Luật Đất đai 2024

Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025

Số hiệu 107/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 05/12/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Quyền dân sự
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 107/2025/QH15

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2025

 

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp số 28/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 68/2020/QH14.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp

1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 2 như sau:

a) Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 như sau:

“1a. Thông tin lý lịch tư pháp gồm thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”;

b) Bổ sung khoản 4a vào sau khoản 4 như sau:

“4a. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là tập hợp thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân và các thông tin về số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân, họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc, nơi cư trú; họ, chữ đệm và tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:

“5. Cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp gồm Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an và Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi là Công an cấp tỉnh).”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 3 như sau:

“4. Hỗ trợ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động giải quyết thủ tục hành chính.”.

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau:

Điều 7. Yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; việc sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp, thông tin lý lịch tư pháp

1. Công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam từ đủ 16 tuổi trở lên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình.

2. Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.

3. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để hỗ trợ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động giải quyết thủ tục hành chính.

4. Thông tin lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 quy định tại Điều 43 của Luật này.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp số 1, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc nghị định, nghị quyết của Chính phủ quy định cần sử dụng thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ mục đích tuyển dụng, cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đối với các ngành nghề, vị trí việc làm có liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng hoặc để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại liên quan trực tiếp đến các đối tượng yếu thế trong xã hội.”.

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

Điều 9. Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

3. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp quy định việc phối hợp trong thực hiện thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.”.

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau:

Điều 10. Phí cung cấp thông tin về lý lịch tư pháp

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải nộp phí cung cấp thông tin về lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

a) Cơ quan, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 của Luật này;

b) Cá nhân sử dụng thông tin lý lịch tư pháp hiển thị trên Ứng dụng định danh quốc gia.

2. Cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp phí cung cấp thông tin về lý lịch tư pháp.

3. Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin về lý lịch tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.”.

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau:

“Điều 11. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

1. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung, thống nhất tại Bộ Công an.

2. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được kết nối, chia sẻ thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác có liên quan theo quy định của pháp luật.

3. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật công nghệ thông tin, định mức kinh tế - kỹ thuật, bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, thuận lợi cho việc thu thập, cập nhật, điều chỉnh, khai thác, sử dụng.

4. Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm thu thập, tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu do mình quản lý và kết nối, chia sẻ dữ liệu, đồng thời cung cấp đầy đủ, kịp thời bản chính, bản sao hoặc bản điện tử nguồn thông tin được quy định tại Điều 15Điều 36 của Luật này cho Bộ Công an để xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:

Điều 12. Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

1. Xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp do các cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp theo quy định của Luật này.

3. Lập Lý lịch tư pháp, cấp Phiếu lý lịch tư pháp và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo thẩm quyền.

4. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về việc quản lý, tiếp nhận, cập nhật, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

5. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết Điều này.”.

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:

“Điều 15. Nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích

Thông tin lý lịch tư pháp về án tích được xác lập từ các nguồn sau đây:

1. Bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật và bản án hình sự phúc thẩm;

2. Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự; quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; quyết định trả tự do cho bị cáo; quyết định tổng hợp hình phạt;

3. Quyết định thi hành án hình sự;

4. Quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định miễn chấp hành hình phạt; quyết định miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án; quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù; quyết định kéo dài thời hạn trục xuất;

5. Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;

6. Chứng nhận chấp hành xong hình phạt; văn bản thông báo kết quả thi hành án phạt trục xuất;

7. Quyết định thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác của người bị kết án; giấy xác nhận kết quả thi hành án; văn bản thông báo kết thúc thi hành án trong trường hợp người bị kết án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình;

8. Quyết định đình chỉ thi hành án;

9. Quyết định ân giảm hình phạt tử hình; quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân;

10. Giấy chứng nhận đặc xá, đại xá;

11. Quyết định xóa án tích;

12. Trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại;

13. Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam gửi cho cơ quan nước ngoài yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự, thi hành án; quyết định dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; văn bản về việc tiếp nhận, áp giải người bị dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam; thông báo về quyết định miễn, giảm hình phạt, đặc xá, đại xá của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù;

14. Quyết định thi hành quyết định dẫn độ, quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;

15. Các văn bản, tài liệu khác có giá trị chứng minh thông tin về án tích của cá nhân.”.

9. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 như sau:

“Điều 16. Nhiệm vụ của Tòa án trong việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích

1. Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhiệm vụ cung cấp cho Công an cấp tỉnh nơi Tòa án đó có trụ sở các văn bản sau đây:

a) Trích lục bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật;

b) Trích lục bản án hình sự phúc thẩm;

c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự;

d) Quyết định trả tự do cho bị cáo;

đ) Quyết định tổng hợp hình phạt;

e) Quyết định ân giảm hình phạt tử hình; quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân;

g) Quyết định thi hành án hình sự;

h) Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù;

i) Quyết định xóa án tích.

2. Tòa án đã ra quyết định có nhiệm vụ cung cấp cho Công an cấp tỉnh nơi Tòa án đó có trụ sở các quyết định sau đây:

a) Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm;

b) Quyết định miễn chấp hành án; quyết định miễn chấp hành hình phạt;

c) Quyết định giảm thời hạn chấp hành án;

d) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;

đ) Quyết định đình chỉ thi hành án;

e) Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù;

h) Quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;

i) Quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;

k) Quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;

l) Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù;

m) Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;

n) Văn bản về việc tiếp nhận, áp giải người bị dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam quy định tại khoản 13 Điều 15 của Luật này;

o) Quyết định thi hành quyết định dẫn độ; quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

3. Thời hạn gửi trích lục bản án, quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày Tòa án đã xét xử sơ thẩm nhận được bản án, quyết định quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

4. Nội dung trích lục bản án quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân, nơi cư trú của người bị kết án; họ, chữ đệm và tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó;

b) Ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Tòa án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, quyết định của bản án về biện pháp tư pháp, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí.”.

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

Điều 19. Nhiệm vụ của Tòa án quân sự trung ương trong việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích

Tòa án quân sự trung ương có nhiệm vụ cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích của người bị Tòa án quân sự kết án quy định từ khoản 1 đến khoản 11 Điều 15 của Luật này cho Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày ra quyết định, cấp giấy xác nhận.”.

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:

“Điều 26. Lập Lý lịch tư pháp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp lập Lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhận được thông tin lý lịch tư pháp về án tích do Tòa án cung cấp;

b) Nhận được văn bản về việc người bị kết án được dẫn độ để thi hành án hoặc được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam;

c) Nhận được bản sao trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp.

2. Lý lịch tư pháp được lập trên cơ sở nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích quy định tại Điều 15 của Luật này.

3. Lý lịch tư pháp được lập riêng cho từng người bị kết án với các nội dung sau đây:

a) Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân, nơi cư trú của người bị kết án; họ, chữ đệm và tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó;

b) Ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Tòa án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, quyết định của bản án về biện pháp tư pháp, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí;

c) Tình trạng thi hành án.

4. Trường hợp một người bị kết án về nhiều tội và đã được tổng hợp hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự thì Lý lịch tư pháp của người đó ghi rõ từng tội danh, điều khoản luật được áp dụng và hình phạt chung đối với các tội đó.”.

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

“Điều 27. Cập nhật thông tin lý lịch tư pháp về án tích trong trường hợp Tòa án có quyết định về việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện; miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án; rút ngắn thời gian thử thách; buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù

Trường hợp Lý lịch tư pháp của một người đã được lập, sau đó Tòa án có quyết định quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật này thì cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cập nhật các thông tin này vào Lý lịch tư pháp của người đó.”.

13. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:

“Điều 33. Cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin về hành vi phạm tội mới của người đã bị kết án và cập nhật thông tin trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích

1. Thông tin có liên quan về hành vi phạm tội mới của người bị kết án bao gồm:

a) Quyết định khởi tố bị can, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát phê chuẩn;

b) Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can;

c) Quyết định phục hồi điều tra bị can;

d) Quyết định truy nã, quyết định đình nã;

đ) Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo;

e) Quyết định phục hồi vụ án đối với bị can, bị cáo.

2. Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra có nhiệm vụ cung cấp thông tin về hành vi phạm tội mới của người đã bị kết án bằng bản chính, bản sao hoặc bản điện tử và kết nối, chia sẻ dữ liệu cho cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp như sau:

a) Tòa án đã xét xử sơ thẩm có nhiệm vụ cung cấp thông tin quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này cho Công an cấp tỉnh nơi Tòa án có trụ sở; Tòa án quân sự trung ương cung cấp thông tin quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này cho Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an;

b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự các cấp, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có nhiệm vụ cung cấp cho Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này do mình ban hành hoặc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành;

c) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có nhiệm vụ cung cấp cho Công an cấp tỉnh nơi Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra có trụ sở các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này do mình ban hành hoặc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành;

d) Thời hạn cung cấp thông tin là 05 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định hoặc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

3. Cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cập nhật thông tin trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự như sau:

a) Trường hợp người bị kết án đã chấp hành con hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự thì cập nhật “đã được xóa án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó;

b) Trường hợp người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sựBộ luật Tố tụng hình sự thì cập nhật “đã được xóa án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.”.

14. Sửa đổi, bổ sung Điều 37 như sau:

Điều 37. Cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

1. Tòa án đã ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp trích lục quyết định tuyên bố phá sản, trong đó có nội dung cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã bằng bản chính hoặc bản sao hoặc bản điện tử và kết nối, chia sẻ dữ liệu cho Công an cấp tỉnh nơi Tòa án đó có trụ sở trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Nội dung trích lục quyết định tuyên bố phá sản bao gồm:

a) Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân, nơi cư trú của người bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã;

b) Chức vụ bị cấm đảm nhiệm; thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, không được thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

3. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã do Tòa án cung cấp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.”.

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:

Điều 38. Lập Lý lịch tư pháp và cập nhật thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

Người bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chưa có Lý lịch tư pháp thì Công an cấp tỉnh nơi Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản có trụ sở lập Lý lịch tư pháp; trường hợp đã có Lý lịch tư pháp thì cập nhật thông tin vào Lý lịch tư pháp của người đó theo quyết định của Tòa án.”.

16. Sửa đổi, bổ sung tên Chương IV như sau:

“Chương IV

CẤP PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP CHO CÁ NHÂN VÀ CUNG CẤP THÔNG TIN LÝ LỊCH TƯ PHÁP CHO CƠ QUAN, TỔ CHỨC”.

17. Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:

“Điều 41. Phiếu lý lịch tư pháp

1. Phiếu lý lịch tư pháp được cấp cho cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật này gồm Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

2. Phiếu lý lịch tư pháp được cấp dưới dạng bản điện tử hoặc bản giấy và có giá trị pháp lý như nhau.

3. Trường hợp Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử đã được cấp theo quy định của Luật này thì thông tin lý lịch tư pháp được đồng thời hiển thị trên Ứng dụng định danh quốc gia và có giá trị như Phiếu lý lịch tư pháp. Thông tin lý lịch tư pháp hiển thị trên Ứng dụng định danh quốc gia được cập nhật để cá nhân sử dụng khi có nhu cầu mà không cần yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

4. Bộ trưởng Bộ Công an quy định mẫu Phiếu lý lịch tư pháp và hình thức hiển thị thông tin lý lịch tư pháp trên Ứng dụng định danh quốc gia.”.

18. Sửa đổi, bổ sung Điều 45 như sau:

“Điều 45. Thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp

1. Cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tuyến.

Người nước ngoài, người chưa có định danh điện tử có thể yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

2. Việc yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp được thực hiện như sau:

a) Trường hợp yêu cầu bằng hình thức trực tuyến thì thực hiện thông qua Ứng dụng định danh quốc gia hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia;

b) Trường hợp yêu cầu qua dịch vụ bưu chính thì gửi hồ sơ kèm chứng thực chữ ký của người yêu cầu theo quy định của pháp luật;

c) Trường hợp yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp thì nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

3. Cá nhân có thể yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình hoặc người mà mình giám hộ. Việc yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cá nhân có thể ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật và việc yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thực hiện theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này.”.

19. Sửa đổi, bổ sung Điều 48 như sau:

“Điều 48. Việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp

1. Trường hợp có yêu cầu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 45 của Luật này thì Phiếu lý lịch tư pháp được cấp bằng bản điện tử.

Trường hợp có yêu cầu theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 45 của Luật này thì Phiếu lý lịch tư pháp được cấp bằng bản giấy.

2. Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ; trường hợp có thông tin về án tích hoặc hành vi phạm tội mới cần xác minh thì thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể kéo dài hơn nhưng không quá 15 ngày.”.

20. Bổ sung mục 3 Chương IV như sau:

“Mục 3

CUNG CẤP THÔNG TIN LÝ LỊCH TƯ PHÁP THEO YÊU CẦU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

Điều 50a. Nội dung thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp

Thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng gồm những nội dung quy định tại Điều 43 của Luật này; thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp gồm những nội dung quy định tại Điều 42 của Luật này.

Điều 50b. Việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp

1. Khi có yêu cầu sử dụng thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 của Luật này được khai thác, sử dụng thông tin lý lịch tư pháp thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; không yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Thông tin lý lịch tư pháp được khai thác theo quy định tại khoản này có giá trị như Phiếu lý lịch tư pháp.

2. Bộ Công án có trách nhiệm tổ chức việc kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin lý lịch tư pháp của các cơ quan, tổ chức có yêu cầu, bảo đảm đúng mục đích, an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân.

3. Cơ quan, tổ chức có yêu cầu sử dụng thông tin lý lịch tư pháp có trách nhiệm khai thác, sử dụng thông tin lý lịch tư pháp đúng mục đích, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân.”.

21. Sửa đổi, bổ sung Điều 52 như sau:

“Điều 52. Giải quyết khiếu nại

Cá nhân có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi có căn cứ cho rằng việc cấp hoặc từ chối cấp Phiếu lý lịch tư pháp là trái pháp luật hoặc nội dung thông tin lý lịch tư pháp không chính xác, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.”.

22. Thay thế, bổ sung, bỏ một số cụm từ tại các điều, khoản, điểm như sau:

a) Thay thế cụm từ “Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia” bằng cụm từ “Cục trưởng Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an” tại khoản 3 Điều 44;

b) Thay thế cụm từ “Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia” bằng cụm từ “Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an” tại các điều 17, 30, 31, 32, 44 và 47;

c) Thay thế cụm từ “Sở Tư pháp” bằng cụm từ “Công an cấp tỉnh” tại các điều 20, 28, 29, 30, 44 và 47;

d) Thay thế cụm từ “số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu” bằng cụm từ “số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân” tại Điều 42 và Điều 43;

đ) Thay thế cụm từ “trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp” bằng cụm từ “trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp” tại Điều 6;

e) Thay thế cụm từ “chấp hành xong hình phạt” bằng cụm từ “chấp hành xong án phạt” tại Điều 30;

g) Thay thế cụm từ “chấp hành hình phạt” bằng cụm từ “chấp hành án phạt” tại Điều 32;

h) Thay thế cụm từ “10 ngày” bằng cụm từ “05 ngày làm việc” tại các điều 17, 20 và 24;

i) Thay thế cụm từ “Họ, tên” trước cụm từ “giới tính” bằng cụm từ “Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác” tại Điều 42 và Điều 43;

k) Thay thế cụm từ “họ, tên cha, mẹ, vợ, chồng” bằng cụm từ “họ, chữ đệm và tên cha, mẹ, vợ, chồng” tại Điều 43;

l) Thay thế cụm từ “cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp” bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp” tại các điều 2, 6, 24 và 49;

m) Thay thế cụm từ “khoản 11” bằng cụm từ “khoản 7 và khoản 8” tại Điều 20;

n) Thay thế cụm từ “nơi sinh, quốc tịch” bằng cụm từ “nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc” tại Điều 42 và Điều 43;

o) Bổ sung cụm từ “quyết định của bản án về biện pháp tư pháp,” trước cụm từ “nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự” tại khoản 2 Điều 2 và điểm b khoản 2 Điều 43;

p) Bỏ cụm từ “cho người khác” và bổ sung cụm từ “, khoản 4” trước cụm từ “Điều 45” tại khoản 2 Điều 49;

q) Bỏ cụm từ “, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng” tại Điều 6 và Điều 24;

r) Bỏ cụm từ “trực thuộc trung ương” tại Điều 47.

23. Bãi bỏ Điều 13, Điều 18, Điều 21, Điều 22, Điều 23, khoản 3 Điều 24, Điều 34, khoản 4 Điều 44, Điều 46, Điều 53 và Điều 56.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp

1. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an tổ chức kết nối, chia sẻ dữ liệu thông tin lý lịch tư pháp hình thành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp được tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp số 28/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 68/2020/QH14.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 05 tháng 12 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

21
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025
Tải văn bản gốc Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025

THE NATIONAL ASSEMBLY
OF VIETNAM
-------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom – Happiness
---------------

Law No. 107/2025/QH15

Hanoi, December 5, 2025

 

LAW

ON AMENDMENTS TO THE LAW ON CRIMINAL RECORDS

Pursuant to the Constitution 2013 of the Socialist Republic of Viet Nam as amended and supplemented by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly promulgates the Law on amendments to the Law on criminal records No. 28/2009/QH12 amended by the Law No. 68/2020/QH14.

Article 1. Amendments to a number of articles of the Law on criminal records

1. A number of clauses of Article 2 are amended as follows:

a) Add Clause 1a after Clause 1 as follows:

“1a. Criminal record information includes criminal record information on criminal conviction records, and criminal record information on bans on holding positions, establishing or managing enterprises and cooperatives as prescribed in Clauses 2 and 3 of this Article.”;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“4a. Criminal records database means a collection of an individual’s criminal record information and information on personal identification number or passport number in the absence of a personal identification number, surname, middle name and birth name, other names, date of birth, sex, place of birth registration, nationality, ethnicity, place of residence; surname, middle name and name of his/her father, mother, wife or husband.”;

c) Clause 5 is amended as follows:

“5. Competent authorities issuing criminal record certificates include the Department of Criminal Records and Operational Data of the Ministry of Public Security and the police authority of provinces and cities (hereinafter referred to as province-level police authorities).”.

2. Clause 4 of Article 3 is amended as follows:

“4. Support personnel management of cadres, civil servants and public employees and administrative procedure settlement activities.”.

3. Article 7 is amended as follows:

“Article 7. Request for issuance of criminal record certificates, provision of criminal record information; use of criminal record certificates and criminal record information

1. Vietnamese citizens and foreigners who have resided or are residing in Vietnam and are full 16 years of age or older shall have the right to request competent authorities issuing criminal record certificates to issue their criminal record certificates.

2. Procedure-conducting agencies shall have the right to request competent authorities issuing criminal record certificates to provide criminal record information for investigation, prosecution and adjudication activities.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

4. Criminal record information and criminal record certificates shall be managed and used in accordance with the law on personal data protection applicable to sensitive personal data. Agencies, organizations and individuals shall not request individuals to provide criminal record certificate No. 2 as prescribed in Article 43 of this Law.

5. Agencies, organizations and individuals shall not request individuals to provide criminal record information or criminal record certificate No. 1, except where laws, resolutions of the National Assembly, ordinances, resolutions of the Standing Committee of the National Assembly, or decrees and resolutions of the Government provide for the use of criminal record information for recruitment, issuance of licenses or practicing certificates for professions, trades or job positions related to national defense, national security, social order and safety, community health, or for protection of the interests of the State, and the lawful and legitimate rights and interests of individuals when engaging in civil or commercial transactions directly related to vulnerable groups in society.”.

4. Article 9 is amended as follows:

“Article 9. State management of criminal records

5. Article 10 is amended as follows:

“Article 10. Fees for provision of information on criminal records

1. Agencies, organizations and individuals shall not be required to pay fees for provision of information on criminal records in the following cases:

a) Agencies and organizations requesting provision of criminal record information in accordance with Clauses 2 and 3 Article 7 of this Law;

b) Individuals using criminal record information displayed on the National Identification Application.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Rates, collection, remittance, management and use of fees for provision of information on criminal records shall comply with the law on fees and charges.”.

6. Article 11 is amended as follows:

“Article 11. Criminal records database

1. The criminal records database shall be built in a centralized and unified manner at the Ministry of Public Security.

2. The criminal records database shall be connected with and share information with the National Population Database, specialized databases and other relevant databases in accordance with law.

3. The criminal records database shall be built in accordance with information technology technical standards and regulations, economic - technical norms, ensuring stable and continuous operation; ensuring information security and safety, personal data protection, and facilitating collection, updating, adjustment, utilization, and use.

4. The Ministry of Justice, the Ministry of National Defense, the Supreme People’s Procuracy and the Supreme People’s Court shall be responsible for collecting, creating and updating the databases under their management, and connecting and sharing data, and at the same time fully and promptly providing originals, copies or electronic copies of information sources prescribed in Articles 15 and 36 of this Law to the Ministry of Public Security for building, managing, utilization and management of the criminal records database.

5. The Government shall elaborate this Article.”.

7. Article 12 is amended as follows:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Build, manage, utilize, use and protect the criminal records database.

2. Receive, update and process criminal record information provided by relevant agencies and organizations in accordance with this Law.

3. Establish criminal record files, issue criminal record certificates and provide criminal record information according to competence.

4. Implement the statistical and reporting regime on management, receipt, updating, utilization and use of the criminal records database.

5. The Minister of Public Security shall provide detailed regulations on this Article.”.

8. Article 15 is amended as follows:

“Article 15. Sources of criminal record information on criminal conviction records

Criminal record information on criminal conviction records shall be established from the following sources:

1. Legally effective first-instance criminal judgments and appellate criminal judgments;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. Criminal judgment enforcement decisions;

4. Decisions to postpone or temporarily suspend serving of imprisonment sentences, grant conditional early release from prison; decisions to revoke decisions on postponement or temporary suspension of serving imprisonment sentences, or conditional early release from prison; decisions on exemption from serving penalties; decisions on exemption from judgment enforcement or reduction of sentence-serving period; decisions to shorten probation periods for persons granted suspended sentences or conditional early release from prison; decisions compelling persons granted suspended sentences to serve imprisonment sentences; decisions extending the period of expulsion;

5. Decisions on exemption from or reduction of judgment enforcement obligations in respect of amounts payable to the state budget;

6. Certificates of completion of sentence serving; written notices of results of enforcement of expulsion sentences;

7. Decisions on enforcement of fines, confiscation of property, court fees and other civil obligations of convicted persons; certificates of judgment enforcement results; written notices on completion of judgment enforcement in cases where convicted persons have fulfilled their obligations;

8. Decisions on suspension of judgment enforcement;

9. Decisions on commutation of death sentences; decisions converting death sentences into life imprisonment;

10. Special amnesty and general amnesty certificates;

11. Decisions on expungement of criminal conviction record;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

13. Documents of competent Vietnamese authorities sent to foreign authorities requesting extradition for criminal prosecution or judgment enforcement; extradition decisions of competent foreign authorities; documents on receipt and escort of extradited persons from abroad to Vietnam; notices on decisions on exemption from or reduction of penalties, special amnesty or general amnesty of the sending State in respect of persons serving imprisonment sentences;

14. Decisions on enforcement of extradition decisions, and decisions on transfer of persons serving prison sentences in Vietnam at the request of competent foreign authorities;

15. Other documents and materials that have evidentiary value to prove information on an individual’s criminal conviction record.”.

9. Article 16 is amended as follows:

“Article 16. Duties of courts in providing criminal record information on criminal records

1. Courts that have conducted first-instance trials shall provide the following documents to the province-level police authority where such courts are headquartered:

a) Excerpts of legally effective first-instance criminal judgments;

b) Excerpts of appellate criminal judgments;

c) Cassation and reopening decisions in criminal matters;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Decisions on aggregation of penalties;

e) Decisions on commutation of death sentences; decisions converting death sentences into life imprisonment;

g) Criminal judgment enforcement decisions;

h) Decisions to postpone serving of imprisonment sentences;

i) Decisions on expungement of criminal conviction record.

2. Courts that have issued decisions shall provide the following decisions to the province-level police authority where such courts are headquartered:

a) Decisions to suspend appellate adjudication;

b) Decisions on exemption from judgment enforcement; decisions on exemption from serving penalties;

c) Decisions on reduction of sentence-serving period;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Decisions on suspension of judgment enforcement;

e) Decisions on conditional early release from prison;

g) Decisions to revoke decisions on postponement of serving imprisonment sentences;

h) Decisions to revoke decisions on temporary suspension of serving imprisonment sentences;

i) Decisions to revoke decisions on conditional early release from prison;

k) Decisions to shorten probation periods for persons granted suspended sentences or conditional early release from prison;

l) Decisions compelling persons granted suspended sentences to serve imprisonment sentences;

m) Decisions on exemption from or reduction of judgment enforcement obligations in respect of amounts payable to the state budget;

n) Documents on receipt and escort of extradited persons from abroad to Vietnam as prescribed in Clause 13 Article 15 of this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The time limit for sending judgment excerpts and decisions prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article is 5 working days from the date on which such judgments or decisions come into force, or from the date on which the court that conducted the first-instance trial receives the judgments or decisions prescribed at Points b and c Clause 1 of this Article.

4. The contents of judgment excerpts prescribed at Points a and b Clause 1 of this Article include:

a) Surname, middle name and birth name, other names, sex, date of birth, place of birth registration, nationality, ethnicity, personal identification number or passport number in the absence of a personal identification number, place of residence of the convicted person; surname, middle name and name of his/her father, mother, wife or husband;

b) Date of pronouncement of judgment, judgment number, issuing court, offence, applicable legal provisions, principal penalty, additional penalties, decisions of the judgment on judicial measures, civil obligations in the criminal judgment, court fees.”.

10. Article 19 is amended as follows:

“Article 19. Duties of the Central Military Court in providing criminal record information on criminal conviction records

The Central Military Court shall provide criminal record information on criminal conviction records of persons convicted by military courts as prescribed from Clauses 1 to 11 Article 15 of this Law to the Department of Criminal Records and Operational Data of the Ministry of Public Security within 5 working days from the date on which judgments or decisions come into force or from the date of issuance of decisions or certificates.”.

11. Article 26 is amended as follows:

“Article 26. Establishment of criminal record files

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Upon receipt of criminal record information on criminal conviction records provided by courts;

b) Upon receipt of documents on extradition of convicted persons for judgment enforcement or transfer for serving imprisonment sentences in Vietnam;

c) Upon receipt of copies of judgment excerpts or criminal record excerpts of Vietnamese citizens provided by the Supreme People’s Procuracy.

2. Criminal record files shall be established on the basis of sources of criminal record information on criminal conviction records as prescribed in Article 15 of this Law.

3. A criminal record file shall be established separately for each convicted person with the following contents:

a) Surname, middle name and birth name, other names, sex, date of birth, place of birth registration, nationality, ethnicity, personal identification number or passport number in the absence of a personal identification number, place of residence of the convicted person; surname, middle name and name of his/her father, mother, wife or husband;

b) Date of pronouncement of judgment, judgment number, issuing court, offence, applicable legal provisions, principal penalty, additional penalties, decisions of the judgment on judicial measures, civil obligations in the criminal judgment, court fees;

c) Status of judgment enforcement.

4. Where a person is convicted of multiple offences and penalties have been aggregated in accordance with the Criminal Code, his/her criminal record file shall clearly record each offence, applicable legal provisions and the combined penalty for such offences.”.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“Article 27. Updating criminal record information on criminal conviction records in cases where courts issue decisions on postponement, temporary suspension of sentence serving, conditional early release from prison; exemption from judgment enforcement, reduction of sentence-serving period; shortening of probation period; compelling persons granted suspended sentences to serve imprisonment sentences

Where a criminal record file of a person has been established and subsequently the court issues decisions prescribed in Clause 4 Article 15 of this Law, competent authorities issuing criminal record certificates shall update such information into that person’s criminal record file.”.

13. Article 33 is amended as follows:

“Article 33. Provision, receipt and updating of information on new criminal acts of convicted persons and updating of information in cases of expungement of criminal conviction record

1. Information related to new criminal acts of convicted persons includes:

a) Decisions to initiate criminal proceedings against the accused, decisions to supplement decisions to initiate criminal proceedings, decisions to change decisions to initiate criminal proceedings approved by the procuracy;

b) Decisions to suspend investigation of criminal cases against the accused, decisions to suspend investigation against the accused;

c) Decisions to resume investigation against the accused;

d) Decisions to issue a wanted notice, decisions to terminate a wanted notice;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

e) Decisions to resume cases against the accused or defendants.

2. Courts, procuracies and investigation authorities shall provide information on new criminal acts of convicted persons in the form of originals, copies or electronic copies and connect and share data with competent authorities issuing criminal record certificates as follows:

a) Courts that have conducted first-instance trials shall provide information prescribed at Point dd Clause 1 of this Article to the province-level police authority where such courts are headquartered; the Central Military Court shall provide such information to the Department of Criminal Records and Operational Data of the Ministry of Public Security;

b) The Supreme People’s Procuracy, military procuracies at all levels, the Security Investigation Agency of the Ministry of Public Security, the Police Investigation Agency of the Ministry of Public Security, the Investigation Agency of the Supreme People’s Procuracy, and investigation bodies within the People’s Army shall provide the decisions prescribed in Clause 1 of this Article issued by themselves or by agencies assigned to conduct certain investigation activities to the Department of Criminal Records and Operational Data of the Ministry of Public Security;

c) Province-level People’s Procuracies, regional People’s Procuracies, Security Investigation Agencies of province-level police authorities, Police Investigation Agencies of province-level police authorities shall provide the decisions prescribed in Clause 1 of this Article issued by themselves or by agencies assigned to conduct certain investigation activities to the province-level police authority where such procuracies or investigation agencies are headquartered;

d) The time limit for provision of information is 5 working days from the date of issuance of decisions or from the date of receipt of decisions from agencies assigned to conduct certain investigation activities.

3. Competent authorities issuing criminal record certificates shall update information in cases where convicted persons are granted expungement of criminal conviction record in accordance with the Criminal Code as follows:

a) Where a convicted person has completed the principal penalty or completed the probation period of a suspended sentence, has completed additional penalties and other decisions of the judgment, or the statute of limitations for judgment enforcement has expired, and no new criminal act has been committed within the period eligible for automatic expungement of criminal conviction record in accordance with the Criminal Code, the note “expunged” shall be updated in that person’s criminal record file;

b) Where a convicted person is granted expungement of criminal conviction record by a court in accordance with the Criminal Code and the Criminal Procedure Code, the note “expunged” shall be updated in that person’s criminal record file.”.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“Article 37. Provision and receipt of criminal record information on bans on holding positions, establishing or managing enterprises and cooperatives

1. Courts that have issued decisions declaring bankruptcy of enterprises or cooperatives shall provide excerpts of bankruptcy decisions, including contents on banning individuals from holding positions, establishing or managing enterprises or cooperatives, in the form of originals, copies or electronic copies, and connect and share data with the province-level police authority where such courts are headquartered within 5 working days from the date on which such decisions come into force.

2. The contents of excerpts of bankruptcy decisions include:

a) Surname, middle name and birth name, other names, sex, date of birth, place of birth registration, nationality, ethnicity, personal identification number or passport number in the absence of a personal identification number, place of residence of the person banned from holding positions, establishing or managing enterprises or cooperatives;

b) Positions banned from holding; duration of prohibition from holding positions, establishing enterprises or cooperatives, or acting as managers of enterprises or cooperatives.

3. Province-level police authorities shall receive criminal record information on bans on holding positions, establishing or managing enterprises or cooperatives provided by courts in accordance with regulations of the Minister of Public Security.”.

15. Article 38 is amended as follows:

“Article 38. Establishment of criminal record files and updating of information on bans on holding positions, establishing or managing enterprises and cooperatives

Where a person banned by the Court from holding positions, establishing or managing enterprises or cooperatives does not yet have a criminal record file, the province-level police authority where the Court issuing the bankruptcy declaration decision is headquartered shall establish a criminal record file; where such person already has a criminal record file, the information shall be updated in that person’s criminal record file in accordance with the Court’s decision.”.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

“Chapter IV

ISSUANCE OF CRIMINAL RECORD CERTIFICATES TO INDIVIDUALS AND PROVISION OF CRIMINAL RECORD INFORMATION TO AGENCIES AND ORGANIZATIONS”.

17. Article 41 is amended as follows:

“Article 41. Criminal record certificate

1. Criminal record certificates issued to individuals prescribed in Clause 1 Article 7 of this Law include criminal record certificate No. 1 and criminal record certificate No. 2.

2. Criminal record certificates shall be issued in electronic form or paper form and shall have equal legal validity.

3. Where an electronic criminal record certificate has been issued in accordance with this Law, criminal record information shall simultaneously be displayed on the National Identification Application and shall have the same validity as a criminal record certificate. Criminal record information displayed on the National Identification Application shall be updated for individuals to use when needed without having to request issuance of a criminal record certificate.

4. The Minister of Public Security shall prescribe the form of criminal record certificates and the format of display of criminal record information on the National Identification Application.”.

18. Article 45 is amended as follows:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. Individuals shall request issuance of criminal record certificates online.

Foreigners and persons not yet having electronic identification may request issuance of criminal record certificates in person or via postal services.

2. Requests for issuance of criminal record certificates shall be made as follows:

a) In case of online request, it shall be made through the National Identification Application or the National Public Service Portal;

b) In case of request via postal services, the application shall be sent together with certification of the requester’s signature in accordance with law;

c) In case of direct request for issuance of a criminal record certificate, the application shall be submitted to the competent authority for issuing criminal record certificates.

3. Individuals may request issuance of criminal record certificates for their father, mother, wife, husband, child or the person under their guardianship. Such request shall comply with Clause 2 of this Article.

4. Individuals may authorize another person to carry out procedures for requesting issuance of criminal record certificates. Such authorization shall be made in writing in accordance with law, and the request for issuance of criminal record certificates shall comply with Points b and c Clause 2 of this Article.”.

19. Article 48 is amended as follows:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

1. In case of a request as prescribed at Point a Clause 2 Article 45 of this Law, the criminal record certificate shall be issued in electronic form.

In case of a request as prescribed at Points b and c Clause 2 Article 45 of this Law, the criminal record certificate shall be issued in paper form.

2. The time limit for issuance of a criminal record certificate is 5 working days from the date of receipt of a valid request; where there is information on criminal records or new criminal acts requiring verification, the time limit for issuance of a criminal record certificate may be longer but shall not exceed 15 days.”.

20. Section 3 is added to Chapter IV as follows:

“Section 3

PROVISION OF CRIMINAL RECORD INFORMATION AT THE REQUEST OF AGENCIES AND ORGANIZATIONS

Article 50a. Contents of criminal record information provided

Criminal record information provided at the request of procedure-conducting agencies shall include the contents prescribed in Article 43 of this Law; criminal record information provided at the request of regulatory agencies, political organizations, and Vietnam Fatherland Front Committees at all levels shall include the contents prescribed in Article 42 of this Law.

Article 50b. Provision of criminal record information

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The Ministry of Public Security shall organize the connection, sharing and utilization of criminal record information by requesting agencies and organizations, ensuring proper purposes, information security and safety, and personal data protection.

3. Agencies and organizations requesting use of criminal record information shall be responsible for accessing and using criminal record information for proper purposes, ensuring information security and safety, and personal data protection.”.

21. Article 52 is amended as follows:

Competence, procedures for settlement of complaints shall comply with the law on complaints.”.

22. Certain phrases in articles, clauses and points are replaced, added or removed as follows:

a) The phrase “Director of the National Criminal Records Center” is replaced with the phrase “Director of the Department of Criminal Records and Operational Data of the Ministry of Public Security” in Clause 3 Article 44;

b) The phrase “National Criminal Records Center” is replaced with the phrase “the Department of Criminal Records and Operational Data of the Ministry of Public Security” in Articles 17, 30, 31, 32, 44 and 47;

c) The phrase “Department of Justice” is replaced with the phrase “province-level police authority” in Articles 20, 28, 29, 30, 44 and 47;

d) The phrase “identity card number or passport number” is replaced with the phrase “personal identification number or passport number in the absence of a personal identification number” in Articles 42 and 43;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

e) The phrase “completed serving the penalty” is replaced with the phrase “completed serving the sentence” in Article 30;

g) The phrase “serving the penalty” is replaced with the phrase “serving the sentence” in Article 32;

h) The phrase “10 days” is replaced with the phrase “05 working days” in Articles 17, 20 and 24;

i) The phrase “Surname, name” before the phrase “sex” is replaced with the phrase “Surname, middle name and birth name, other names” in Articles 42 and 43;

k) The phrase “surname and name of father, mother, wife, husband” is replaced with the phrase “surname, middle name and name of father, mother, wife, husband” in Article 43;

l) The phrase “agency managing the criminal records database” is replaced with the phrase “competent authority for issuing criminal record certificates” in Articles 2, 6, 24 and 49;

m) The phrase “Clause 11” is replaced with the phrase “Clause 7 and Clause 8” in Article 20;

n) The phrase “place of birth, nationality” is replaced with the phrase “place of birth registration, nationality, ethnicity” in Articles 42 and 43;

o) The phrase “decisions of the judgment on judicial measures,” is added before the phrase “civil obligations in the criminal judgment” in Clause 2 Article 2 and Point b Clause 2 Article 43;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

q) The phrase “, judgment enforcement agencies under the Ministry of National Defense” is removed in Articles 6 and 24;

r) The phrase “centrally-affiliated” is removed in Article 47.

23. Article 13, Article 18, Article 21, Article 22, Article 23, Clause 3 Article 24, Article 34, Clause 4 Article 44, Article 46, Article 53 and Article 56 are annulled.

Article 2. Entry into force

This Law comes into force as of July 1, 2026.

Article 3. Transitional provisions

1. The Supreme People’s Court, the Supreme People’s Procuracy, the Ministry of Justice, the Ministry of National Defense, and relevant agencies and organizations shall cooperate with the Ministry of Public Security in organizing the connection and sharing of criminal record information data formed before the effective date of this Law, ensuring completion before July 1, 2026 for building the criminal records database.

2. Applications for issuance of criminal record certificates received before the effective date of this Law shall comply with the Law on criminal records No. 28/2009/QH12 amended by Law No. 68/2020/QH14.

This Law was passed by the 15th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 10th Session on December 5, 2025.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 

PRESIDENT OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025
Số hiệu: 107/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Quyền dân sự
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 05/12/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản