Luật Đất đai 2024

Luật Công chứng sửa đổi 2026

Số hiệu 04/2026/QH16
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 23/04/2026
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Dịch vụ pháp lý
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 04/2026/QH16

Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2026

 

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng số 46/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 106/2025/QH15.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 2 như sau:

“1. Công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch bằng văn bản (sau đây gọi là giao dịch) phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công chứng giao dịch theo quy định tại Điều 73 của Luật này.

2. Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) bổ nhiệm để hành nghề công chứng và thực hiện một số nhiệm vụ chứng thực theo quy định của pháp luật.”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau:

“Điều 3. Giao dịch phải công chứng

1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định phải công chứng.

2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật, đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 11 như sau:

“6. Việc công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người đó cư trú.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung đào tạo nghề công chứng và hồ sơ, trình tự, thủ tục công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài.”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 13 như sau:

“1. Người đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này và không thuộc trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 14 của Luật này có quyền đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi hoàn thành tập sự hành nghề công chứng bổ nhiệm công chứng viên.”.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 16 như sau:

“3. Việc miễn nhiệm công chứng viên thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi công chứng viên đang hành nghề; trường hợp công chứng viên đang không hành nghề tại 01 tổ chức hành nghề công chứng tại thời điểm xem xét miễn nhiệm công chứng viên thì việc miễn nhiệm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi hành nghề cuối cùng của công chứng viên; trường hợp công chứng viên được bổ nhiệm nhưng chưa hành nghề thì việc miễn nhiệm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã bổ nhiệm công chứng viên.

Chính phủ quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục miễn nhiệm công chứng viên.”.

6. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 17 như sau:

“4. Việc bổ nhiệm lại công chứng viên thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã miễn nhiệm công chứng viên đó.

Chính phủ quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục bổ nhiệm lại công chứng viên.”.

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

“Điều 19. Tổ chức hành nghề công chứng

1. Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng phù hợp với quy định của Luật này, các văn bản hướng dẫn thi hành và tình hình thực tiễn tại địa phương; xem xét, quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cho tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện công chứng giao dịch tại những địa bàn cấp xã đã phát triển được tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức theo quy định của Chính phủ.”.

8. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 23 như sau:

“1. Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Tại các đơn vị hành chính cấp xã có mật độ dân số thấp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ chưa phát triển và khó khăn trong việc thành lập Văn phòng công chứng theo loại hình công ty hợp danh thì được thành lập Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Đơn vị hành chính cấp xã không còn thuộc trường hợp được thành lập Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân thì Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân đã được thành lập trước đó vẫn được tiếp tục hoạt động.

Chính phủ quy định việc chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân thành Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định danh mục đơn vị hành chính cấp xã được thành lập Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân tại địa phương mình.”.

9. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 24 như sau:

“d) Chưa hết thời hạn 02 năm theo quy định tại khoản 6 Điều 27, khoản 5 Điều 30, khoản 5 Điều 31 và khoản 4 Điều 34 của Luật này.”.

10. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 26 như sau:

“1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi một trong các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 25 của Luật này, Văn phòng công chứng phải đăng ký nội dung thay đổi tại Sở Tư pháp nơi Văn phòng công chứng đã đăng ký hoạt động.

Trường hợp bổ sung thành viên hợp danh hoặc công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động của Văn phòng công chứng thì công chứng viên được bổ sung được hành nghề kể từ ngày Văn phòng công chứng được Sở Tư pháp cấp lại giấy đăng ký hoạt động hoặc ghi nhận nội dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng.

Việc thay đổi địa chỉ trụ sở Văn phòng công chứng phải phù hợp với Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương.

Việc thay đổi tên của Văn phòng công chứng phải bảo đảm yêu cầu quy định tại khoản 4 Điều 23 của Luật này.

2. Văn phòng công chứng thay đổi tên, địa chỉ trụ sở, Trưởng Văn phòng công chứng thì được Sở Tư pháp cấp lại giấy đăng ký hoạt động; trường hợp thay đổi các nội dung đăng ký hoạt động khác thì Sở Tư pháp cấp lại giấy đăng ký hoạt động hoặc ghi nhận nội dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng.”.

11. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 42 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Người yêu cầu công chứng nộp 01 bộ hồ sơ yêu cầu công chứng trực tuyến, trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến tổ chức hành nghề công chứng. Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm các giấy tờ sau đây:

a) Dự thảo giao dịch;

b) Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, gồm thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác để xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật;

c) Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý tài sản hoặc giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp giao dịch liên quan đến tài sản đó;

d) Giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có.

Các giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản này là bản sao giấy hoặc bản sao điện tử hoặc bản chính điện tử.”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 và bổ sung khoản 7a vào sau khoản 7 như sau:

“7. Người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo giao dịch thì ký vào từng trang của giao dịch và ký, ghi đủ họ, tên của cá nhân, đóng dấu của tổ chức (nếu có) vào trang cuối của giao dịch; trường hợp điểm chỉ thì thực hiện theo quy định tại Điều 50 của Luật này. Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính giấy hoặc bản chính điện tử của các giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này để kiểm tra, đối chiếu trước khi ký vào lời chứng và từng trang của giao dịch; trường hợp công chứng văn bản từ chối nhận di sản quy định tại Điều 60 của Luật này thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình bản chính giấy hoặc bản chính điện tử của giấy tờ quy định tại điểm c khoản 1 Điều này để công chứng viên kiểm tra, đối chiếu trước khi ký vào lời chứng và từng trang của giao dịch; đối với các giấy tờ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này mà người yêu cầu công chứng không có bản chính giấy hoặc bản chính điện tử tại thời điểm công chứng viên ký vào lời chứng thì có thể xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính.

7a. Trong trường hợp đã có dữ liệu về các thông tin trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng quy định tại khoản 1 Điều này trong cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố thì người yêu cầu công chứng không phải cung cấp giấy tờ có chứa thông tin đó mà có thể tự khai thác dữ liệu để cung cấp cho công chứng viên; trường hợp người yêu cầu công chứng đề nghị công chứng viên khai thác dữ liệu thì phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật; công chứng viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng khai thác, sử dụng thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu khác đã được công bố để xem xét, giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng; không yêu cầu xuất trình bản chính giấy tờ để đối chiếu theo quy định tại khoản 7 Điều này. Công chứng viên chỉ được yêu cầu người yêu cầu công chứng bổ sung giấy tờ trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong trường hợp không khai thác được thông tin trong thời hạn giải quyết yêu cầu công chứng hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.”.

12. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 43 như sau:

“3. Các thủ tục khác được thực hiện theo quy định tại các khoản 6, 7, 7a và 8 Điều 42 của Luật này.”.

13. Sửa đổi, bổ sung Điều 44 như sau:

“Điều 44. Thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản

1. Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền về bất động sản và công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng giao dịch theo quy định tại khoản 1 Điều này trong phạm vi toàn quốc sau khi cơ sở dữ liệu công chứng quy định tại Điều 66 của Luật này được vận hành và thông tin trong các cơ sở dữ liệu có liên quan đã được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố theo quy định của pháp luật.”.

14. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 50 như sau:

“4. Việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký theo đề nghị của người yêu cầu công chứng.”.

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 57 như sau:

“Điều 57. Công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến 01 tổ chức hành nghề công chứng

1. Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến 01 tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền được yêu cầu công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà mình lựa chọn chứng nhận việc đề nghị ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền được yêu cầu công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà mình lựa chọn chứng nhận tiếp vào bản gốc của hợp đồng ủy quyền đó để xác nhận việc chấp nhận ủy quyền, hoàn thành việc công chứng hợp đồng ủy quyền.

Văn bản công chứng hợp đồng ủy quyền có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà bên ủy quyền và bên được ủy quyền yêu cầu công chứng ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng đó. Trường hợp là văn bản công chứng điện tử thì phải có chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của các tổ chức hành nghề công chứng đó.

2. Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến 01 tổ chức hành nghề công chứng được thực hiện theo quy định tại Điều 53 của Luật này và khoản 1 Điều này. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền có hiệu lực theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Trường hợp hai bên cùng yêu cầu công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền tại một trong hai tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng trước đó thì tổ chức hành nghề công chứng này có trách nhiệm thông báo và gửi 01 bản sao của văn bản sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cho tổ chức hành nghề công chứng còn lại trong thời hạn 05 ngày làm việc để lưu hồ sơ công chứng.

