Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên mua tài sản về quyền ưu tiên mua tài sản thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự. Chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên có quyền ưu tiên mua tài sản theo giá khởi điểm quy định tại khoản 4 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự hoặc giá khởi điểm của lần đấu giá tiếp theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp có nhiều chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên đề nghị mua tài sản thì Chấp hành viên thông báo cho họ thỏa thuận người được quyền mua. Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản. Việc bốc thăm được lập thành biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người chứng kiến (nếu có).

2. Trường hợp chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên mua tài sản, người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật Thi hành án dân sự.

Điều 64. Bán tài sản không qua thủ tục đấu giá

1. Chấp hành viên bán tài sản không qua thủ tục đấu giá đối với động sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 60 Nghị định này.

2. Trước thời điểm bán ít nhất 01 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự hoặc niêm yết công khai tại cơ quan thi hành án dân sự; đồng thời, thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền. Nội dung thông báo gồm: thông tin về tài sản; giá tài sản; địa điểm, thời gian bán tài sản.

Trường hợp có nhiều người tham gia mua tài sản thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để lựa chọn người mua được tài sản. Việc bán tài sản phải được lập thành biên bản, có chữ ký của Chấp hành viên, người mua được tài sản, người tham gia mua khác (nếu có).

3. Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc Chấp hành viên bán tài sản.

Điều 65. Bán đấu giá tài sản thi hành án

1. Người mua được tài sản đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày đấu giá thành; trường hợp đương sự và người mua trúng đấu giá tài sản thỏa thuận về việc gia hạn thì thời hạn nộp tiền có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày đấu giá thành. Thời điểm người mua được tài sản đấu giá hoàn thành việc nộp tiền trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc hoàn thành thủ tục nộp tiền qua tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc phương tiện thanh toán khác theo quy định của pháp luật là thời điểm nộp tiền hợp lệ.

Trường hợp người mua được tài sản đấu giá không nộp hoặc nộp không đủ tiền mua tài sản trong thời hạn nêu trên thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ quy định của pháp luật hủy bỏ giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc yêu cầu Tòa án hủy bỏ theo quy định của pháp luật.

2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người mua được tài sản đấu giá nộp đủ tiền mua tài sản mà cơ quan thi hành án dân sự chưa giao được tài sản cho người mua thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng thương mại theo quy định tại khoản 7 Điều 30 Nghị định này.

3. Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá. Tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

4. Trường hợp có căn cứ người tham gia đấu giá không được nhận lại tiền đặt trước quy định tại khoản 6 Điều 39 của Luật Đấu giá tài sản thì sau khi trừ chi phí đấu giá tài sản, tiền đặt trước được nộp vào ngân sách nhà nước và thực hiện theo quy định tại Điều 79 Nghị định này.

5. Kể từ thời điểm người mua trúng đấu giá chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá mà họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền mua tài sản quy định tại khoản 1 Điều này thì tiền đặt trước, tiền lãi (nếu có) thuộc về cơ quan thi hành án dân sự và được sử dụng để thanh toán khoản bảo đảm tài chính để thi hành án, các khoản chi quy định tại Điều 79 Nghị định này.

Trường hợp người mua được tài sản đấu giá không thực hiện đầy đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì tiền thanh toán mua tài sản đấu giá (trừ khoản tiền đặt trước, đặt cọc và tiền lãi của khoản tiền đó) được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản đấu giá và quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản.

6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đấu giá không thành, Chấp hành viên thông báo cho đương sự. Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà tài sản đấu giá không thành thì trong thông báo phải có nội dung về việc người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án trước khi Chấp hành viên ra quyết định giảm giá lần tiếp theo.

Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người được thi hành án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, người được thi hành án phải nộp tiền theo quy định tại Điều 66 Nghị định này.

7. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 84 của Luật Thi hành án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Trường hợp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật Thi hành án dân sự sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm;

b) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án;

c) Nhận được thông báo dừng xử lý tài sản ủy thác của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác xử lý tài sản;

d) Có căn cứ khác xác định tài sản đấu giá không đủ điều kiện đưa ra đấu giá.

8. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 84 của Luật Thi hành án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chung hoặc người được quyền ưu tiên thực hiện việc mua tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Trường hợp đang bán tài sản theo quy định tại Điều 59, khoản 2 Điều 81, điểm a khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự mà người có tài sản đến nhận lại tài sản. Người có tài sản phải thanh toán toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến việc xử lý tài sản (nếu có);

c) Người phải thi hành án đã nộp đủ tiền để nhận lại tài sản;

d) Người được thi hành án được nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

9. Sau khi yêu cầu tạm dừng việc tổ chức đấu giá mà căn cứ tạm dừng không còn thì Chấp hành viên tiếp tục tổ chức thi hành án và xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.

10. Việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

11. Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, đấu giá viên có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đấu giá tài sản thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 83. Bán tài sản kê biên

1. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung hoặc trường hợp bản án, quyết định tuyên hoặc pháp luật quy định tổ chức, cá nhân được quyền ưu tiên mua tài sản, Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung, tổ chức, cá nhân về quyền ưu tiên mua tài sản thi hành án theo giá khởi điểm.

Thời hạn thực hiện quyền ưu tiên mua là 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản kê từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà người được ưu tiên mua không nộp tiền mua thì tài sản được bán theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.

2. Việc bán tài sản kê biên thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật này mà đương sự không yêu cầu thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Trường hợp thẩm định giá lại, xác định giá lại thì thời hạn ký hợp đồng là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá lại hoặc có kết quả xác định giá lại.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn trên mà không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa bàn thực hiện việc đấu giá tài sản.

Việc tổ chức đấu giá đối với động sản được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định giá, Chấp hành viên bán tài sản không qua thủ tục đấu giá đối với động sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng;

c) Việc bán tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đấu giá không thành, Chấp hành viên ra quyết định giảm giá để tiếp tục đấu giá tài sản. Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đầu giá liền kề trước đó. Giá đã giảm theo quyết định của Chấp hành viên là giá khởi điểm của lần đấu giá tiếp theo.

Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà tài sản đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án theo giá đã giảm lần sau cùng.

Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án mà người được thi hành án không nhận tài sản thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản đó tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

4. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án nộp đủ tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được nhận lại tài sản thi hành án.

Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

6. Trường hợp trong cùng một cuộc đấu giá mà có nhiều tài sản được đấu giá thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, Đấu giá viên thực hiện việc đấu giá theo thứ tự từ tài sản có giá trị lớn nhất.

7. Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Đấu giá viên thực hiện các thủ tục đấu giá tài sản và phải chịu trách nhiệm về việc đấu giá tài sản thi hành án theo quy định của Luật Đấu giá tài sản. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 63, 64, 65 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Giao tài sản để thi hành án và nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án được hướng dẫn bởi Điều 66, Điều 67 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 66. Nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án

1. Trường hợp người được thi hành án nhận tài sản của người phải thi hành án mà giá trị tài sản tại thời điểm nhận lớn hơn tổng số tiền phải thi hành án, chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì người nhận tài sản phải nộp số tiền tương ứng với giá trị tài sản sau khi đã trừ số tiền mà người đó được thi hành án.

2. Trường hợp người được thi hành án nhận tài sản của người phải thi hành án mà giá trị tài sản tại thời điểm nhận bằng hoặc nhỏ hơn tổng số tiền phải thi hành án, chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì người nhận tài sản phải nộp số tiền tương ứng với giá trị tài sản sau khi đã trừ số tiền tương ứng theo tỷ lệ mà họ được nhận.

Trường hợp giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án thì người nhận tài sản không phải nộp các khoản tiền nêu trên.

Điều 67. Giao tài sản để thi hành án

1. Thời hạn giao tài sản để thi hành án thực hiện như sau:

a) Giao cho người nhận tài sản trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thỏa thuận của các đương sự đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Giao cho người mua được tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Chấp hành viên bán tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự;

c) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền hoặc kể từ ngày người được thi hành án nộp đủ tiền để nhận tài sản trừ vào tiền thi hành án theo quy định tại khoản 6 Điều 65 Nghị định này, cơ quan thi hành án dân sự tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản, trừ trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

2. Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản.

Người đã nhận tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản yêu cầu người chiếm lại tài sản trả lại tài sản cho họ. Nếu người chiếm lại tài sản không trả lại thì người đã nhận tài sản có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

3. Mức tiền trích lại để người phải thi hành án thuê nhà trong thời hạn 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự là 12 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang cư trú.

4. Trường hợp đến hạn theo hợp đồng mua bán tài sản đấu giá mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 86. Giao tài sản để thi hành án

1. Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của những người được thi hành án khác;

b) Thanh toán số tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật này, các chi phí thi hành án do đương sự chịu, thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng và các khoản tiền khác theo quy định của Chính phủ.

2. Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.

3. Người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó.

4. Trường hợp người mua được tài sản đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản đấu giá nhưng bản án, quyết định bị sửa hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá, trừ trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

5. Trường hợp phải cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại các điều 88, 89 và 90 của Luật này.
Giao tài sản để thi hành án và nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án được hướng dẫn bởi Điều 66, Điều 67 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và cưỡng chế chuyển giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả hoặc không có lối đi được hướng dẫn bởi Điều 68, Điều 71 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 68. Kê biên, xử lý hoặc cưỡng chế chuyển giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả hoặc không có lối đi

1. Trước khi kê biên, xử lý, giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả, cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan di dời mồ mả ra khỏi diện tích đất. Trường hợp cần thiết, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ủy ban nhân dân có thẩm quyền bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ mả hoặc có chính sách hỗ trợ để khuyến khích hình thức hỏa táng, lưu giữ tro cốt tại các cơ sở lưu giữ tro cốt. Người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu các chi phí bao gồm: chi phí đào, bốc, di dời, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác để di dời mồ mả.

Trường hợp người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không di dời mồ mả thì Chấp hành viên kê biên, xử lý, giao đất theo quy định của pháp luật, bao gồm cả phần đất có mồ mả.

2. Trường hợp tài sản thi hành án là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất không có lối đi thì Chấp hành viên cho đương sự, người sử dụng đất liền kề thỏa thuận về việc mở lối đi. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật và hướng dẫn người mua tài sản, người nhận tài sản khởi kiện yêu cầu mở lối đi theo quy định của pháp luật về dân sự.
...
Điều 71. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất

1. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự mà quá thời hạn không nhận được văn bản trả lời của Tòa án hoặc nhận được văn bản trả lời của Tòa án về việc không có căn cứ kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản trên đất theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Trường hợp có tài sản của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 90. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất

1. Khi cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất, Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất đó cho người được thi hành án và thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 89 của Luật này.

Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.

2. Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản theo nội dung bản án, quyết định.

3. Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó chưa được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì thực hiện như sau:

a) Đối với tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao. Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà họ không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cùng với tài sản đó cho người được thi hành án. Quyền, nghĩa vụ của các bên thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này. Nếu người được thi hành án đồng ý cho để tài sản trên đất trong thời gian chờ xử lý thì Chấp hành viên giao đất sau khi đã xử lý xong tài sản; nếu người được thi hành án không đồng ý thì Chấp hành viên cưỡng chế di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao.

Người có tài sản đó được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật này;

b) Đối với tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và cưỡng chế chuyển giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả hoặc không có lối đi được hướng dẫn bởi Điều 68, Điều 71 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 70 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 70. Cưỡng chế giao, trả giấy tờ

1. Trường hợp người phải thi hành án không giao, trả giấy tờ cho người được thi hành án theo nội dung bản án, quyết định thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người phải thi hành án giao, trả giấy tờ đó.

Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao, trả giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao, trả thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao, trả giấy tờ để thi hành án.

2. Trường hợp đã thu được giấy tờ thì Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho người được nhận giấy tờ biết về việc nhận giấy tờ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Sau hai lần thông báo mà họ không đến nhận thì Chấp hành viên làm thủ tục chuyển cho cơ quan đã cấp giấy tờ đó để xử lý theo quy định của pháp luật và thông báo cho đương sự biết.

Trường hợp người được trả giấy tờ đang ở nước ngoài thì Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho người được nhận giấy tờ biết về việc nhận giấy tờ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Sau hai lần thông báo mà đương sự hoặc người được ủy quyền không đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục gửi cho người đó theo một trong các hình thức quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự; trường hợp không xác định được địa chỉ người nhận thì gửi cho cơ quan, tổ chức đã ban hành giấy tờ hoặc cơ quan đại diện của quốc gia có cơ quan, tổ chức đã ban hành giấy tờ.

Xem nội dung VB
Điều 88. Cưỡng chế giao, trả vật, giấy tờ

1. Đối với vật đặc định, việc cưỡng chế được thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án;

b) Trường hợp vật phải trả giảm giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thỏa thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thỏa thuận.

Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành án.

Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị;

c) Trường hợp vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thỏa thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thỏa thuận.

Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Điều 38 của Luật này.

2. Trường hợp vật phải trả là vật cùng loại không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp phải giao, trả giấy tờ mà không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án, người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.

Trường hợp không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và giấy tờ về tài sản khác thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 của Luật này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 70 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 74 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 74. Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

1. Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người có thẩm quyền mà không giải quyết khiếu nại theo đúng thời gian quy định.

Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp thực hiện theo quy định tại khoản này.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại về thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 98. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình, của Phó Thủ trưởng và Chấp hành viên thuộc quyền quản lý.

Trưởng văn phòng thi hành án dân sự giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về thi hành án dân sự của mình và của Thừa hành viên thuộc văn phòng.

2. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại chưa có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành ngay.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật nhưng quyết định giải quyết khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp luật;

b) Việc giải quyết khiếu nại có vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự;

c) Có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết khiếu nại;

d) Có đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

4. Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình, của Phó Thủ trưởng và Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu.

5. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại chưa có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành ngay.

6. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 74 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự được hướng dẫn bởi Mục 4 Chương II Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương II THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
...
Mục 4. KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 74. Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

1. Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người có thẩm quyền mà không giải quyết khiếu nại theo đúng thời gian quy định.

Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp thực hiện theo quy định tại khoản này.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại về thi hành án dân sự.

Điều 75. Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể hoặc đã chuyển cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là công chức thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 76. Giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

1. Trường hợp đơn có nội dung không đồng ý với kết quả giải quyết tố cáo tiếp đã được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật Tố cáo thì người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không xem xét giải quyết mà có văn bản trả lời người tố cáo.

2. Đối với đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người có thẩm quyền mà không giải quyết tố cáo theo đúng thời gian quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 của Luật Tố cáo.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn tố cáo trong thi hành án dân sự.

Điều 77. Cử người đại diện khi có nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung

1. Trường hợp có từ 05 người trở lên cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì cùng phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đồng thời cử người đại diện để làm việc với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Người đại diện phải là người có tên trong đơn. Việc cử người đại diện phải thể hiện bằng văn bản, ghi rõ phạm vi, nội dung đại diện và có chữ ký của tất cả những người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

2. Việc cử đại diện được thực hiện như sau:

a) Trường hợp có từ 05 đến 10 người thì cử không quá 02 người đại diện;

b) Trường hợp có từ 11 người trở lên thì có thể cử thêm người đại diện, nhưng không quá 05 người đại diện.

Xem nội dung VB
Chương IV KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ
Khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự được hướng dẫn bởi Mục 4 Chương II Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 75, Điều 76 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương II THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
...
Mục 4. KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
...
Điều 75. Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể hoặc đã chuyển cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là công chức thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 76. Giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

1. Trường hợp đơn có nội dung không đồng ý với kết quả giải quyết tố cáo tiếp đã được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật Tố cáo thì người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không xem xét giải quyết mà có văn bản trả lời người tố cáo.

2. Đối với đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người có thẩm quyền mà không giải quyết tố cáo theo đúng thời gian quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 của Luật Tố cáo.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn tố cáo trong thi hành án dân sự.

Xem nội dung VB
Điều 110. Thẩm quyền, thời hạn và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

2. Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.

Trường hợp người bị tố cáo là Trưởng văn phòng thi hành án dân sự hoặc Thừa hành viên thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.

Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo là 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo; đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo.

3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 75, Điều 76 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Cử người đại diện khi có nhiều người khiếu nại về một nội dung được hướng dẫn bởi Điều 77 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 77. Cử người đại diện khi có nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung

1. Trường hợp có từ 05 người trở lên cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì cùng phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đồng thời cử người đại diện để làm việc với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Người đại diện phải là người có tên trong đơn. Việc cử người đại diện phải thể hiện bằng văn bản, ghi rõ phạm vi, nội dung đại diện và có chữ ký của tất cả những người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

2. Việc cử đại diện được thực hiện như sau:

a) Trường hợp có từ 05 đến 10 người thì cử không quá 02 người đại diện;

b) Trường hợp có từ 11 người trở lên thì có thể cử thêm người đại diện, nhưng không quá 05 người đại diện.

Xem nội dung VB
Điều 99. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại

1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;
Cử người đại diện khi có nhiều người khiếu nại về một nội dung được hướng dẫn bởi Điều 77 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Chương IV Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương IV QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 97. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp

1. Các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Bộ Tư pháp theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản về các biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự; cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự;

b) Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;

c) Quản lý tổ chức, biên chế và hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; quy định việc phân công tổ chức thi hành án, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; kiểm tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống thi hành án dân sự; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự.

Quản lý tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên theo quy định của pháp luật;

d) Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự;

đ) Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thi hành án dân sự; giải đáp vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự;

e) Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự;

g) Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động cho công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính theo quy định pháp luật;

h) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự;

i) Tổng kết công tác thi hành án dân sự;

k) Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự, trình Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết;

l) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; có biện pháp chấn chỉnh, rút kinh nghiệm nhằm bảo đảm cho việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án được an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.

3. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề nghị Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự để chỉ đạo đối với các việc thi hành án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương.

Điều 98. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng

1. Phối hợp với Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội:

a) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên, bổ nhiệm Thẩm tra viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và cán bộ, nhân viên, công chức làm công tác thi hành án dân sự trong Quân đội;

b) Tổng kết, báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự.

2. Thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án, dự án, chương trình, kế hoạch về thi hành án dân sự trong Quân đội;

b) Quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ thi hành án đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự trong Quân đội;

c) Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án cấp quân khu; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong Quân đội;

d) Kiểm tra việc sử dụng ngân sách, việc thực hiện chế độ chính sách, bố trí, sử dụng cán bộ thi hành án và giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án trong Quân đội;

đ) Quản lý, lập kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án trong Quân đội;

e) Chịu trách nhiệm quản lý kho vật chứng của Quân đội nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 114 của Luật Thi hành án dân sự và chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp nhận, nhập, xuất, bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này.

Điều 99. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an

1. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

2. Chỉ đạo cơ quan công an xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ cưỡng chế; bảo vệ bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành án; xử lý nghiêm đối với các hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, không chấp hành án theo quy định của pháp luật.

3. Chỉ đạo trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải thi hành án hoặc phạm nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại;

b) Tiếp nhận quyết định thi hành án trong bản án hình sự, văn bản về thi hành án và các tài liệu khác có liên quan của cơ quan thi hành án dân sự để giao cho phạm nhân theo quy định tại Nghị định này;

c) Tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh và chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án;

d) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Nghị định này.

4. Chỉ đạo cơ quan công an có thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Tòa án xét, quyết định miễn, giảm hình phạt cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

5. Chịu trách nhiệm quản lý kho vật chứng của công an nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản 1 Điều 114 của Luật Thi hành án dân sự và chỉ đạo cơ quan công an, các đơn vị, địa phương tiếp nhận, nhập, xuất, bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự.

6. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.

7. Xử lý theo quy định của pháp luật đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 100. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. Phối hợp với Bộ Tư pháp giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án; trả lời theo thẩm quyền các kiến nghị của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự.

2. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xử lý kịp thời đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 101. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh quân khu và tương đương

1. Chỉ đạo cơ quan thi hành án cấp quân khu và các cơ quan chức năng có liên quan thực hiện chính sách, pháp luật về thi hành án dân sự; tổ chức việc thi hành án dân sự trên địa bàn.

2. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quân khu và tương đương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.

3. Yêu cầu cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra công tác thi hành án trên địa bàn quân khu và tương đương.

4. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.

5. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.

Điều 102. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố báo cáo và kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương; cho ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trước khi trình Hội đồng nhân dân cùng cấp.

2. Đề nghị cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.

3. Phối hợp chỉ đạo và tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực thi chính sách, pháp luật về thi hành án dân sự; chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tốt việc quản lý hoạt động thi hành án dân sự trên địa bàn.

4. Xử lý theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

5. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.

6. Báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn.

7. Khi chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch, tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn;

b) Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp và giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh giữa các cơ quan, tổ chức liên quan với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức cưỡng chế thi hành án;

c) Quyết định các biện pháp bảo đảm an toàn đối với các vụ việc cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương;

d) Huy động ngay các lực lượng chức năng xử lý, bảo đảm trật tự, an ninh khi phát sinh các hành vi chống đối, gây rối, cản trở thi hành án dân sự;

đ) Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về chỉ đạo phối hợp, tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

8. Bảo đảm nguồn lực và các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định này và các biện pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên địa bàn.

9. Chỉ đạo thực hiện phòng chống tham nhũng, tiêu cực, cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người làm công tác thi hành án dân sự thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

10. Thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố để giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này; báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn. Quy định chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Điều 103. Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh

1. Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, có nhiệm vụ tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức phối hợp của các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

2. Thành phần Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh gồm có:

a) 01 Trưởng ban là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) 01 Phó Trưởng ban là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;

c) Các thành viên gồm: Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc công an cấp tỉnh.

Ngoài thành phần nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể yêu cầu đại diện các sở, ngành có liên quan và mời đại diện lãnh đạo Mặt trận tổ quốc, Tòa án nhân dân, Bảo hiểm xã hội, Bộ Chỉ huy quân sự và các cơ quan liên quan làm thành viên Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Điều 104. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh

Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện những công việc sau:

1. Xây dựng dự thảo chương trình, kế hoạch của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

2. Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch và ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

3. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan, tổ chức hữu quan với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức cưỡng chế; tham mưu, đề xuất các biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

4. Tổ chức kiểm tra hoặc phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện kết luận của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự, ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

5. Đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự ở địa phương.

6. Kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp xử lý kịp thời đối với những vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

7. Chỉ đạo cơ quan có liên quan trong việc phối hợp, thực hiện các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án.

Điều 105. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a) Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xử lý kịp thời đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự;

b) Chỉ đạo việc thực hiện đề nghị của chấp hành viên trong việc mở khóa, mở gói, buộc ra khỏi nhà, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất hoặc các biện pháp cần thiết khác để xác minh điều kiện thi hành án, kiểm tra hiện trạng tài sản, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản hoặc giao tài sản cho cá nhân, tổ chức trong trường hợp người phải thi hành án có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án;

c) Chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã quy định tại khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này; được bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

Điều 106. Bảo đảm an ninh trật tự trong thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên có văn bản đề nghị cơ quan công an, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phối hợp, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn trong trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án khi thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Xác minh điều kiện thi hành án, kiểm tra hiện trạng, đo vẽ tài sản;

b) Áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;

c) Các thủ tục thi hành án khác.

2. Khi phát hiện, tiếp nhận thông tin về hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án hoặc theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan công an có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trong các hoạt động tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

Cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên phải gửi văn bản đề nghị đến cơ quan công an ít nhất 05 ngày làm việc trước khi thực hiện các hoạt động thi hành án để bố trí lực lượng. Lực lượng công an có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn, xử lý các hành vi gây rối, chống người thi hành công vụ tại khu vực tổ chức các hoạt động thi hành án.

Trường hợp nhận thấy việc tổ chức cưỡng chế có thể ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương mà không thể bố trí được việc bảo vệ cưỡng chế thì cơ quan công an phải nêu rõ lý do. Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh về việc tổ chức cưỡng chế. Việc tổ chức cưỡng chế trong trường hợp này được thực hiện theo chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh.

3. Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan công an cùng cấp phối hợp hoặc chỉ đạo cơ quan công an cấp xã phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành các vụ việc phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cử đại diện tham gia phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, huy động lực lượng tại chỗ phối hợp với cơ quan công an tham gia bảo vệ cưỡng chế và các hoạt động thi hành án dân sự khác.

4. Việc phối hợp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội trong thi hành án dân sự phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật;

b) Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đã được pháp luật quy định;

c) Bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của nhân dân và những người tham gia hoạt động thi hành án dân sự.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trong thi hành án; tham gia việc cưỡng chế thi hành án theo yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên.

Điều 107. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự

Cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự về các việc sau đây:

1. Giáo dục người đang chấp hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án.

2. Cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về dân sự đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo về thi hành án cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự.

3. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thu, trả tiền, tài sản, giấy tờ; thông báo thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

4. Kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù.

Điều 108. Trách nhiệm của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành hình sự cấp quân khu

1. Thông báo về tình trạng của đương sự đang chấp hành hình phạt tù cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật.

2. Tiếp nhận quyết định thi hành án trong bản án hình sự và các tài liệu khác có liên quan của cơ quan thi hành án dân sự.

3. Tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ do cơ quan thi hành án dân sự chuyển đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để giao cho phạm nhân là người được thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

4. Tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thi hành án theo quyết định thi hành án và quyết định của bản án hình sự.

5. Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn việc lập, sử dụng và quản lý các loại sổ liên quan đến việc theo dõi thu tiền, tài sản, giấy tờ do phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp; theo dõi trả tiền, tài sản, giấy tờ do cơ quan thi hành án dân sự chuyển đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để giao trả cho phạm nhân là người được thi hành án.

6. Lưu quyết định thi hành án và các tài liệu khác có liên quan đến thi hành án dân sự vào hồ sơ phạm nhân và cập nhật vào phần mềm quản lý thông tin, dữ liệu phạm nhân tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trường hợp phải chuyển giao tiền, tài sản, giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chuyển tiền, tài sản, giấy tờ và trích sao giấy tờ liên quan gửi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm.

7. Lưu trữ sổ sách, hồ sơ, tài liệu về thu, nộp, quản lý, trả tiền, tài sản, giấy tờ: Sổ sách, hồ sơ, tài liệu về thu, nộp, quản lý, trả tiền, tài sản, giấy tờ được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Các tài liệu có trong hồ sơ được sắp xếp, đánh số bút lục đầy đủ. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm duyệt hồ sơ trước khi đưa vào lưu trữ.

8. Mở và thông báo số tài khoản của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án.

9. Định kỳ 06 tháng, 01 năm hoặc đột xuất, báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng về kết quả thu, nộp, quản lý tiền, tài sản, giấy tờ đối với phạm nhân là người phải thi hành án; trả tiền, tài sản, giấy tờ đối với phạm nhân là người được thi hành án và thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền biết.

Điều 109. Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản, tiền gửi, tài sản khác của người phải thi hành án do Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quản lý theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự về thông báo, xác minh điều kiện thi hành án, phong tỏa tài khoản, tài sản; khấu trừ tiền trong tài khoản; chấm dứt việc phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.

Điều 110. Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội

1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án.

3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

Điều 111. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký biện pháp bảo đảm, quản lý tài khoản, tài sản

1. Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký tại cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký biện pháp bảo đảm, quản lý tài khoản, tài sản ngay sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của chấp hành viên.

2. Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án theo quy định của pháp luật.

3. Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký biện pháp bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.

Điều 112. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án công tác, làm việc

Trường hợp kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án đang làm việc cho cơ quan, tổ chức thì cơ quan thi hành án dân sự gửi thông tin về việc thi hành án cho cơ quan, tổ chức đó để thực hiện hoặc phối hợp thực hiện việc thông báo, cung cấp thông tin, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện các biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự;

b) Chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

c) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

d) Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự.

2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác thi hành án dân sự và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

b) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

c) Hướng dẫn, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thanh tra viên, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự và Thừa hành viên; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

d) Ban hành và thực hiện chế độ thống kê, thủ tục quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.

3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội.

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước liên quan đến thi hành án dân sự theo quy định của Chính phủ và quy định của pháp luật có liên quan.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ;

b) Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;

c) Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên; đăng ký hành nghề và cấp Thẻ Thừa hành viên; tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên; thành lập, đăng ký hoạt động, chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về khiếu nại;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.

5. Ủy ban nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong việc vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn;

b) Giải quyết kịp thời những kiến nghị, vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật;

c) Cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

d) Tham gia và phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án trên địa bàn theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;

đ) Tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung quỹ nhà nước và bảo quản tài sản theo quy định của Luật này;

e) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.
Điều này được hướng dẫn bởi Chương IV Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 97 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương IV QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 97. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp

1. Các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Bộ Tư pháp theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản về các biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự; cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự;

b) Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;

c) Quản lý tổ chức, biên chế và hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; quy định việc phân công tổ chức thi hành án, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; kiểm tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống thi hành án dân sự; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự.

Quản lý tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên theo quy định của pháp luật;

d) Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự;

đ) Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thi hành án dân sự; giải đáp vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự;

e) Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự;

g) Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động cho công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính theo quy định pháp luật;

h) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự;

i) Tổng kết công tác thi hành án dân sự;

k) Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự, trình Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết;

l) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; có biện pháp chấn chỉnh, rút kinh nghiệm nhằm bảo đảm cho việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án được an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.

3. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề nghị Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự để chỉ đạo đối với các việc thi hành án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương.

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
...
2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác thi hành án dân sự và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;

b) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

c) Hướng dẫn, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thanh tra viên, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự và Thừa hành viên; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên;

d) Ban hành và thực hiện chế độ thống kê, thủ tục quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 97 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 98 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Chương IV QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
...
Điều 98. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng

1. Phối hợp với Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội:

a) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên, bổ nhiệm Thẩm tra viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và cán bộ, nhân viên, công chức làm công tác thi hành án dân sự trong Quân đội;

b) Tổng kết, báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự.

2. Thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án, dự án, chương trình, kế hoạch về thi hành án dân sự trong Quân đội;

b) Quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ thi hành án đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự trong Quân đội;

c) Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án cấp quân khu; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong Quân đội;

d) Kiểm tra việc sử dụng ngân sách, việc thực hiện chế độ chính sách, bố trí, sử dụng cán bộ thi hành án và giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án trong Quân đội;

đ) Quản lý, lập kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án trong Quân đội;

e) Chịu trách nhiệm quản lý kho vật chứng của Quân đội nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 114 của Luật Thi hành án dân sự và chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp nhận, nhập, xuất, bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này.

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
...
3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội.

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước liên quan đến thi hành án dân sự theo quy định của Chính phủ và quy định của pháp luật có liên quan.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 98 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 102, Điều 103, Điều 104, Điều 105 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 102. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố báo cáo và kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương; cho ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trước khi trình Hội đồng nhân dân cùng cấp.

2. Đề nghị cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.

3. Phối hợp chỉ đạo và tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực thi chính sách, pháp luật về thi hành án dân sự; chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tốt việc quản lý hoạt động thi hành án dân sự trên địa bàn.

4. Xử lý theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

5. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.

6. Báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn.

7. Khi chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch, tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn;

b) Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp và giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh giữa các cơ quan, tổ chức liên quan với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức cưỡng chế thi hành án;

c) Quyết định các biện pháp bảo đảm an toàn đối với các vụ việc cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương;

d) Huy động ngay các lực lượng chức năng xử lý, bảo đảm trật tự, an ninh khi phát sinh các hành vi chống đối, gây rối, cản trở thi hành án dân sự;

đ) Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về chỉ đạo phối hợp, tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

8. Bảo đảm nguồn lực và các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định này và các biện pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên địa bàn.

9. Chỉ đạo thực hiện phòng chống tham nhũng, tiêu cực, cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người làm công tác thi hành án dân sự thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

10. Thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố để giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này; báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn. Quy định chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh.
...
Điều 103. Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh

1. Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, có nhiệm vụ tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức phối hợp của các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

2. Thành phần Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh gồm có:

a) 01 Trưởng ban là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) 01 Phó Trưởng ban là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;

c) Các thành viên gồm: Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc công an cấp tỉnh.

Ngoài thành phần nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể yêu cầu đại diện các sở, ngành có liên quan và mời đại diện lãnh đạo Mặt trận tổ quốc, Tòa án nhân dân, Bảo hiểm xã hội, Bộ Chỉ huy quân sự và các cơ quan liên quan làm thành viên Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Điều 104. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh

Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện những công việc sau:

1. Xây dựng dự thảo chương trình, kế hoạch của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

2. Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch và ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

3. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan, tổ chức hữu quan với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức cưỡng chế; tham mưu, đề xuất các biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

4. Tổ chức kiểm tra hoặc phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện kết luận của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự, ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

5. Đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự ở địa phương.

6. Kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp xử lý kịp thời đối với những vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

7. Chỉ đạo cơ quan có liên quan trong việc phối hợp, thực hiện các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án.

Điều 105. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a) Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xử lý kịp thời đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý có hành vi không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự;

b) Chỉ đạo việc thực hiện đề nghị của chấp hành viên trong việc mở khóa, mở gói, buộc ra khỏi nhà, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất hoặc các biện pháp cần thiết khác để xác minh điều kiện thi hành án, kiểm tra hiện trạng tài sản, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản hoặc giao tài sản cho cá nhân, tổ chức trong trường hợp người phải thi hành án có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án;

c) Chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã quy định tại khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này; được bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
...
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ;

b) Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;

c) Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên; đăng ký hành nghề và cấp Thẻ Thừa hành viên; tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên; thành lập, đăng ký hoạt động, chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về khiếu nại;

đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 102, Điều 103, Điều 104, Điều 105 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 107, Điều 109, Điều 110, Điều 111, Điều 112Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 107. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự

Cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự về các việc sau đây:

1. Giáo dục người đang chấp hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án.

2. Cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về dân sự đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo về thi hành án cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự.

3. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thu, trả tiền, tài sản, giấy tờ; thông báo thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

4. Kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù.
...
Điều 109. Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản, tiền gửi, tài sản khác của người phải thi hành án do Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quản lý theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự về thông báo, xác minh điều kiện thi hành án, phong tỏa tài khoản, tài sản; khấu trừ tiền trong tài khoản; chấm dứt việc phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.
...
Điều 110. Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội

1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án.

3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.
...
Điều 112. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án công tác, làm việc

Trường hợp kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án đang làm việc cho cơ quan, tổ chức thì cơ quan thi hành án dân sự gửi thông tin về việc thi hành án cho cơ quan, tổ chức đó để thực hiện hoặc phối hợp thực hiện việc thông báo, cung cấp thông tin, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều 14. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự

1. Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kịp thời các quyết định về thi hành án, văn bản, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các thủ tục thi hành án khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an bảo đảm trật tự, an toàn theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm của cơ quan Công an theo khoản 1 Điều này không cản trở việc thực hiện các nhiệm vụ quốc tế và hình sự khẩn cấp của cơ quan Công an theo quy định của Luật Dân độ và các luật khác có liên quan.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 107, Điều 109, Điều 110, Điều 111, Điều 112Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 108 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
...
Điều 108. Trách nhiệm của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành hình sự cấp quân khu

1. Thông báo về tình trạng của đương sự đang chấp hành hình phạt tù cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật.

2. Tiếp nhận quyết định thi hành án trong bản án hình sự và các tài liệu khác có liên quan của cơ quan thi hành án dân sự.

3. Tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ do cơ quan thi hành án dân sự chuyển đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để giao cho phạm nhân là người được thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

4. Tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thi hành án theo quyết định thi hành án và quyết định của bản án hình sự.

5. Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn việc lập, sử dụng và quản lý các loại sổ liên quan đến việc theo dõi thu tiền, tài sản, giấy tờ do phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp; theo dõi trả tiền, tài sản, giấy tờ do cơ quan thi hành án dân sự chuyển đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để giao trả cho phạm nhân là người được thi hành án.

6. Lưu quyết định thi hành án và các tài liệu khác có liên quan đến thi hành án dân sự vào hồ sơ phạm nhân và cập nhật vào phần mềm quản lý thông tin, dữ liệu phạm nhân tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trường hợp phải chuyển giao tiền, tài sản, giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chuyển tiền, tài sản, giấy tờ và trích sao giấy tờ liên quan gửi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm.

7. Lưu trữ sổ sách, hồ sơ, tài liệu về thu, nộp, quản lý, trả tiền, tài sản, giấy tờ: Sổ sách, hồ sơ, tài liệu về thu, nộp, quản lý, trả tiền, tài sản, giấy tờ được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Các tài liệu có trong hồ sơ được sắp xếp, đánh số bút lục đầy đủ. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm duyệt hồ sơ trước khi đưa vào lưu trữ.

8. Mở và thông báo số tài khoản của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án.

9. Định kỳ 06 tháng, 01 năm hoặc đột xuất, báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng về kết quả thu, nộp, quản lý tiền, tài sản, giấy tờ đối với phạm nhân là người phải thi hành án; trả tiền, tài sản, giấy tờ đối với phạm nhân là người được thi hành án và thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền biết.

Xem nội dung VB
Điều 21. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án cấp quân khu

1. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định quy định tại khoản 3 Điều 32 của Luật này.

2. Tổng kết thực tiễn công tác thi hành án dân sự theo thẩm quyền; thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.

4. Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án cấp quân khu theo quy định của pháp luật và hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị xét đặc xá, xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho người phải thi hành án.

6. Giúp Tư lệnh quân khu và tương đương thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án theo quy định của pháp luật.

7. Tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.

8. Được truy cập, truy xuất dữ liệu, khai thác, sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.

9. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.

10. Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 108 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Thông tư 05/2026/TT-BTP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư quy định một số nội dung về hoạt động thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính.

Chương I QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
...
Điều 2. Đối tượng áp dụng
...
Chương II CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ

Điều 3. Biểu mẫu thống kê và giải thích biểu mẫu thống kê
...
Điều 4. Kỳ báo cáo thống kê
...
Điều 5. Cơ quan, đơn vị gửi và nhận báo cáo thống kê
...
Điều 6. Hình thức báo cáo và phương thức gửi báo cáo thống kê
...
Điều 7. Thời hạn nhận báo cáo thống kê
...
Chương III NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUẢN LÝ SỐ LIỆU THỐNG KÊ

Điều 8. Nguyên tắc lập và gửi báo cáo thống kê
...
Điều 9. Nguồn số liệu để lập báo cáo thống kê
...
Điều 10. Giá trị của số liệu thống kê
...
Điều 11. Phương pháp tính trong báo cáo thống kê
...
Điều 12. Khóa sổ và lập báo cáo thống kê
...
Điều 13. Xử lý sự cố hệ thống và điều chỉnh số liệu báo cáo thống kê
...
Điều 14. Nội dung và hình thức thẩm tra, kiểm tra số liệu thống kê
...
Điều 15. Phổ biến thông tin thống kê
...
Điều 16. Sử dụng số liệu, thông tin trong báo cáo thống kê
...
Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 17. Trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo thống kê
...
Điều 18. Hiệu lực thi hành
...
PHỤ LỤC DANH MỤC BIỂU MẪU THỐNG KÊ, BIỂU MẪU THỐNG KÊ VÀ GIẢI THÍCH BIỂU MẪU THỐNG KÊ

I. DANH MỤC BIỂU MẪU THỐNG KÊ
...
II. BIỂU MẪU THỐNG KÊ VÀ GIẢI THÍCH BIỂU MẪU THỐNG KÊ

Biểu số: 01/TK-THADS KẾT QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TÍNH BẰNG VIỆC
...
Biểu số: 02/TK-THADS KẾT QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TÍNH BẰNG TIỀN
...
Biểu số: 03/TK-THAHC KẾT QUẢ THEO DÕI THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
...
Biểu số: 04/TK-THADS KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
...
Biểu số: 05/TK-THADS KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Xem nội dung VB
Điều 10. Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
...
2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
...
d) Ban hành và thực hiện chế độ thống kê, thủ tục quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự;
Điểm này được hướng dẫn bởi Thông tư 05/2026/TT-BTP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026