3. Việc sửa lỗi kỹ thuật của văn bản công chứng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện tại một trong hai tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Công chứng viên thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 52 của Luật này, thông báo bằng văn bản về việc sửa lỗi kỹ thuật cho những người tham gia giao dịch và tổ chức hành nghề công chứng còn lại đã thực hiện việc công chứng trong thời hạn 05 ngày làm việc; trường hợp tổ chức hành nghề công chứng còn lại đã chấm dứt hoạt động thì thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng lưu trữ hồ sơ công chứng của tổ chức hành nghề công chứng đó trong thời hạn 05 ngày làm việc.”.

16. Sửa đổi, bổ sung Điều 66 như sau:

“Điều 66. Cơ sở dữ liệu công chứng

1. Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các dữ liệu sau đây:

a) Thông tin về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, giao dịch đã được công chứng;

b) Thông tin về tình trạng giao dịch của tài sản;

c) Thông tin về biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro trong hoạt động công chứng;

d) Văn bản công chứng và tài liệu khác trong hồ sơ công chứng.

2. Cơ sở dữ liệu công chứng phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời và bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật. Việc thu thập, cung cấp thông tin để đưa vào cơ sở dữ liệu công chứng và khai thác, sử dụng, chia sẻ cơ sở dữ liệu công chứng phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan về bảo mật thông tin về nội dung công chứng, bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa cơ sở dữ liệu công chứng với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở dữ liệu khác phải bảo đảm hiệu quả, an toàn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Cơ sở dữ liệu công chứng được quản lý tập trung và được phân cấp quản lý theo trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

4. Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong phạm vi cả nước.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy chế quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng, chia sẻ cơ sở dữ liệu công chứng trong phạm vi cả nước.

5. Kinh phí xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp cơ sở dữ liệu công chứng được sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn khác theo quy định của pháp luật.

6. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này.”.

17. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 68 như sau:

“3. Trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và giấy tờ khác có liên quan. Việc đối chiếu bản sao văn bản công chứng với bản gốc chỉ được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi đang lưu trữ hồ sơ công chứng, trừ trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu cung cấp bản gốc văn bản công chứng để phục vụ việc xác minh, giám định tài liệu. Thời hạn cung cấp bản gốc văn bản công chứng tối đa là 10 ngày làm việc kể từ ngày bàn giao. Cơ quan tiến hành tố tụng chịu trách nhiệm bảo quản và bàn giao lại đầy đủ, nguyên vẹn và đúng thời hạn bản gốc văn bản công chứng cho tổ chức hành nghề công chứng. Việc bàn giao bản gốc văn bản công chứng phải được lập thành văn bản có ghi rõ thời gian bàn giao lại văn bản công chứng đó, người có trách nhiệm bàn giao lại và trách nhiệm trong trường hợp để mất, hư hỏng bản gốc văn bản công chứng.”.

18. Thay thế một số cụm từ tại một số điểm, khoản như sau:

a) Thay thế cụm từ “Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại khoản 4 Điều 8;

b) Thay thế cụm từ “thanh tra viên chính ngành tư pháp” bằng cụm từ “thanh tra viên chính trong lĩnh vực tư pháp” tại điểm a khoản 3 Điều 11; cụm từ “thanh tra viên cao cấp ngành tư pháp” bằng cụm từ “thanh tra viên cao cấp trong lĩnh vực tư pháp” tại điểm d khoản 3 Điều 11;

c) Thay thế cụm từ “xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” tại khoản 3 Điều 14;

d) Thay thế cụm từ “địa bàn cấp huyện” bằng cụm từ “địa bàn cấp xã” tại điểm a khoản 2 Điều 20 và khoản 1 Điều 21;

đ) Thay thế cụm từ “tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” bằng cụm từ “tỉnh, thành phố” tại khoản 4 Điều 20, khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 41 và khoản 5 Điều 68.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.

Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp

1. Người đã được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ chứng thực theo quy định của Luật Công chứng số 46/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 106/2025/QH15 và quy định của Luật này.

2. Việc bổ nhiệm công chứng viên đối với người đã hoàn thành tập sự hành nghề công chứng tại tỉnh, thành phố được sắp xếp với tỉnh, thành phố khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố sau khi sắp xếp.

3. Việc miễn nhiệm công chứng viên đối với những trường hợp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm được thực hiện theo quy định của Luật này. Trường hợp công chứng viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm mà chưa hành nghề thì việc miễn nhiệm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã đề nghị bổ nhiệm công chứng viên đó.

4. Việc bổ nhiệm lại công chứng viên đối với những trường hợp đã được miễn nhiệm hoặc bị miễn nhiệm trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được thực hiện theo quy định của Luật này. Trường hợp công chứng viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp miễn nhiệm thì việc bổ nhiệm lại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã đề nghị miễn nhiệm công chứng viên đó; trường hợp Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình miễn nhiệm công chứng viên thì việc bổ nhiệm lại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi hành nghề cuối cùng của công chứng viên đó.

5. Cơ sở dữ liệu công chứng của các địa phương được xây dựng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục quản lý, khai thác, sử dụng theo quy định của Luật Công chứng số 46/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 106/2025/QH15 cho đến ngày cơ sở dữ liệu công chứng được xây dựng theo quy định của Luật này được đưa vào vận hành, sử dụng và các dữ liệu cần thiết đã được đồng bộ đầy đủ, chính xác vào cơ sở dữ liệu công chứng được xây dựng theo quy định của Luật này.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc cập nhật, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu công chứng đã có tại địa phương trong thời gian xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng theo quy định của Luật này; chỉ đạo việc kết nối, tích hợp các dữ liệu công chứng tại địa phương với cơ sở dữ liệu công chứng theo quy định của Luật này bảo đảm kịp thời, an toàn, đầy đủ, chính xác.

6. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Chính phủ tổ chức rà soát các quy định về giao dịch phải công chứng tại các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định không đáp ứng yêu cầu về giao dịch phải công chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật này.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 23 tháng 4 năm 2026.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

0
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Công chứng sửa đổi 2026
Tải văn bản gốc Luật Công chứng sửa đổi 2026

NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
--------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom – Happiness
---------------

Law No. 04/2026/QH16

Hanoi, April 23, 2026

 

LAW

ON AMENDMENTS TO CERTAIN ARTICLES OF THE Law on Notarization

Pursuant to Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly hereby promulgates the Law on amendments to certain articles of the Law on Notarization No. 46/2024/QH15 which is amended by Law No. 106/2025/QH15.

Article 1. Amendments to certain articles of the Law on Notarization

1. Amendments to Clauses 1 and 2 Article 2:

 “1. “Notarization” means a public service provided by notaries of notarial practice organizations to certify the authenticity and lawfulness of written transactions (hereinafter referred to as “transactions”) that are required to be notarized or requested by individuals and organizations themselves.

Overseas embassies and consulates of the Socialist Republic of Vietnam shall notarize transactions according to the provisions of Article 73 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Amendments to Article 3:

 “Article 3. Transactions to be notarized

1. A transaction required by law to be notarized is an important transaction that involve stringent requirements for the parties to the transaction and requires a high degree of legal certainty.

2. The Ministry of Justice shall take charge and cooperate with relevant ministries and central authorities in reviewing, updating and posting the list of transactions to be notarized and authenticated on its web portal.”.

3. Amendments to Clause 6 of Article 11:

 “6. The equivalence recognition for persons who have been given notary training abroad shall fall within the competence of the Chairpersons of the People’s Committees of the provinces where such persons reside.

The Minister of Justice shall stipulate the framework program for notary training and applications and procedures for equivalence recognition for persons who have been given notary training abroad.

4. Amendments to Clause 1 of Article 13:

 “1. Individuals fully satisfying the criteria specified in Article 10 of this Law and not included in the group of individuals ineligible for appointment as notaries specified in clauses 2, 3, 4, 5, 6, 7 and 8 Article 14 of this Law may request the Chairperson of the People’s Committee of the province where they have completed the period of notarial apprenticeship to appoint as notaries.”.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 “3. The Chairpersons of the People's Committees of provinces have the power to terminate notaries practicing in their provinces. Where the notary is not practicing at a notarial practice organization at the time the Chairperson of the People's Committee of the province where the notary last practiced has the power to terminate him/her. Where a notary has been appointed but has not yet commenced practice, the Chairperson of the People's Committee of the province where the notary was appointed has the power to terminate him/her.

The Government shall stipulate dossiers and procedures for termination of notaries.”.

6. Amendments to Clause 4 of Article 17:

 “4. The re-appointment as notaries shall fall within the competence of the Chairpersons of the People’s Committees of the provinces where such notaries have been terminated.

The Government shall stipulate dossiers and procedures for re-appointment as notaries.”.

7. Amendments to Article 19:

 “Article 19. Notarial practice organizations

1. Notarial practice organizations include Notary bureaus and notary offices that are organized and operate in accordance with the provisions of this Law and other relevant laws.

2. The Provincial People’s Committees shall promulgate Schemes on management and development of notarial practice organizations in accordance with the provisions of this Law, its guidance documents and local actual conditions; consider deciding the transfer of the authority to authenticate transactions from the Chairperson of the commune-level People's Committees to notarial practice organizations for the notarization of transactions in commune-level administrative divisions where notarial practice organizations have been developed to meet the notarization requirements of individuals and organizations as prescribed by the Government.”.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 “1. Notary offices shall be organized and operate according to the provisions of this Law and other provisions of relevant laws applicable to partnerships. In commune-level administrative divisions with low population density, underdeveloped infrastructure and services and difficulties during the establishment of notary offices in the form of partnerships, notary offices may be established in the form of sole proprietorships. If a commune-level administrative division ceases to qualify for establishment of a notary office in the form of a sole proprietorship, any notary office organized and operating in the form of the sole proprietorship that has been previously established may continue its operation.

The Government provides for the conversion from a notary office organized and operating in the form of a sole proprietorship to a notary office organized and operating in the form of a partnership.

The provincial People’s Committee shall decide the list of commune-level administrative divisions that are permitted to establish notary offices organized and operating in the form of sole proprietorships within their provinces.”.

9. Amendments to Point d Clause 2 Article 24:

 “d) The 2-year term prescribed in clause 6 Article 27, clause 5 Article 30, clause 5 Article 31 and clause 4 Article 34 of this Law has not yet expired.”.

10. Amendments to Clauses 1 and 2 Article 26:

 “1. Within 10 days from the day on which one of the contents specified in clause 2 Article 25 of this Law is changed, a notary office shall register the changes with the Justice Department of division where the notary office has registered its operations.

Where additional partners or notaries working under employment contracts are admitted to a notary office, such newly admitted notaries may practice from the day on which the Justice Department re-grants the registration certificate or records the changes in the registration certificate of the notary office.

The change in the address of a notary office must be in conformity with the Scheme on management and development of notarial practice organizations of their division.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The Justice Department shall reissue the registration certificate when a notary office changes its name, address of its headquarters or its head; in case of changing other contents of the registration certificate, the Justice Department shall reissue the registration certificate or record the changes in the registration certificate of the notary office.”.

11. Amendments to certain clauses of Article 42:

a) Amendments to Clause 1:

 “1. A notarial requester shall submit an application for notarization online, in person or by post to a notarial practice organization. The application for notarization shall include the following documents:

a) The draft transaction;

b) The identity card or passport or another personal identity paper of the notarial requester in accordance with law;

c) The certificate of property ownership or rights to use property, or the legally effective judgment or decision of a court, or another decision of a competent regulatory agency regarding the handling of property or its substitute paper as prescribed by law, for property for which the registration of ownership or rights to use is required by law, where the transaction relates to such property;

d) Other papers related to the transaction as required by law.

The documents specified in points b, c and d of this clause shall be physical or electronic copies or electronic originals.";

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 “7. The notarial requester shall sign every page of the transaction, write his/her full name and affix his/her organization's seal (if applicable) to the last page of the transaction if agreeing with the whole contents of the draft transaction; In case fingerprinting, it shall be carried out in accordance with the provisions of Article 50 of this Law. The notary shall request the notarial requester to present the physical originals or the electronic originals of the documents specified in point b, c and d clause 1 of this Article for examination and verification prior to writing testimonies and signing every page of the transaction. In the case of notarization of a written disclaimer of estate as prescribed in Article 60 of this Law, the notarial requester shall not be required to present the physical original or electronic original of the document specified at Point c Clause 1 of this Article for the notary's examination and verification prior to writing testimonies and signing every page of the transaction. With respect to the documents specified at Point d Clause 1 of this Article, where the notarial requester does not possess the physical original or electronic original at the time the notary writes testimonies and append a signature, he/she may present a copy from the master register, a certified true copy, or an electronic certified true copy issued from the original.

7a. Where information contained in the documents forming part of an application for notarization as prescribed in Clause 1 of this Article is already available in databases that have been made publicly accessible by their owners, the notarial requester shall not be required to submit documents containing such information and may independently access the data for provision to the notary. Where the notarial requester requests the notary to access such data, he/she shall pay the fees for access to and use of information in the databases in accordance with law. The notary receiving the application for notarization shall access and use information already available in the national database and other publicly accessible databases for the purpose of reviewing and processing the application for notarization, and shall not require the presentation of originals for verification as prescribed in Clause 7 of this Article. The notary shall only request the notarial requester to provide additional documents included in the application for notarization where the relevant information cannot be accessed within the prescribed time limit for processing the notarization request, or where the information obtained from the database is incomplete or inaccurate.”.

12. Amendments to Clauses 3 Article 43:

 “3. Other procedures shall comply with the provisions of clauses 6, 7, 7a and 8 Article 42 of this Law.".

13. Amendments to Article 44:

 “Article 44. Authority to notarize real estate-related transactions

1. A notary of a notarial practice organization may only notarize real estate-related transactions within the province or city where the notarial practice organization headquartered, excluding testaments or written disclaimers of real estate and letters of authorization related to the exercise of real estate-related rights, and notarizing the modification, supplementation, termination, or cancellation of these transactions in accordance with the law.

2. The Government shall provide for a roadmap for the nationwide implementation of the authority to notarize real estate-related transactions as provided in Clause 1 of this Article after the notarization database prescribed in Article 66 of this Law has become operational and the information contained in the relevant databases has been made available by their owners in accordance with law.”.

14. Amendments to Clause 4 of Article 50:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

15. Amendments to Article 57:

 “Article 57. Notarization of an authorization contract in case the authorizing party and authorized party cannot appear together at the same notarial practice organization

1. In case the authorizing party and authorized party cannot jointly appear at a single notarial practice organization, the authorizing party may request a notary of a selected notarial practice organization to certify the request for authorization in an authorization contract; the authorized party may then request a notary of a selected notarial practice organization to make a further certification on the original of such authorization contract, confirming the acceptance of authorization and thereby completing the notarization of the authorization contract.

The notarized authorization contract shall take effect from the time when the notaries of both the notarial practice organizations that the authorizing party and the authorized party have requested notarization appended their signatures and affixed the seals of the notarial practice organizations. For an electronic notarized document, digital signatures of the notaries and the notarial practice organizations are required.

2. The notarization of amendments or supplements to, or an agreement on the termination of, an authorization contract in cases where the authorizing party and the authorized party are unable to jointly appear at a single notarial practice organization shall comply with the provisions of Article 53 of this Law and clause 1 of this Article. The

In case both parties request notarization of the amendments or supplements to, or the agreement on the termination of the authorization contract at one of the two notarial practice organizations that have previously performed the notarization, such notarial practice organization is responsible for notifying and sending one copy of the amendments, supplements to, or the agreement on the termination of the contract to the other notarial practice organization within 05 working days for archiving purposes.

3. Technical errors of notarized documents as prescribed in clause 1 and clause 2 of this Article shall be corrected at one of the two notarial practice organizations that have performed the notarization, unless otherwise provided for by law. The notary shall correct technical errors according to the provisions of clause 3 and clause 4 Article 52 of this Law, and send a written notification of the technical error correction to the parties to the transaction and the other notarial practice organization that have performed the notarization within 05 working days; in cases where the other notarial practice organization has terminated its operations, such notification shall be sent to the notarial practice organization storing the notarial record of such notarial practice organization within 05 working days.”.

16. Amendments to Article 66:

 “Article 66. Notarial database

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Information on the notary, notarial practice organization and notarized transaction;

b) Information on the transaction status of the property;

c) Information on preventive measures and risk warnings during the notarization;

d) Notarized document and other documents included in the notarial record.

2. Notarial database must be updated fully, accurately, promptly in a manner that ensures security and safety in accordance with law. The collection and provision of information for inclusion in the notarial database and the access and use of notarial database must comply with the provisions of this Law and other relevant laws on confidentiality of notarized contents and the protection of privacy, personal secrets and family secrets.

The connection and sharing of information between the notarial database and national databases, databases of ministries, central and local authorities and other databases must ensure effectiveness, safety and compliance with the functions, tasks and powers as prescribed by this Law and other relevant laws.

3. Notarial database shall be managed centrally while management responsibilities shall be decentralized in accordance with the responsibilities for state management of notarization of the Ministry of Justice and the provincial People’s Committees.

4. The Ministry of Justice shall develop a synchronized and uniform notarization database from central authorities to local authorities in accordance with technical standards and technical regulations applicable nationwide.

The Minister of Justice shall promulgate regulations on management, updating, access, use and sharing of the notarial database nationwide.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

6. The Government of Vietnam shall elaborate clauses 1, 2, 3 and 5 of this Article.”.

17. Amendments to Clause 3 of Article 68:

 “3. Where a competent regulatory authority make a written request for the provision of a notarial record for supervision, examination, inspection, investigation, prosecution, trial or judgment enforcement related to notarized affairs, the concerned notarial practice organization shall supply copies of notarized documents and other relevant papers. The comparison of copies of a notarized document with its original shall be carried out at the notarial practice organization where the notarial record is stored, except where a procedural authority requests the original notarized document for the purpose of verification or forensic examination of documents. The period for provision of the original notarized document shall not exceed 10 working days from the date of handover. The procedural authority shall be responsible for preserving the original notarized document and returning it to the notarial practice organization fully and punctually The handover of the original notarized document shall be documented in writing, specifying the time by which it must be returned, the person responsible for returning it and the liability in the event of loss of or damage to the original notarize document.".

18. The following phrases in certain points and clauses shall be replaced as follows:

a) The phrase "the People’s Committee of a province or central-affiliated city (hereinafter referred to as “the provincial People’s Committee”) shall be replaced with the phrase “the provincial People’s Committee” in clause 4 of Article 8;

b) The phrase “thanh tra viên chính ngành tư pháp” shall be replaced with the phrase “thanh tra viên chính trong lĩnh vực tư pháp” (both mean “chief inspectors of justice”) in point a clause 3 of Article 11; the phrase “thanh tra viên cao cấp ngành tư pháp” shall be replaced with the phrase “thanh tra viên cao cấp trong lĩnh vực tư pháp” (both mean “senior inspectors of justice”) in point d clause 3 of Article;

c) The phrase “commune, ward, commune-level town” shall be replaced with the phrase “commune, ward, special zone" specified in clause 3 of Article 14;

d) The phrase “địa bàn cấp huyện” (“district-level division”) shall be replaced with the phrase “địa bàn cấp xã” (“commune-level division") in point a clause 2 of Article 20 and clause 1 of Article 21’

dd) The phrase “provinces, central-affiliated cities” shall be replaced with the phrase “provinces, cities" in clause 4 Article 20, clause 1 Article 29, clause 1 Article 41 and clause 5 Article 68.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Law comes into force from January 01, 2027.

Article 3. Transitional provisions

1. Any person who was appointed or reappointed as a notary before the effective date of this Law may continue to practice notarization and perform authentication duties in accordance with Law No. 46/2024/QH15 on Notarization amended by Law No. 106/2025/QH15, and the provisions of this Law.

2. Notaries who have completed their notarial apprenticeship in a province or city merged with another province or city shall be notarized by the Chairperson of the People's Committee of the province or city after such reorganization.

3. The termination of notaries appointed by the Minister of Justice shall be carried out in accordance with this Law. Where a notary appointed by the Minister of Justice has not yet commenced notarial practice, the Chairperson of the provincial People's Committee that proposed the appointment of such notary has the power to dismiss him/her.

5. Local notarial databases established before the effective date of this Law shall continue to be managed, exploited and used in accordance with Law No. 46/2024/QH15 on Notarization amended by Law No. 106/2025/QH15, until the notarial database established under this Law is put into operation and use, and all necessary data have been fully and accurately synchronized thereto.

The Provincial People's Committees shall be responsible for directing the updating, management and exploitation of existing local notarial databases during the period in which the notarial database prescribed by this Law is being established; and for directing the connection and integration of local notarial data with the notarial database established under this Law in a timely, secure, complete and accurate manner.

6. Within one year from the effective date of this Law, the Government shall review provisions on transactions required to be notarized under legislative documents promulgated before the effective date of this Law and complete the amendment, supplementation or abolition thereof within its competence or submit proposals to competent authorities for amendment, supplementation or abolition of provisions that do not meet the requirements applicable to transactions  required to be notarized as stipulated in Clause 2, Article 1 of this Law.

This Law was passed on April 23, 2026, by the XVIth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 1st session.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

 

CHAIRPERSON OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Công chứng sửa đổi 2026
Số hiệu: 04/2026/QH16
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Dịch vụ pháp lý
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 23/04/2026
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản