Luật Đất đai 2024

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025

Số hiệu 101/2025/QH15
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 26/11/2025
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Trách nhiệm hình sự,Thủ tục Tố tụng
Loại văn bản Luật
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 101/2025/QH15

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2025

 

LUẬT

CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là việc Việt Nam và nước ngoài chuyển giao cho nhau người đang chấp hành án phạt tù có nguyện vọng được chuyển về nước đồng ý tiếp nhận để tiếp tục chấp hành án phạt tù trên cơ sở quy định của pháp luật trong nước, điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.

2. Người đang chấp hành án phạt tù là người bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân và đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ phạm nhân.

3. Nước chuyển giao là nước có thể chuyển giao hoặc đã chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại nước mình sang nước nhận.

4. Nước nhận là nước có thể tiếp nhận hoặc đã tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù để tiếp tục thi hành án phạt tù.

5. Chuyển đổi hình phạt tù là việc Tòa án nhân dân có thẩm quyền của Việt Nam quyết định chuyển đổi hình phạt tù trong bản án, quyết định của tòa án có thẩm quyền của nước ngoài đã tuyên đối với người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam cho phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Điều 4. Áp dụng pháp luật và nguyên tắc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định của Luật này; trường hợp Luật này không quy định thì áp dụng quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.

2. Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế;

c) Tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù.

Điều 5. Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; lập, gửi và tiếp nhận yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 6. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Tuân thủ nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;

b) Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu của Việt Nam trong trường hợp tương tự. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu chuyển giao, Bộ Công an có cam kết bằng văn bản về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

c) Phù hợp với thực tiễn và nhu cầu hợp tác về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài.

2. Bộ Công an căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 7. Thời điểm rút lại đơn đề nghị được chuyển giao

1. Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó chỉ có quyền rút lại đơn đề nghị được chuyển giao trước khi quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân có thẩm quyền của Việt Nam có hiệu lực.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 8. Ngôn ngữ trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì ngôn ngữ trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế đó.

2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì hồ sơ, tài liệu yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước tiếp nhận hoặc ngôn ngữ khác mà nước tiếp nhận chấp nhận.

3. Cơ quan lập hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải dịch hồ sơ, tài liệu ra ngôn ngữ quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 9. Miễn hợp pháp hóa lãnh sự

Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu được ký, đóng dấu bởi người, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Điều 10. Chi phí thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Trường hợp Việt Nam là nước chuyển giao, Việt Nam chi trả các chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phát sinh đến thời điểm bàn giao người đang chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp Việt Nam là nước nhận, Việt Nam chi trả các chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phát sinh từ thời điểm tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 11. Kinh phí bảo đảm công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Kinh phí cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Người đang chấp hành án phạt tù, người đại diện hợp pháp của người đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng góp, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và chi phí khác của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 12. Quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải được thông báo trước bằng văn bản đến Bộ Công an để xử lý. Việc đồng ý hoặc từ chối quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp được phép quá cảnh, nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù chịu trách nhiệm quản lý người đó trong thời gian quá cảnh Việt Nam và chịu mọi chi phí quá cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không và hạ cánh đột xuất trên lãnh thổ Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù có thể bị quản lý theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc quản lý người đang chấp hành án phạt tù và chi phí có liên quan được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp Việt Nam đề nghị nước ngoài cho phép quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù thì Bộ Công an liên hệ với nước ngoài để thực hiện các thủ tục xin phép quá cảnh.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 13. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Chính phủ có trách nhiệm sau đây:

a) Thống nhất quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

b) Báo cáo Quốc hội về công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong báo cáo về công tác thi hành án hằng năm.

2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

3. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện các nhiệm vụ về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.

4. Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan khác có liên quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện các nhiệm vụ về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan; phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Chương II

TIẾP NHẬN NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ  Ở NƯỚC NGOÀI VỀ VIỆT NAM

Điều 14. Thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

Tòa án nhân dân khu vực nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được đề nghị chuyển giao có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam. Trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người được đề nghị chuyển giao hoặc người được đề nghị chuyển giao không thường trú tại Việt Nam thì Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.

Điều 15. Điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài có thể được tiếp nhận về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là công dân Việt Nam;

b) Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước chuyển giao cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật về hình sự của Việt Nam vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;

d) Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý;

đ) Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao;

e) Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.

2. Chính phủ quy định chi tiết trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

Điều 16. Các trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;

b) Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này;

c) Có thể phương hại đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam;

d) Vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù.

2. Chính phủ quy định chi tiết điểm d khoản 1 Điều này.

Điều 17. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam gồm các tài liệu sau đây:

a) Văn bản yêu cầu chuyển giao của Bộ Công an hoặc của cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;

b) Các tài liệu kèm theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này.

2. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam được lập thành 03 bộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

Điều 18. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và các tài liệu kèm theo

1. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;

b) Căn cứ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước chuyển giao;

d) Thông tin để xác định nhân thân, quốc tịch, nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam (nếu có) và nơi đang chấp hành án phạt tù tại nước chuyển giao, căn cứ pháp lý về việc người đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện để được chuyển giao;

đ) Thông tin cần thiết khác (nếu có).

2. Kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm các tài liệu sau đây:

a) Đơn đề nghị được chuyển giao hoặc tài liệu thể hiện nguyện vọng được chuyển giao hoặc đồng ý về việc chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc của người đại diện hợp pháp của người đó;

b) Tài liệu chứng minh quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao theo quy định của pháp luật Việt Nam;

c) Bản sao bản án, quyết định của tòa án của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao;

d) Văn bản về việc thi hành hình phạt bổ sung (nếu có);

đ) Điều luật của nước chuyển giao áp dụng để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu thi hành hình phạt đối với tội phạm đó của bản án;

e) Văn bản thể hiện sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao hoặc văn bản thể hiện sự đồng ý xem xét yêu cầu chuyển giao của Bộ Công an trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao;

g) Tài liệu mô tả đặc điểm nhân dạng, vân tay và ảnh khuôn mặt của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao;

h) Văn bản, tài liệu xác nhận thời gian người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao đã chấp hành án phạt tù, việc đại xá, đặc xá, miễn, giảm án tại nước chuyển giao và thời gian còn lại phải chấp hành án phạt tù;

i) Tài liệu liên quan đến tình hình sức khỏe, trạng thái tâm thần, hồ sơ bệnh án của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao và các khuyến nghị (nếu có);

k) Điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước chuyển giao (nếu có);

l) Tài liệu cần thiết khác (nếu có).

3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.

Điều 19. Tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài

1. Công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có thể gửi đơn đề nghị được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù đến một trong các cơ quan sau đây:

a) Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao;

b) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao;

c) Bộ Công an.

2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao có trách nhiệm chuyển đơn đến Bộ Công an. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao phải chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao. Căn cứ đơn đề nghị được chuyển giao, Bộ Công an xem xét lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại Điều 20 của Luật này.

Việc chuyển đơn đề nghị được chuyển giao về Việt Nam từ cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao đến Bộ Công an có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 20. Lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam do Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, các thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cung cấp, Bộ Công an xem xét, quyết định việc lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao.

Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam từ Bộ Công an thì chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an.

3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam thì gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến Bộ Công an. Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao thì chuyển ngay đến Bộ Công an để xử lý theo quy định của Luật này.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 21. Tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và tài liệu kèm theo từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao hoặc kể từ ngày nhận được tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn kiểm tra hồ sơ là 07 ngày.

Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu. Sau 60 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin, tài liệu mà không nhận được thông tin, tài liệu bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và nêu rõ lý do. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày.

2. Trường hợp hồ sơ yêu cầu chuyển giao đáp ứng quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ hồ sơ để xem xét, quyết định, đồng thời, chuyển ngay cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ sao y hồ sơ.

Việc chuyển văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 22. Thụ lý hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn thụ lý hồ sơ là 05 ngày.

Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, nếu hồ sơ yêu cầu chuyển giao chưa đầy đủ thông tin, tài liệu hoặc có điểm chưa rõ hoặc có mâu thuẫn thì Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đề nghị Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu. Thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày kể từ ngày Bộ Công an có văn bản yêu cầu.

2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Luật này. Quyết định này phải được gửi cho người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có);

b) Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 3 Điều này và trả hồ sơ cho Bộ Công an.

Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn ra một trong các quyết định tại khoản này là 10 ngày.

Các quyết định tại khoản này phải được chuyển ngay cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

3. Tòa án nhân dân khu vực quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không thuộc thẩm quyền;

b) Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao rút lại yêu cầu chuyển giao;

c) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao;

d) Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao không bổ sung thông tin, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

đ) Lý do khác mà việc xem xét yêu cầu chuyển giao không thể tiến hành được.

4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu chuyển giao, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải mở phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn mở phiên họp xem xét yêu cầu chuyển giao là 10 ngày.

Điều 23. Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và được thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Thẩm phán trình bày nội dung hồ sơ yêu cầu chuyển giao và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc chuyển giao;

b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc chuyển giao;

c) Luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến (nếu có).

2. Trên cơ sở kết quả phiên họp sơ thẩm, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và ghi rõ tội danh, thời hạn người được tiếp nhận phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam. Trong trường hợp này, Thẩm phán xem xét, quyết định việc chuyển đổi hình phạt tù (nếu có); việc chuyển đổi hình phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 25 của Luật này;

b) Quyết định từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và nêu rõ lý do.

3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền gửi quyết định cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Bộ Công an, người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có). Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền gửi quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận là 05 ngày.

Điều 24. Phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận

1. Người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn kháng cáo, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kháng nghị là 07 ngày, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị là 15 ngày.

Việc kháng cáo phải được Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.

Viện kiểm sát nhân dân phải gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm, người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị.

Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm là 07 ngày.

3. Phiên họp phúc thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và được thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận, nội dung kháng cáo, kháng nghị;

b) Thẩm phán hỏi người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì Thẩm phán yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.

Thẩm phán hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì Thẩm phán yêu cầu luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị;

c) Kiểm sát viên, luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.

4. Trên cơ sở kết quả phiên họp phúc thẩm, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định sơ thẩm;

b) Sửa quyết định sơ thẩm;

c) Hủy quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền để xem xét lại;

d) Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao theo quy định tại khoản 3 Điều 22 của Luật này;

đ) Đình chỉ việc xem xét phúc thẩm.

5. Quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận có hiệu lực pháp luật bao gồm:

a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;

b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ban hành và là quyết định cuối cùng.

Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có).

Điều 25. Chuyển đổi hình phạt tù

1. Trường hợp hình phạt tù trong bản án, quyết định mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên đối với người đang chấp hành án phạt tù không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự và các quy định khác của pháp luật Việt Nam thì phải chuyển đổi cho phù hợp.

2. Việc chuyển đổi hình phạt tù phải căn cứ vào các tình tiết của vụ án được nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án của nước chuyển giao tuyên.

3. Hình phạt tù chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn hình phạt tù mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên về tính chất và thời hạn. Thời gian đã chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao được trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù tại Việt Nam.

4. Người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam không bị kết án lần thứ hai về tội phạm đã được tuyên trong bản án, quyết định của tòa án của nước chuyển giao.

5. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.

Điều 26. Thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân có hiệu lực, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định sơ thẩm phải ra quyết định thi hành quyết định tiếp nhận. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn ra quyết định thi hành quyết định tiếp nhận là 05 ngày. Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

2. Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và người được chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.

3. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và tổ chức thi hành việc tiếp nhận. Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù phải được tiến hành trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định tiếp nhận có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù là 15 ngày.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.

Điều 27. Hủy quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù

1. Quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù chưa có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao hoặc thể hiện nguyện vọng không muốn chuyển giao bằng văn bản;

b) Nước chuyển giao rút lại yêu cầu chuyển giao;

c) Người đang chấp hành án phạt tù chết hoặc đã bỏ trốn khỏi nước chuyển giao;

d) Trường hợp khác mà việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù không thể thực hiện được.

2. Quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này;

b) Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù bị hủy.

3. Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

b) Người được cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bàn giao không phải là người trong quyết định tiếp nhận;

c) Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao không bàn giao người được chuyển giao đúng thời gian, địa điểm đã được thống nhất mà không có lý do chính đáng hoặc việc tiếp nhận không được tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật này.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này; hủy quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 3 Điều này. Các quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành và phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao, người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.

5. Việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm c khoản 3 Điều này chỉ được thực hiện sau ít nhất là 03 năm kể từ ngày quyết định hủy quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật.

Điều 28. Tiếp nhận người được chuyển giao

1. Bộ Công an tổ chức việc tiếp nhận người được chuyển giao vào thời gian, địa điểm đã được thống nhất bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 29. Tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam

1. Việc tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam của người được chuyển giao thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá, đại xá hoặc miễn, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc các quyết định tư pháp khác của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam, Bộ Công an phải gửi ngay thông báo đó cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 30. Thông báo về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam

Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam khi có một trong các trường hợp sau đây:

1. Người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, được miễn, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đại xá, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm khác;

2. Người đang chấp hành án phạt tù đã chấp hành xong án phạt tù;

3. Người đang chấp hành án phạt tù bỏ trốn khỏi cơ sở giam giữ phạm nhân:

4. Người đang chấp hành án phạt tù chết trước khi chấp hành xong án phạt tù;

5. Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao đề nghị cung cấp thông tin về tình hình chấp hành án của người được tiếp nhận về Việt Nam.

Chương III

CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI VIỆT NAM CHO NƯỚC NGOÀI

Điều 31. Thẩm quyền quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

Tòa án nhân dân khu vực nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thẩm quyền quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.

Điều 32. Điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là công dân của nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận;

b) Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án tại Việt Nam cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật nước nhận vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;

d) Có đủ các điều kiện quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều 15 của Luật này;

đ) Đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật hoặc được nước nhận, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này hoặc được nước nhận cam kết bảo đảm người đang chấp hành án phạt tù sẽ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này sau khi được chuyển giao về nước nhận;

e) Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao.

2. Chính phủ quy định chi tiết trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

Điều 33. Các trường hợp từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

Tòa án nhân dân có thẩm quyền của Việt Nam quyết định từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;

2. Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật này;

3. Có thể phương hại đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam;

4. Có căn cứ cho rằng người được chuyển giao có nguy cơ bị tra tấn, trả thù, truy bức, ngược đãi, phân biệt đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục ở nước nhận.

Điều 34. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài gồm các tài liệu sau đây:

a) Văn bản yêu cầu chuyển giao của Bộ Công an hoặc của cơ quan có thẩm quyền của nước nhận quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này;

b) Các tài liệu kèm theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này.

2. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài được lập thành 03 bộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

Điều 35. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài và các tài liệu kèm theo

1. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;

b) Căn cứ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước nhận;

d) Thông tin để xác định nhân thân, quốc tịch, nơi thường trú tại nước nhận (nếu có) và nơi đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam, căn cứ pháp lý về việc người đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện để chuyển giao;

đ) Thông tin cần thiết khác (nếu có).

2. Kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm các tài liệu sau đây:

a) Đơn đề nghị được chuyển giao hoặc tài liệu thể hiện nguyện vọng được chuyển giao hoặc đồng ý về việc chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc của người đại diện hợp pháp của người đó;

b) Tài liệu chứng minh quốc tịch nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận (nếu có);

c) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án nhân dân của Việt Nam đối với người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao;

d) Văn bản về việc thi hành hình phạt bổ sung (nếu có);

đ) Điều luật của nước nhận áp dụng để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu thi hành hình phạt đối với tội phạm đó của bản án;

e) Văn bản thể hiện sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao hoặc văn bản thể hiện sự đồng ý xem xét yêu cầu chuyển giao của Bộ Công an trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao;

g) Các tài liệu quy định tại các điểm g, h, i, k và l khoản 2 Điều 18 của Luật này.

3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.

Điều 36. Tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam

1. Người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có thể gửi đơn đề nghị được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù đến một trong các cơ quan sau đây:

a) Bộ Công an;

b) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận;

c) Cơ quan đại diện của nước nhận tại Việt Nam.

2. Trường hợp nhận được đơn đề nghị được chuyển giao hoặc tài liệu thể hiện nguyện vọng được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc của người đại diện hợp pháp của người đó, Bộ Công an có trách nhiệm tiếp nhận và xem xét lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 37. Lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài do Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, các thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước nhận cung cấp, Bộ Công an xem xét, quyết định việc lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài và gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhận.

Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài từ Bộ Công an thì chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an.

3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài thì gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến Bộ Công an. Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận thì chuyển ngay đến Bộ Công an để xử lý theo quy định của Luật này.

4. Trường hợp người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ phạm nhân thuộc Bộ Quốc phòng thì người đó phải được chuyển sang cơ sở giam giữ phạm nhân thuộc Bộ Công an để chấp hành án trước khi tiến hành các thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 38. Tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và tài liệu kèm theo từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận hoặc kể từ ngày nhận được tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Luật này. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn kiểm tra hồ sơ là 07 ngày.

Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước nhận bổ sung thông tin, tài liệu. Sau 60 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin, tài liệu mà không nhận được thông tin, tài liệu bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và nêu rõ lý do. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày.

2. Trường hợp hồ sơ yêu cầu chuyển giao đáp ứng quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Luật này thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ hồ sơ để xem xét, quyết định, đồng thời, chuyển ngay cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ sao y hồ sơ.

Việc chuyển văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 39. Thụ lý hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn thụ lý hồ sơ là 05 ngày.

Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, nếu hồ sơ yêu cầu chuyển giao chưa đầy đủ thông tin, tài liệu hoặc có điểm chưa rõ hoặc có mâu thuẫn thì Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đề nghị Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước nhận bổ sung thông tin, tài liệu. Thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày kể từ ngày Bộ Công an có văn bản yêu cầu.

2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Luật này. Quyết định này phải được gửi cho người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có);

b) Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 3 Điều này và trả hồ sơ cho Bộ Công an.

Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn ra một trong các quyết định tại khoản này là 10 ngày.

Các quyết định tại khoản này phải được chuyển ngay cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

3. Tòa án nhân dân khu vực quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không thuộc thẩm quyền;

b) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận rút lại yêu cầu chuyển giao;

c) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao;

d) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận không bổ sung thông tin, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

đ) Lý do khác mà việc xem xét yêu cầu chuyển giao không thể tiến hành được.

4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu chuyển giao, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải mở phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn mở phiên họp xem xét yêu cầu chuyển giao là 10 ngày.

Điều 40. Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và được thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Thẩm phán trình bày nội dung hồ sơ yêu cầu chuyển giao và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc chuyển giao;

b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc chuyển giao;

c) Người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến (nếu có);

d) Luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến (nếu có).

2. Trên cơ sở kết quả phiên họp sơ thẩm, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

b) Quyết định từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và nêu rõ lý do.

3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền gửi quyết định cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Bộ Công an, người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có). Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền gửi quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao là 05 ngày.

Điều 41. Phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao

1. Người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn kháng cáo, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kháng nghị là 07 ngày, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị là 15 ngày.

Việc kháng cáo phải được Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.

Viện kiểm sát nhân dân phải gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm, người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị.

Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm là 07 ngày.

3. Phiên họp phúc thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và được thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao, nội dung kháng cáo, kháng nghị;

b) Thẩm phán hỏi người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì Thẩm phán yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.

Thẩm phán hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì Thẩm phán yêu cầu người được đề nghị chuyển giao, luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị;

c) Kiểm sát viên, người được đề nghị chuyển giao, luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.

4. Trên cơ sở kết quả phiên họp phúc thẩm, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định sơ thẩm;

b) Sửa quyết định sơ thẩm;

c) Hủy quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền để xem xét lại;

d) Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật này;

đ) Đình chỉ việc xem xét phúc thẩm.

5. Quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao có hiệu lực pháp luật bao gồm:

a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;

b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ban hành và là quyết định cuối cùng.

Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có).

Điều 42. Thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân có hiệu lực, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định sơ thẩm phải ra quyết định thi hành quyết định chuyển giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn ra quyết định thi hành quyết định chuyển giao là 05 ngày. Quyết định thi hành quyết định chuyển giao có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

2. Quyết định thi hành quyết định chuyển giao phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và người được chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.

3. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và tổ chức thi hành việc chuyển giao. Việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải được tiến hành trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định chuyển giao có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là 15 ngày.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.

Điều 43. Hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chưa có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao hoặc thể hiện nguyện vọng không muốn chuyển giao bằng văn bản;

b) Nước nhận rút lại yêu cầu chuyển giao;

c) Người đang chấp hành án phạt tù chết hoặc bỏ trốn khỏi Việt Nam;

d) Trường hợp khác mà việc bàn giao người đang chấp hành án phạt tù không thể thực hiện được.

2. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này;

b) Quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bị hủy.

3. Quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

b) Người được bàn giao không phải là người trong quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận không tiếp nhận người được chuyển giao đúng thời gian, địa điểm đã được thống nhất mà không có lý do chính đáng hoặc việc chuyển giao không được tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật này.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này; hủy quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 3 Điều này. Các quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành và phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước nhận, người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.

5. Việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm c khoản 3 Điều này chỉ được thực hiện sau ít nhất là 03 năm kể từ ngày quyết định hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật.

Điều 44. Bàn giao người được chuyển giao

1. Bộ Công an tổ chức việc bàn giao người được chuyển giao vào thời gian, địa điểm đã được thống nhất bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền của nước nhận.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 45. Xem xét lại bản án đã tuyên đối với người được chuyển giao

Bản án đã tuyên đối với người chấp hành án phạt tù tại Việt Nam được chuyển giao cho nước ngoài chỉ được xem xét lại bởi Tòa án nhân dân của Việt Nam theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Điều 46. Trao đổi thông tin về tình hình chấp hành án của người được chuyển giao

1. Sau khi người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về nước nhận, Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước nhận cung cấp thông tin về tình hình chấp hành án của người được chuyển giao theo yêu cầu quản lý nhà nước.

2. Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhận khi:

a) Người đang chấp hành án phạt tù được miễn, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đại xá, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm khác;

b) Tòa án nhân dân của Việt Nam xem xét lại bản án đã tuyên đối với người được chuyển giao theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và hậu quả pháp lý của việc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 47. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

2. Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp chuyển tiếp quy định tại Điều 48 của Luật này, Điều 45 của Luật Dẫn độ, khoản 1 Điều 42 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự và khoản 1 Điều 38 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.

Điều 48. Điều khoản chuyển tiếp

Các yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Bộ Công an tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

0
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025
Tải văn bản gốc Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025

THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom – Happiness
---------------

Law No. 101/2025/QH15

Hanoi, November 26, 2025

 

LAW

ON TRANSFER OF SENTENCED PERSONS

Pursuant to the Constitution 2013 of the Socialist Republic of Viet Nam as amended and supplemented by Resolution No. 203/2025/QH15;

The National Assembly promulgates the Law on transfer of sentenced persons.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Law provides for principles, competence, conditions, procedures for transfer of sentenced persons between Vietnam and foreign countries; and responsibilities of Vietnamese regulatory agencies in transfer of persons serving imprisonment sentences (hereinafter referred to as sentenced persons).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Law applies to Vietnamese agencies, organizations and individuals, and foreign agencies, organizations and individuals related to transfer of sentenced persons between Vietnam and foreign countries.

Article 3. Interpretation of terms

For the purpose of this Law, the following terms shall be construed as follows:

1. Transfer of sentenced persons means the act whereby Vietnam and a foreign country transfer to each other a sentenced person who wishes to be transferred to the country consenting to receive the person in order to continue serving the sentence on the basis of domestic law, international treaties, or the principle of reciprocity.

2. A sentenced person means a person sentenced to a definite term of imprisonment or life imprisonment and currently serving the sentence at a prison facility.

3. Sending State means the State that may transfer or has transferred a sentenced person serving a term of imprisonment in its territory to the receiving State.

4. Receiving State means the State that may receive or has received a sentenced person to continue enforcement of the sentence.

5. Conversion of sentence means the decision by a competent People’s Court of Vietnam to convert the sentence stated in the judgment or decision of a competent foreign court imposed on a sentenced person received in Vietnam so that it conforms to the Criminal Code and other provisions of Vietnamese law.

Article 4. Application of law and principles for transfer of sentenced persons

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Transfer of sentenced persons shall be carried out on the basis of the following principles:

a) Respect for independence, sovereignty and territorial integrity, non-interference in each other’s internal affairs, equality and mutual benefit; conformity with The Constitution 2013, Vietnamese law and international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a member;

b) Where Vietnam and a foreign country are not both members of an international treaty on transfer of sentenced persons, transfer of sentenced persons shall be carried out on the basis of the principle of reciprocity but must not contravene Vietnamese law and must conform to international law and international practice;

c) Respect for and protection of the lawful rights and interests of sentenced persons.

Article 5. Central authority of the Socialist Republic of Vietnam for transfer of sentenced persons

1. The Ministry of Public Security is the central authority of the Socialist Republic of Vietnam for transfer of sentenced persons.

2. The central authority of the Socialist Republic of Vietnam for transfer of sentenced persons shall act as the focal point for exchange of information and documents related to transfer of sentenced persons; prepare and send requests for transfer of sentenced persons and receive requests for transfer; take charge and cooperate with ministries, sectors and local authorities to consider and resolve requests for transfer of sentenced persons; monitor and urge the implementation of transfer of sentenced persons; and perform other duties and powers in accordance with the law on transfer of sentenced persons and international treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a member.

Article 6. Application of the principle of reciprocity in transfer of sentenced persons

1. Application of the principle of reciprocity in transfer of sentenced persons shall be carried out when all of the following conditions are met:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) The competent authority of the foreign country provides a written commitment to fulfill Vietnam’s request in similar circumstances. Where Vietnam is the requesting State, the Ministry of Public Security shall provide a written commitment on application of the principle of reciprocity;

c) Conformity with practical circumstances and cooperation needs regarding transfer of sentenced persons between Vietnam and foreign countries.

2. The Ministry of Public Security shall, on the basis of Clause 1 of this Article, decide on application of the principle of reciprocity in transfer of sentenced persons. Where necessary, the Ministry of Public Security shall seek opinions from the Ministry of Foreign Affairs and relevant agencies before making the decision.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 7. Time limit for withdrawal of an application for transfer

1. A sentenced person or his or her lawful representative may withdraw the application for transfer only before the decision on acceptance of the sentenced person or the decision on transfer of sentenced persons issued by the competent People’s Court of Vietnam comes into force.

2. The Government shall elaborate this Article.

Article 8. Language in transfer of sentenced persons

1. Where Vietnam and a foreign country are both members of an international treaty on transfer of sentenced persons, the language used in transfer of sentenced persons shall be the language prescribed in that international treaty.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The authority preparing the transfer request dossier must translate the documents and materials into the language prescribed in Clause 1 or Clause 2 of this Article.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 9. Exemption from consular legalization

The transfer request dossier for transfer of sentenced persons shall be exempt from consular legalization if it is signed and sealed by a competent person or authority of the foreign country, unless otherwise provided for in an international treaty to which the Socialist Republic of Vietnam is a member.

Article 10. Costs of transfer of sentenced persons

1. Where Vietnam is the sending State, Vietnam shall pay costs arising in transfer of sentenced persons up to the time of handover of the sentenced person, unless otherwise agreed.

2. Where Vietnam is the receiving State, Vietnam shall pay costs arising in transfer of sentenced persons from the time of receipt of the sentenced person, unless otherwise agreed.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 11. Funding for transfer of sentenced persons

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

A sentenced person, his or her lawful representative, and other agencies, organizations and individuals may voluntarily contribute or provide support for all or part of living expenses, travel expenses and other expenses of the transferred person in accordance with law.

2. The Government shall elaborate this Article.

Article 12. Transit of sentenced persons

1. Transit of a sentenced person through the territory of Vietnam must be notified in writing in advance to the Ministry of Public Security for handling. Consent to or refusal of transit of a sentenced person shall be given in accordance with law.

2. Where transit is permitted, the State requesting transit of the sentenced person shall be responsible for managing that person during transit through Vietnam and shall bear all transit costs in accordance with Vietnamese law, unless otherwise agreed.

3. Where transport is by air and an unscheduled landing occurs in the territory of Vietnam, the sentenced person may be managed in accordance with Vietnamese law. Management of the sentenced person and related costs shall comply with Clause 2 of this Article.

4. Where Vietnam requests a foreign country to permit transit of a sentenced person, the Ministry of Public Security shall contact the foreign country to carry out procedures for requesting transit permission.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 13. Responsibilities of regulatory agencies for transfer of sentenced persons

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Uniformly manage state administration of transfer of sentenced persons;

b) Report to the National Assembly on transfer of sentenced persons in the annual report on enforcement of judgments.

2. The Ministry of Public Security shall be accountable to the Government for performing state administration of transfer of sentenced persons.

The Minister of Public Security shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People’s Court and the Procurator General of the Supreme People’s Procuracy in providing regulations on application of science and technology and digital transformation in transfer of sentenced persons.

3. The Supreme People’s Court and the Supreme People’s Procuracy shall cooperate with the Ministry of Public Security in performing state administration of transfer of sentenced persons.

People’s Courts at all levels and People’s Procuracies at all levels shall perform tasks related to transfer of sentenced persons in accordance with this Law and other relevant laws.

4. Ministries, ministerial agencies and other relevant agencies shall, within the scope of their functions and duties, perform tasks related to transfer of sentenced persons in accordance with this Law and other relevant laws; and cooperate with the Ministry of Public Security in performing state administration of transfer of sentenced persons.

Chapter II

RECEIPT OF SENTENCED PERSONS SERVING SENTENCES ABROAD INTO VIETNAM

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The regional People’s Court of the place of the last habitual residence in Vietnam of the sentenced person serving a sentence abroad who is proposed for transfer has the competence to decide on receipt of the sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam. Where the last habitual residence in Vietnam of the person proposed for transfer cannot be determined or where the person proposed for transfer did not habitually reside in Vietnam, the Regional People’s Court No. 1 - Hanoi has the competence to decide on receipt of the sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam.

Article 15. Conditions for receipt of sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. A sentenced person serving a sentence abroad may be received into Vietnam to continue serving the sentence when all of the following conditions are met:

a) He or she is a Vietnamese citizen;

b) The criminal act for which the person was convicted in the sending State also constitutes a criminal offence under Vietnamese criminal law at the time of preparation of the request for transfer of sentenced persons;

c) At the time of receipt of the request for transfer, the remaining term of imprisonment must be at least 1 year; in special cases, this period may be less than 1 year;

d) The judgment or decision against that person has taken legal effect and no procedural matter remains pending;

dd) Vietnam consents where the competent authority of the sending State prepares the request for transfer, or the sending State consents where the Ministry of Public Security prepares the request for transfer;

e) The sentenced person consents. Where the sentenced person is a juvenile or a person incapable of expressing consent to the transfer due to age, health condition or mental state, consent of the lawful representative is required.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 16. Cases of refusal to receive sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. The competent People’s Court shall decide to refuse receipt of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam if one of the following cases occurs:

a) It is inconsistent with the principles prescribed in Clause 2 Article 4 of this Law;

b) One of the conditions prescribed in Clause 1 Article 15 of this Law is not met;

c) It may be detrimental to sovereignty, national defense, national security, social order and safety, public health and the interests of the State, or the lawful rights and interests of agencies, organizations and individuals in Vietnam;

d) It exceeds the capacity to meet the necessary requirements for continued enforcement of the sentence in Vietnam with respect to the sentenced person.

2. The Government shall provide detailed provisions for Point d Clause 1 of this Article.

Article 17. Transfer request dossier for receipt of sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. The transfer request dossier for receipt of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam comprises the following documents:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) The accompanying documents prescribed in Clause 2 Article 18 of this Law.

2. The transfer request dossier for receipt of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam shall be prepared in 3 sets, unless otherwise agreed. The language used for preparing application files shall comply with the provisions of Article 8 of this Law.

Article 18. Request for transfer of sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam and accompanying documents

1. The request for transfer of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam must contain the following information:

a) Date, month, year and place of preparation of the document;

b) Grounds for requesting transfer of the sentenced person;

c) Name and address of the competent authority of Vietnam and of the sending State;

d) Information identifying the person, nationality, last habitual residence in Vietnam (if any), and the place where the sentence is being served in the sending State, and legal grounds showing that the sentenced person meets the conditions for transfer;

dd) Other necessary information (if any).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The application for transfer or documents showing the wish to be transferred or consent to transfer of the sentenced person or his or her lawful representative;

b) Documents proving Vietnamese nationality of the sentenced person proposed for transfer in accordance with Vietnamese law;

c) A copy of the judgment or decision of the court of the sending State in respect of the person proposed for transfer;

d) A document on enforcement of the additional penalty (if any);

dd) The legal provisions of the sending State applied to determine the constituent elements of the offence and the offence title, provisions on penalties and the limitation period for enforcement of the penalty in respect of that offence under the judgment;

e) A document showing consent of the competent authority of the sending State where the Ministry of Public Security prepares the request for transfer, or a document showing consent to consideration of the transfer request of the Ministry of Public Security where the competent authority of the sending State prepares the request for transfer;

g) Documents describing identifying characteristics, fingerprints and facial photographs of the sentenced person proposed for transfer;

h) Documents certifying the period of sentence already served by the person proposed for transfer, any general amnesty, special amnesty, remission or reduction of sentence in the sending State, and the remaining period to be served;

i) Documents relating to the health condition, mental state and medical records of the person proposed for transfer and recommendations (if any).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

l) Other necessary documents (if any).

3. The Government provides detailed provisions on Clause 2 of this Article.

Article 19. Receipt of applications for transfer from sentenced persons serving sentences abroad

1. A Vietnamese citizen serving a sentence abroad or his or her lawful representative may send an application for transfer to Vietnam in order to continue serving the sentence to one of the following authorities:

a) The competent authority of the sending State;

b) The Vietnamese representative mission in the sending State;

c) The Ministry of Public Security.

2. Within 10 days from the date of receipt of the application for transfer, the Vietnamese representative mission in the sending State shall forward the application to the Ministry of Public Security. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the Vietnamese representative mission in the sending State must forward the application to the Ministry of Public Security within 5 days from the date of receipt of the application for transfer. On the basis of the application for transfer, the Ministry of Public Security shall consider preparing a request for transfer in accordance with Article 20 of this Law.

Forwarding of the application for transfer to Vietnam from the Vietnamese representative mission in the sending State to the Ministry of Public Security may be carried out electronically in accordance with law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 20. Preparation of requests for transfer of sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. The request for transfer of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam shall be prepared by the Ministry of Public Security or the competent authority of the sending State.

2. Within 20 days from the date of receipt of the application for transfer and the information and documents provided by the competent authority of the sending State, the Ministry of Public Security shall consider and decide on preparation of the request for transfer of the sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam and shall send it directly or through diplomatic channels to the competent authority of the sending State.

Where the Ministry of Foreign Affairs or the Vietnamese representative mission in the sending State receives from the Ministry of Public Security a request for transfer of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam, it shall immediately forward it to the competent authority of the sending State and notify the Ministry of Public Security in writing.

3. Where the competent authority of the sending State prepares a request for transfer of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam, it shall send it directly or through diplomatic channels to the Ministry of Public Security. Where the Ministry of Foreign Affairs or the Vietnamese representative mission in the sending State receives from the competent authority of the sending State a request for transfer of a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam, it shall immediately forward it to the Ministry of Public Security for handling in accordance with this Law.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 21. Receipt, examination and transfer of transfer request dossiers for sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. Within 20 days from the date of receipt of the request for transfer of the sentenced person and accompanying documents from the competent authority of the sending State, or from the date of receipt of the documents prescribed in Clause 2 Article 18 of this Law from the competent authority of the sending State, the Ministry of Public Security shall examine the transfer request dossier in accordance with Articles 17 and 18 of this Law. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for examination of the dossier is 7 days.

The Ministry of Public Security may request the competent authority of the sending State to supplement information and documents. If no supplementary information or documents are received within 60 days from the date of sending the written request for supplementation of information and documents, the Ministry of Public Security shall return the dossier to the competent authority of the sending State and clearly state the reason. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for supplementation of information and documents is 20 days.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Transfer of documents, materials and dossiers may be carried out electronically in accordance with law.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 22. Acceptance of transfer request dossiers for sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. Within 10 days from the date of receipt of the complete transfer request dossier for a sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam, the competent regional People’s Court must accept the dossier and notify the Ministry of Public Security and the People’s Procuracy at the same level in writing. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for acceptance of the dossier is 5 days.

During the preparation period for consideration of the request for transfer of the sentenced person, where the transfer request dossier lacks information or documents, or contains unclear or contradictory points, the competent regional People’s Court shall request the Ministry of Public Security to ask the competent authority of the sending State to supplement information and documents. The time limit for supplementation of information and documents is 20 days from the date on which the Ministry of Public Security issues the written request.

2. Within 30 days from the date of acceptance, depending on the case, the competent regional People’s Court shall issue one of the following decisions:

a) A decision on consideration of the request for transfer of the sentenced person where all conditions prescribed by this Law are met. This decision must be sent to the person proposed for transfer, his or her lawyer or lawful representative (if any);

b) A decision to terminate consideration of the request for transfer of the sentenced person in accordance with Clause 3 of this Article and to return the dossier to the Ministry of Public Security.

If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for issuing one of the decisions prescribed in this Clause is 10 days.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The regional People’s Court shall decide to terminate consideration of the request for transfer of the sentenced person where one of the following cases occurs:

a) The matter does not fall within its competence;

b) The competent authority of the sending State withdraws the request for transfer;

c) The sentenced person or his or her lawful representative withdraws the application for transfer;

d) The competent authority of the sending State fails to supplement information and documents within the time limit prescribed in Clause 1 of this Article;

dd) Another reason makes consideration of the request for transfer impossible.

4. Within 30 days from the date of issuance of the decision on consideration of the request for transfer, the competent regional People’s Court must open the first-instance meeting to consider the request for transfer. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for opening the meeting to consider the request for transfer is 10 days.

Article 23. First-instance meeting to consider the request for transfer of sentenced persons serving sentences abroad into Vietnam

1. The first-instance meeting to consider the request for transfer shall be conducted by 1 Judge, with the participation of 1 Procurator of the People’s Procuracy at the same level, and shall follow the following order:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) The Procurator states the position of the People’s Procuracy on the transfer;

c) The lawyer or lawful representative of the person proposed for transfer presents his or her opinion (if any).

2. On the basis of the results of the first-instance meeting, the Judge shall issue one of the following decisions:

a) A decision on acceptance of the sentenced person and clearly stating the offence title and the term for which the transferred person must continue serving the sentence in Vietnam. In this case, the Judge shall consider and decide on conversion of sentence (if any); conversion of sentence shall comply with Article 25 of this Law;

b) A decision on refusal of acceptance of the sentenced person and clearly stating the reason.

3. Within 10 days from the date of issuance of the decision on acceptance or the decision on refusal of acceptance of the sentenced person, the competent regional People’s Court shall send the decision to the People’s Procuracy at the same level, the province-level People’s Procuracy, the Ministry of Public Security, the person proposed for transfer, and his or her lawyer or lawful representative (if any). If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for the competent regional People’s Court to send the decision on acceptance or the decision on refusal of acceptance is 5 days.

Article 24. Appellate meeting to review the decision on acceptance or the decision on refusal of acceptance

1. The person proposed for transfer or his or her lawful representative has the right to appeal within 15 days from the date of receipt of the decision on acceptance or the decision on refusal of acceptance of the competent regional People’s Court. The People’s Procuracy at the same level has the right to lodge a protest within 15 days, and the province-level People’s Procuracy has the right to lodge a protest within 30 days from the date on which the competent regional People’s Court issues the decision on acceptance or the decision on refusal of acceptance.  If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for appeal and the time limit for protest by the People’s Procuracy at the same level is 7 days, and the time limit for protest by the province-level People’s Procuracy is 15 days.

The appeal must be notified in writing by the competent regional People’s Court to the People’s Procuracy at the same level and persons related to the appeal within 5 days from the expiry of the time limit for appeal.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The competent regional People’s Court must send the dossier and the appeal or protest to the competent province-level People’s Court within 7 days from the expiry of the time limit for appeal or protest.

2. Within 20 days from the date of receipt of the dossier and the appeal or protest, the province-level People’s Court shall open an appellate meeting to review the appealed or protested decision on acceptance or decision on refusal of acceptance of the first-instance court. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for the province-level People’s Court to open the appellate meeting is 7 days.

3. The appellate meeting shall be conducted by 1 Judge, with the participation of 1 Procurator of the People’s Procuracy at the same level, and shall follow the following order:

a) The Judge presents a summary of the contents of the transfer request dossier for transfer of the sentenced person serving a sentence abroad into Vietnam, the decision on acceptance or the decision on refusal of acceptance, and the contents of the appeal or protest;

b) The Judge asks the lawful representative of the person proposed for transfer whether there is any change to, supplementation of, or withdrawal of the appeal; if so, the Judge shall request the Procurator to present an opinion on such change to, supplementation of, or withdrawal of the appeal.

The Judge asks the Procurator whether there is any change to, supplementation of, or withdrawal of the protest; if so, the Judge shall request the lawyer or lawful representative of the person proposed for transfer to present an opinion on such change to, supplementation of, or withdrawal of the protest;

c) The Procurator, the lawyer and the lawful representative of the person proposed for transfer state their opinions on the contents of the appeal or protest; the Procurator states the position of the People’s Procuracy on settlement of the appeal or protest.

4. On the basis of the results of the appellate meeting, the Judge shall issue one of the following decisions:

a) Not accepting the appeal or protest and upholding the first-instance decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) Setting aside the first-instance decision and remitting the dossier to the competent regional People’s Court for reconsideration;

d) Setting aside the first-instance decision and terminating consideration of the request for transfer in accordance with Clause 3 Article 22 of this Law;

dd) Terminating appellate review.

5. A decision on acceptance or a decision on refusal of acceptance taking legal effect includes:

a) A decision of the first-instance court that is not appealed or protested takes effect from the date of expiry of the time limit for appeal or protest;

b) A decision of the appellate court takes effect from the date of issuance and is final.

The decision of the appellate court must be sent immediately to the first-instance court, the first-instance Procuracy, the People’s Procuracy at the same level, the person proposed for transfer, and his or her lawyer or lawful representative (if any).

Article 25. Conversion of sentence

1. Where the sentence stated in the judgment or decision rendered by the court of the sending State against the sentenced person is inconsistent with the Criminal Code and other provisions of Vietnamese law, it must be converted accordingly.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. The converted sentence must not be more severe than the sentence rendered by the court of the sending State in terms of nature and duration. The period of sentence already served in the sending State shall be deducted from the period of sentence to be served in Vietnam.

4. A sentenced person received into Vietnam shall not be convicted a second time for the offence already adjudicated in the judgment or decision of the court of the sending State.

5. The Minister of Public Security shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People’s Court and the Procurator General of the Supreme People’s Procuracy in providing detailed provisions for this Article.

Article 26. Enforcement of the decision on acceptance of sentenced persons

1. Within 10 days from the date on which the decision on acceptance of the sentenced person of the People’s Court takes legal effect, the Chief Justice of the regional People’s Court that issued the first-instance decision must issue the decision on enforcement of the decision on acceptance. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for issuing the decision on enforcement of the decision on acceptance is 5 days. The decision on enforcement of the decision on acceptance takes effect from the date of signing for issuance.

2. The decision on enforcement of the decision on acceptance must be sent to the People’s Procuracy at the same level, the Ministry of Public Security, the competent authority of the sending State, and the transferred person or his or her lawful representative.

3. The Ministry of Public Security shall notify the competent authority of the sending State in writing and organize enforcement of the receipt. Receipt of the sentenced person must be carried out within 45 days from the date on which the decision on enforcement of the decision on acceptance takes effect, unless otherwise agreed. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 15 of this Law, the time limit for receipt of the sentenced person is 15 days.

4. The Government provides detailed provisions on Clause 3 of this Article.

Article 27. Annulment of the decision on acceptance of a sentenced person and the decision on enforcement of the decision on acceptance

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The sentenced person or his or her lawful representative withdraws the application for transfer or expresses in writing the wish not to be transferred;

b) The sending State withdraws the request for transfer;

c) The sentenced person dies or escapes from the sending State;

d) Other cases in which receipt of the sentenced person cannot be carried out.

2. A decision on acceptance of a sentenced person that has taken legal effect shall be annulled in the following cases:

a) The cases prescribed at Points b, c and d Clause 1 of this Article;

b) The decision on enforcement of the decision on acceptance of the sentenced person is annulled.

3. A decision on enforcement of the decision on acceptance of the sentenced person shall be annulled in the following cases:

a) The case prescribed at Point a Clause 2 of this Article;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) The competent authority of the sending State fails to hand over the transferred person at the agreed time and place without legitimate reasons, or the receipt is not carried out within the time limit prescribed in Clause 3 Article 26 of this Law.

4. Within 5 working days from the date of receipt of notification from the Ministry of Public Security, the Chief Justice of the competent People’s Court shall annul the decision on acceptance of the sentenced person prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article and annul the decision on enforcement of the decision on acceptance prescribed in Clause 3 of this Article. These decisions take effect from the date of signing for issuance and must be immediately sent to the People’s Procuracy at the same level, the Ministry of Public Security, the competent authority of the sending State, and the sentenced person or his or her lawful representative.

5. Consideration of a request for transfer of a sentenced person in the cases prescribed at Points a and b Clause 1 and Point c Clause 3 of this Article shall only be carried out after at least 3 years from the date on which the decision annulling the decision on acceptance or the decision on enforcement of the decision on acceptance takes legal effect.

Article 28. Receipt of the transferred person

1. The Ministry of Public Security shall organize receipt of the transferred person at the time and place agreed in writing with the competent authority of the sending State.

2. The Government shall elaborate this Article.

Article 29. Continuation of serving the sentence in Vietnam

1. Continuation of serving the sentence in Vietnam by the transferred person shall comply with Vietnamese law.

2. Upon receipt of a notification of a decision on special amnesty, general amnesty, remission or reduction of sentence, conditional early release, or other judicial decisions issued by the sending State in respect of a sentenced person received in Vietnam, the Ministry of Public Security must immediately forward that notification to the competent authority for consideration and decision in accordance with relevant law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 30. Notification on the status of serving the sentence of a sentenced person received in Vietnam

The Ministry of Public Security shall promptly notify the competent authority of the sending State in writing of the status of serving the sentence of a sentenced person received in Vietnam in one of the following cases:

1. The sentenced person is granted suspension of serving the sentence, remission or reduction of the term of imprisonment, general amnesty, special amnesty, conditional early release, or is prosecuted for another criminal offence;

2. The sentenced person has completed serving the sentence;

3. The sentenced person escapes from the prison facility;

4. The sentenced person dies before completing the sentence;

5. The competent authority of the sending State requests provision of information on the status of serving the sentence of the person received in Vietnam.

Chapter III

TRANSFER OF SENTENCED PERSONS SERVING SENTENCES IN VIETNAM TO FOREIGN COUNTRIES

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

The regional People’s Court where the foreign national is serving the sentence in Vietnam has the competence to decide on transfer of the sentenced person serving the sentence in Vietnam to a foreign country.

Article 32. Conditions for transfer of sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

1. A sentenced person serving a sentence in Vietnam may be transferred to a foreign country to continue serving the sentence when the following conditions are met:

a) The person is a national of the receiving State or a person permitted to reside indefinitely in the receiving State or accepted by the receiving State;

b) The criminal act for which the person was convicted in Vietnam also constitutes a criminal offence under the law of the receiving State at the time of preparation of the request for transfer of the sentenced person;

c) At the time of receipt of the request for transfer, the remaining term of imprisonment must be at least 1 year; in special cases, this period may be less than 1 year;

d) The conditions prescribed at Points d and e Clause 1 Article 15 of this Law are satisfied;

dd) Civil obligations stated in the judgment, additional penalties such as fines or confiscation of property, and other legal obligations have been fulfilled in accordance with law, or the receiving State or other agencies, organizations or individuals provide support for fulfillment of these legal obligations, or the receiving State commits to ensure that the sentenced person will fulfill these legal obligations after being transferred to the receiving State;

e) Vietnam consents where the competent authority of the receiving State prepares the request for transfer, or the receiving State consents where the Ministry of Public Security prepares the request for transfer.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 33. Cases of refusal to transfer sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

The competent People’s Court of Vietnam shall decide to refuse transfer of a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country if one of the following cases occurs:

1. It is inconsistent with the principles prescribed in Clause 2 Article 4 of this Law;

2. One of the conditions prescribed in Clause 1 Article 32 of this Law is not met;

3. It may be detrimental to sovereignty, national defense, national security, social order and safety, public health, and the interests of the State or the lawful rights and interests of agencies, organizations and individuals in Vietnam;

4. There are grounds to believe that the transferred person may be subjected to torture, retaliation, persecution, ill-treatment, discrimination, or cruel, inhuman or degrading punishment in the receiving State.

Article 34. Transfer request dossier for sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

1. The transfer request dossier for a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country includes the following documents:

a) The request for transfer made by the Ministry of Public Security or the competent authority of the receiving State as prescribed in Clause 1 Article 35 of this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The transfer request dossier for a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country shall be prepared in 3 sets, unless otherwise agreed. The language used for preparing application files shall comply with the provisions of Article 8 of this Law.

Article 35. Request for transfer of sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries and accompanying documents

1. The request for transfer of a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country must contain the following information:

a) Date, month, year and place of preparation of the document;

b) Grounds for requesting transfer of the sentenced person;

c) Name and address of the competent authority of Vietnam and of the receiving State;

d) Information identifying the person, nationality, place of residence in the receiving State (if any), and the place where the sentence is being served in Vietnam, and the legal grounds demonstrating that the sentenced person satisfies the conditions for transfer;

dd) Other necessary information (if any).

2. The request for transfer must be accompanied by the following documents:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Documents proving nationality of the receiving State or proof of indefinite residence in the receiving State (if any);

c) A copy of the judgment or decision of the People’s Court of Vietnam in respect of the sentenced person proposed for transfer;

d) A document on enforcement of the additional penalty (if any);

dd) The legal provisions of the receiving State used to determine the constituent elements of the offence and the offence title, provisions on penalties, and limitation period for enforcement of the penalty in respect of that offence under the judgment;

e) A document showing consent of the competent authority of the receiving State where the Ministry of Public Security prepares the request for transfer, or a document showing consent to consider the request for transfer of the Ministry of Public Security where the competent authority of the receiving State prepares the request for transfer;

g) The documents prescribed at Points g, h, i, k and l Clause 2 Article 18 of this Law.

3. The Government provides detailed provisions on Clause 2 of this Article.

Article 36. Receipt of applications for transfer from sentenced persons serving sentences in Vietnam

1. A foreign national serving a sentence in Vietnam or his or her lawful representative may send an application for transfer to a foreign country in order to continue serving the sentence to one of the following authorities:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) The competent authority of the receiving State;

c) The representative mission of the receiving State in Vietnam.

2. Where an application for transfer or documents showing the wish to be transferred from the sentenced person or his or her lawful representative are received, the Ministry of Public Security shall receive and consider preparing a request for transfer in accordance with Article 37 of this Law.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 37. Preparation of requests for transfer of sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

1. The request for transfer of a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country shall be prepared by the Ministry of Public Security or the competent authority of the receiving State.

2. Within 20 days from the date of receipt of the application for transfer and the information and documents provided by the competent authority of the receiving State, the Ministry of Public Security shall consider and decide on preparation of the request for transfer of the sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country and shall send it directly or through diplomatic channels to the competent authority of the receiving State.

Where the Ministry of Foreign Affairs or the Vietnamese representative mission in the receiving State receives from the Ministry of Public Security a request for transfer of a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country, it shall immediately forward it to the competent authority of the receiving State and notify the Ministry of Public Security in writing.

3. Where the competent authority of the receiving State prepares the request for transfer of a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country, it shall send it directly or through diplomatic channels to the Ministry of Public Security. Where the Ministry of Foreign Affairs or the Vietnamese representative mission in the receiving State receives from the competent authority of the receiving State a request for transfer of a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country, it shall immediately forward it to the Ministry of Public Security for handling in accordance with this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 38. Receipt, examination and transfer of transfer request dossiers for sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

1. Within 20 days from the date of receipt of the request for transfer of the sentenced person and accompanying documents from the competent authority of the receiving State, or from the date of receipt of the documents prescribed in Clause 2 Article 35 of this Law from the competent authority of the receiving State, the Ministry of Public Security shall examine the dossier in accordance with Articles 34 and 35 of this Law. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for examination of the dossier is 7 days.

The Ministry of Public Security may request the competent authority of the receiving State to supplement information and documents. If no supplementary information or documents are received within 60 days from the date of sending the written request for supplementation of information and documents, the Ministry of Public Security shall return the dossier to the competent authority of the receiving State and clearly state the reason. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for supplementation of information and documents is 20 days.

2. Where the transfer request dossier meets the requirements prescribed in Articles 34 and 35 of this Law, the Ministry of Public Security shall immediately transfer 1 set of the dossier to the competent regional People’s Court for consideration and decision, and simultaneously immediately transfer 1 certified copy set of the dossier to the competent regional People’s Procuracy.

Transfer of documents, materials and dossiers may be carried out electronically in accordance with law.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 39. Acceptance of transfer request dossiers for sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

1. Within 10 days from the date of receipt of the complete transfer request dossier for a sentenced person serving a sentence in Vietnam to a foreign country, the competent regional People’s Court must accept the dossier and notify the Ministry of Public Security and the People’s Procuracy at the same level in writing. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for acceptance of the dossier is 5 days.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Within 30 days from the date of acceptance, depending on the case, the competent regional People’s Court shall issue one of the following decisions:

a) A decision on consideration of the request for transfer of the sentenced person where all conditions prescribed by this Law are met. This decision must be sent to the person proposed for transfer, his or her lawyer or lawful representative (if any);

b) A decision to terminate consideration of the request for transfer of the sentenced person in accordance with Clause 3 of this Article and to return the dossier to the Ministry of Public Security.

If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for issuing one of the decisions prescribed in this Clause is 10 days.

The decisions prescribed in this Clause must be immediately transferred to the Ministry of Public Security and the People’s Procuracy at the same level.

3. The regional People’s Court shall decide to terminate consideration of the request for transfer of the sentenced person where one of the following cases occurs:

a) The matter does not fall within its competence;

b) The competent authority of the receiving State withdraws the request for transfer;

c) The sentenced person or his or her lawful representative withdraws the application for transfer;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

dd) Another reason makes consideration of the request for transfer impossible.

4. Within 30 days from the date of issuance of the decision on consideration of the request for transfer, the competent regional People’s Court must open the first-instance meeting to consider the request for transfer. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for opening the meeting to consider the request for transfer is 10 days.

Article 40. First-instance meeting to consider the request for transfer of sentenced persons serving sentences in Vietnam to foreign countries

1. The first-instance meeting to consider the request for transfer shall be conducted by 1 Judge, with the participation of 1 Procurator of the People’s Procuracy at the same level, and shall follow the following order:

a) The Judge presents the contents of the transfer request dossier and gives an opinion on the legal basis for the transfer;

b) The Procurator states the position of the People’s Procuracy on the transfer;

c) The person proposed for transfer presents his or her opinion (if any);

d) The lawyer or lawful representative of the person proposed for transfer presents his or her opinion (if any).

2. On the basis of the results of the first-instance meeting, the Judge shall issue one of the following decisions:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) A decision on refusal of transfer of the sentenced person and clearly stating the reason.

3. Within 10 days from the date of issuance of the decision on transfer or the decision on refusal of transfer of the sentenced person, the competent regional People’s Court shall send the decision to the People’s Procuracy at the same level, the province-level People’s Procuracy, the Ministry of Public Security, the person proposed for transfer, and his or her lawyer or lawful representative (if any). If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for the competent regional People’s Court to send the decision on transfer or the decision on refusal of transfer is 5 days.

Article 41. Appellate meeting to review the decision on transfer or the decision on refusal of transfer

1. The person proposed for transfer or his or her lawful representative has the right to appeal within 15 days from the date of receipt of the decision on transfer or the decision on refusal of transfer of the competent regional People’s Court. The People’s Procuracy at the same level has the right to lodge a protest within 15 days, and the province-level People’s Procuracy has the right to lodge a protest within 30 days from the date on which the competent regional People’s Court issues the decision on transfer or the decision on refusal of transfer. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for appeal and the time limit for protest by the People’s Procuracy at the same level is 7 days, and the time limit for protest by the province-level People’s Procuracy is 15 days.

The appeal must be notified in writing by the competent regional People’s Court to the People’s Procuracy at the same level and persons related to the appeal within 5 days from the expiry of the time limit for appeal.

The People’s Procuracy must send the protest decision to the first-instance court and the person proposed for transfer or his or her lawful representative within 2 days from the date of issuance of the protest decision.

The competent regional People’s Court must send the dossier and the appeal or protest to the competent province-level People’s Court within 7 days from the expiry of the time limit for appeal or protest.

2. Within 20 days from the date of receipt of the dossier and the appeal or protest, the province-level People’s Court shall open an appellate meeting to review the appealed or protested decision on transfer or decision on refusal of transfer of the first-instance court. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for the province-level People’s Court to open the appellate meeting is 7 days.

3. The appellate meeting shall be conducted by 1 Judge, with the participation of 1 Procurator of the People’s Procuracy at the same level, and shall follow the following order:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) The Judge asks the person proposed for transfer or his or her lawful representative whether there is any change to, supplementation of, or withdrawal of the appeal; if so, the Judge shall request the Procurator to present an opinion on such change to, supplementation of, or withdrawal of the appeal.

The Judge asks the Procurator whether there is any change to, supplementation of, or withdrawal of the protest; if so, the Judge shall request the person proposed for transfer, the lawyer, or the lawful representative of the person proposed for transfer to present an opinion on such change to, supplementation of, or withdrawal of the protest;

c) The Procurator, the person proposed for transfer, the lawyer, and the lawful representative of the person proposed for transfer state their opinions on the contents of the appeal or protest; the Procurator states the position of the People’s Procuracy on settlement of the appeal or protest.

4. On the basis of the results of the appellate meeting, the Judge shall issue one of the following decisions:

a) Not accepting the appeal or protest and upholding the first-instance decision;

b) Amending the first-instance decision;

c) Setting aside the first-instance decision and remitting the dossier to the competent regional People’s Court for reconsideration;

d) Setting aside the first-instance decision and terminating consideration of the request for transfer in accordance with Clause 3 Article 39 of this Law;

dd) Terminating appellate review.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) A decision of the first-instance court that is not appealed or protested takes effect from the date of expiry of the time limit for appeal or protest;

b) A decision of the appellate court takes effect from the date of issuance and is final.

The decision of the appellate court must be sent immediately to the first-instance court, the first-instance Procuracy, the People’s Procuracy at the same level, the person proposed for transfer, and his or her lawyer or lawful representative (if any).

Article 42. Enforcement of the decision on transfer of sentenced persons

1. Within 10 days from the date on which the decision on transfer of the sentenced person of the People’s Court takes legal effect, the Chief Justice of the regional People’s Court that issued the first-instance decision must issue the decision on enforcement of the decision on transfer. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for issuing the decision on enforcement of the decision on transfer is 5 days. The decision on enforcement of the decision on transfer takes effect from the date of signing for issuance.

2. The decision on enforcement of the decision on transfer must be sent to the People’s Procuracy at the same level, the Ministry of Public Security, the competent authority of the receiving State, and the transferred person or his or her lawful representative.

3. The Ministry of Public Security shall notify the competent authority of the receiving State in writing and organize enforcement of the transfer. Transfer of the sentenced person must be carried out within 45 days from the date on which the decision on enforcement of the decision on transfer takes effect, unless otherwise agreed. If the case falls under the special case prescribed at Point c Clause 1 Article 32 of this Law, the time limit for transfer of the sentenced person is 15 days.

4. The Government provides detailed provisions on Clause 3 of this Article.

Article 43. Annulment of the decision on transfer of a sentenced person and the decision on enforcement of the decision on transfer

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) The sentenced person or his or her lawful representative withdraws the application for transfer or expresses in writing the wish not to be transferred;

b) The receiving State withdraws the request for transfer;

c) The sentenced person dies or escapes from Vietnam;

d) Other cases in which handover of the sentenced person cannot be carried out.

2. A decision on transfer of a sentenced person that has taken legal effect shall be annulled in the following cases:

a) The cases prescribed at Points b, c and d Clause 1 of this Article;

b) The decision on enforcement of the decision on transfer of the sentenced person is annulled.

3. A decision on enforcement of the decision on transfer of the sentenced person shall be annulled in the following cases:

a) The case prescribed at Point a Clause 2 of this Article;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

c) The competent authority of the receiving State fails to receive the transferred person at the agreed time and place without legitimate reasons, or the transfer is not carried out within the time limit prescribed in Clause 3 Article 42 of this Law.

4. Within 5 working days from the date of receipt of notification from the Ministry of Public Security, the Chief Justice of the competent People’s Court shall annul the decision on transfer of the sentenced person prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article and annul the decision on enforcement of the decision on transfer of the sentenced person prescribed in Clause 3 of this Article. These decisions take effect from the date of signing for issuance and must be immediately sent to the People’s Procuracy at the same level, the Ministry of Public Security, the competent authority of the receiving State, and the sentenced person or his or her lawful representative.

5. Consideration of the request for transfer of the sentenced person in the cases prescribed at Points a and b Clause 1 and Point c Clause 3 of this Article shall only be carried out after at least 3 years from the date on which the decision annulling the decision on transfer of the sentenced person or the decision on enforcement of the decision on transfer of the sentenced person takes legal effect.

Article 44. Handover of the transferred person

1. The Ministry of Public Security shall organize handover of the transferred person at the time and place agreed in writing with the competent authority of the receiving State.

2. The Government shall elaborate this Article.

Article 45. Review of the judgment rendered in respect of the transferred person

The judgment rendered in respect of a person serving a sentence in Vietnam who is transferred to a foreign country may only be reviewed by a People’s Court of Vietnam under cassation or reopening procedures in accordance with the law on criminal procedure.

Article 46. Exchange of information on the status of serving the sentence of the transferred person

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The Ministry of Public Security shall promptly notify the competent authority of the receiving State in writing when:

a) The sentenced person is granted remission or reduction of the term of imprisonment, general amnesty, special amnesty, conditional early release, or is prosecuted for another criminal offence;

b) A People’s Court of Vietnam reviews the judgment rendered in respect of the transferred person under cassation or reopening procedures, and of the legal consequences of such cassation or reopening.

Chapter IV

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 47. Entry into force

1. This Law comes into force as of July 1, 2026.

2. The Law on Mutual Legal Assistance No. 08/2007/QH12 amended by Law No. 81/2025/QH15 ceases to be effective from the date on which this Law comes into force, except for the transitional case prescribed in Article 48 of this Law, Article 45 of the Law on Extradition, Clause 1 Article 42 of the Law on Mutual Legal Assistance in Criminal Matters, and Clause 1 Article 38 of the Law on Mutual Legal Assistance in Civil Matters.

Article 48. Transitional provisions

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Law was adopted by the 15th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 10th session on November 26, 2025.

 

 

PRESIDENT OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025
Số hiệu: 101/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Lĩnh vực, ngành: Trách nhiệm hình sự,Thủ tục Tố tụng
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 26/11/2025
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3, 4, 5, 7, 8 Nghị định 172/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết chi phí thực hiện và kinh phí bảo đảm công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự.
...
Điều 3. Nguyên tắc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự
...
Điều 4. Kinh phí Nhà nước bảo đảm cho công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự
...
Điều 5. Nội dung chi áp dụng chung đối với công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự
...
Điều 7. Nội dung chi đối với công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
...
Điều 8. Tiếp nhận, quản lý và sử dụng kinh phí tự nguyện đóng góp, hỗ trợ cho người đang chấp hành án phạt tù

Xem nội dung VB
Điều 11. Kinh phí bảo đảm công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Kinh phí cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Người đang chấp hành án phạt tù, người đại diện hợp pháp của người đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng góp, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và chi phí khác của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao theo quy định của pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3, 4, 5, 7, 8 Nghị định 172/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 172/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều 7. Nội dung chi đối với công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Nội dung chi đối với trường hợp Việt Nam là nước chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù:

a) Chi phí công tác phí cho cán bộ Việt Nam thực hiện việc áp giải người đang chấp hành án phạt tù từ Việt Nam ra nước ngoài;

b) Chi phí đi lại, ăn, ở của người đang chấp hành án phạt tù cho đến thời điểm bàn giao trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

c) Các khoản chi cho việc ăn, ở, khám bệnh, chữa bệnh cho người đang chấp hành án phạt tù cho đến thời điểm bàn giao trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; chi phí cho việc tổ chức đưa thi hài, hài cốt, tro cốt trong trường hợp người được chuyển giao chết trong thời gian bị quản lý, áp giải;

d) Chi hoạt động bảo đảm an ninh, an toàn cho đoàn công tác của Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù trong quá trình chuyển giao; đoàn công tác của nước ngoài đến Việt Nam.

2. Nội dung chi đối với trường hợp Việt Nam là nước nhận người đang chấp hành án phạt tù:

a) Chi công tác phí cho cán bộ của Việt Nam đến nước giải quyết yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Việt Nam tham gia các phiên họp với phía nước ngoài nhằm thúc đẩy việc giải quyết yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Việt Nam; xác minh sự đồng ý của người được đề nghị chuyển giao hoặc thống nhất phương án tổ chức thực hiện quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của cấp có thẩm quyền nước ngoài về Việt Nam thực hiện việc áp giải người được chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam, bao gồm cả chi phí phát sinh trong trường hợp quá cảnh;

b) Chi phí đi lại, ăn, ở của người được chuyển giao, chi phí cho việc áp giải trong thời gian thực hiện thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Chi việc ăn, ở, khám bệnh, chữa bệnh cho người được chuyển giao; chi phí cho việc tổ chức đưa thi hài, hài cốt, tro cốt trong trường hợp người được chuyển giao chết trong thời gian bị quản lý, áp giải;

d) Chi hoạt động bảo đảm an ninh, an toàn cho đoàn công tác của Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù trong quá trình thực hiện bàn giao người được chuyển giao (nếu có);

đ) Chi phí dịch vụ an ninh hàng không, cơ sở lưu trú của nước ngoài (nếu có);

e) Chi các khoản phí và lệ phí trong lĩnh vực xuất nhập cảnh và trong việc cấp giấy tờ cần thiết khác cho người đang chấp hành án phạt tù.

Xem nội dung VB
Điều 10. Chi phí thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Trường hợp Việt Nam là nước chuyển giao, Việt Nam chi trả các chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phát sinh đến thời điểm bàn giao người đang chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp Việt Nam là nước nhận, Việt Nam chi trả các chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phát sinh từ thời điểm tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 172/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 3. Điều kiện và trình tự, thủ tục áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Cam kết về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được lập thành văn bản độc lập hoặc được thể hiện trong văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Khi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị, Bộ Công an xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại như sau:

a) Bộ Công an xem xét, quyết định đồng ý nếu cơ quan này từng chấp thuận đề nghị tương tự trước đó của Bộ Công an hoặc hai bên chưa hợp tác nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết áp dụng nguyên tắc này;

b) Bộ Công an xem xét, quyết định từ chối nếu cơ quan này từ chối đề nghị tương tự trước đó của Bộ Công an, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này;

c) Để đáp ứng yêu cầu đối ngoại, trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài từng từ chối nhưng nay cam kết áp dụng nguyên tắc này, Bộ Công an lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều này trước khi xem xét, quyết định.

3. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù:

a) Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao kèm theo cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại từ cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Bộ Công an kiểm tra, đánh giá điều kiện áp dụng nguyên tắc này. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp bổ sung theo quy định tại Điều 21 hoặc Điều 38 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 hoặc điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn kiểm tra, đánh giá là 07 ngày;

b) Trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều này hoặc việc chuyển giao có nguy cơ ảnh hưởng đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Bộ Công an gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ ý kiến của các cơ quan, Bộ Công an xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

c) Trường hợp đồng ý áp dụng nguyên tắc có đi có lại và hồ sơ đáp ứng các quy định tại Điều 17, Điều 18 hoặc Điều 34, Điều 35 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an có văn bản chuyển ngay 01 bộ hồ sơ gốc cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền và 01 bản sao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát;

d) Trường hợp từ chối áp dụng nguyên tắc có đi có lại hoặc hồ sơ không đáp ứng các quy định nêu tại điểm c khoản này, Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài qua kênh ngoại giao và nêu rõ lý do.

Xem nội dung VB
Điều 6. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Tuân thủ nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;

b) Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu của Việt Nam trong trường hợp tương tự. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu chuyển giao, Bộ Công an có cam kết bằng văn bản về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

c) Phù hợp với thực tiễn và nhu cầu hợp tác về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài.

2. Bộ Công an căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Trình tự, thủ tục rút lại đơn đề nghị được chuyển giao được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 4. Trình tự, thủ tục rút lại đơn đề nghị được chuyển giao

1. Việc rút lại đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó phải được thể hiện bằng văn bản (sau đây gọi là văn bản rút đơn).

2. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù ở Việt Nam, văn bản rút đơn được nộp cho trại giam nơi người đó đang chấp hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản rút đơn, trại giam phải chuyển đến Bộ Công an để xử lý theo quy định. Việc chuyển văn bản có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).

Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài, văn bản rút đơn được nộp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Bộ Công an. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam nhận được văn bản rút đơn thì phải chuyển văn bản đó qua môi trường điện tử (hộp thư điện tử) về Bộ Công an trong thời hạn 03 ngày làm việc.

3. Việc xử lý văn bản rút đơn được quy định như sau:

a) Trường hợp văn bản rút đơn được lập trước khi quyết định tiếp nhận hoặc quyết định chuyển giao của Tòa án nhân dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật thì Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản, kèm theo văn bản rút đơn cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền để đình chỉ việc xem xét hoặc hủy bỏ quyết định đã ban hành; đồng thời gửi 01 bản sao cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã rút đơn qua kênh ngoại giao, trừ trường hợp Việt Nam và nước chuyển giao cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định khác;

b) Trường hợp văn bản rút đơn được lập sau khi các quyết định của Tòa án quy định tại điểm a khoản này đã có hiệu lực pháp luật thì Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản cho người rút đơn về việc không chấp nhận rút đơn và nêu rõ lý do.

4. Sau khi nhận được văn bản rút đơn đề nghị được chuyển giao, nếu có dấu hiệu cho thấy người đang chấp hành án phạt tù bị ép buộc, đe dọa, lừa dối trong việc rút đơn, Bộ Công an tiến hành xác minh.

Trường hợp kết quả xác minh cho thấy có sự ép buộc, đe dọa, lừa dối, văn bản rút đơn sẽ không có giá trị pháp lý, quy trình chuyển giao vẫn tiếp tục được thực hiện và Bộ Công an có văn bản thông báo ngay về kết quả xác minh cho người rút đơn thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao hoặc trại giam ở Việt Nam.

Xem nội dung VB
Điều 7. Thời điểm rút lại đơn đề nghị được chuyển giao

1. Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó chỉ có quyền rút lại đơn đề nghị được chuyển giao trước khi quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân có thẩm quyền của Việt Nam có hiệu lực.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Trình tự, thủ tục rút lại đơn đề nghị được chuyển giao được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Dịch hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 5. Dịch hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Trường hợp Việt Nam gửi hồ sơ, tài liệu ra nước ngoài thì Bộ Công an chịu trách nhiệm dịch hồ sơ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Trường hợp Việt Nam là nước tiếp nhận hồ sơ, tài liệu từ nước ngoài thì Bộ Công an kiểm tra ngôn ngữ của hồ sơ, tài liệu theo quy định tại Điều 8 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp hồ sơ, tài liệu chưa được dịch sang ngôn ngữ quy định tại Điều 8 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì Bộ Công an có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bổ sung bản dịch của hồ sơ, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 38 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên hoặc áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Việt Nam chấp nhận cả trường hợp hồ sơ, tài liệu không được gửi kèm theo bản dịch sang tiếng Việt thì Bộ Công an chịu trách nhiệm dịch hồ sơ, tài liệu từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.

Xem nội dung VB
Điều 8. Ngôn ngữ trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì ngôn ngữ trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế đó.

2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì hồ sơ, tài liệu yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước tiếp nhận hoặc ngôn ngữ khác mà nước tiếp nhận chấp nhận.

3. Cơ quan lập hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải dịch hồ sơ, tài liệu ra ngôn ngữ quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Dịch hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 6. Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

1. Nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị quá cảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này đến Bộ Công an trước ít nhất 10 ngày so với ngày dự kiến quá cảnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Công an xem xét, quyết định việc cho phép quá cảnh, trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Việc chuyển văn bản đề nghị quá cảnh và văn bản trả lời có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).

2. Văn bản đề nghị quá cảnh phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;

b) Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền của nước đề nghị quá cảnh;

c) Thông tin nhân thân người được chuyển giao, bao gồm họ, chữ đệm và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quốc tịch, số hộ chiếu, nơi thường trú và tình trạng sức khỏe của người được chuyển giao;

d) Thông tin về hành vi phạm tội của người được chuyển giao, hình phạt áp dụng đối với người được chuyển giao, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thi hành án;

đ) Thông tin về lịch trình di chuyển, thời gian dự kiến quá cảnh, phương tiện vận chuyển, thành phần Đoàn áp giải và các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mang theo (nếu có);

e) Các đề nghị hỗ trợ từ cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam (nếu có);

g) Các thông tin cần thiết khác (nếu có).

3. Bộ Công an từ chối quá cảnh trong các trường hợp sau đây:

a) Người được chuyển giao là công dân Việt Nam;

b) Hành vi phạm tội của người đang chấp hành án phạt tù không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam;

c) Việc quá cảnh gây phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.

4. Người đang chấp hành án phạt tù và nhân viên áp giải phải ở trong khu vực quá cảnh tại sân bay quốc tế hoặc tại cửa khẩu cảng biển trong thời gian chờ phương tiện để đi nước thứ ba, phù hợp với quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

5. Trong thời gian quá cảnh, nhân viên áp giải của nước đề nghị phải chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam có trách nhiệm hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự và giám sát chung. Mọi chi phí phát sinh trong thời gian quá cảnh do nước đề nghị quá cảnh chi trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

6. Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không mà không có kế hoạch hạ cánh tại Việt Nam nhưng phải hạ cánh đột xuất do sự cố kỹ thuật, tình trạng sức khỏe của người đang chấp hành án phạt tù, nhân viên áp giải, điều kiện thời tiết hoặc lý do bất khả kháng khác thì Trưởng đoàn áp giải hoặc người chỉ huy tàu bay phải thông báo ngay cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại sân bay về sự có mặt của người đang chấp hành án phạt tù trên tàu bay. Để bảo đảm an ninh, trật tự, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với nhân viên áp giải của nước đề nghị thực hiện ngay các biện pháp giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù.

Trong thời gian chờ chuyến bay tiếp theo, người đang chấp hành án phạt tù phải bị quản lý tại khu vực cách ly của sân bay theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 12. Quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải được thông báo trước bằng văn bản đến Bộ Công an để xử lý. Việc đồng ý hoặc từ chối quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp được phép quá cảnh, nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù chịu trách nhiệm quản lý người đó trong thời gian quá cảnh Việt Nam và chịu mọi chi phí quá cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không và hạ cánh đột xuất trên lãnh thổ Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù có thể bị quản lý theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc quản lý người đang chấp hành án phạt tù và chi phí có liên quan được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp Việt Nam đề nghị nước ngoài cho phép quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù thì Bộ Công an liên hệ với nước ngoài để thực hiện các thủ tục xin phép quá cảnh.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 7. Các trường hợp đặc biệt trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài có thể được tiến hành ngay cả khi thời hạn chưa chấp hành án phạt tù của người được đề nghị chuyển giao ít hơn 01 năm trong các trường hợp sau đây:

a) Người đang chấp hành án phạt tù bị mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng cần được chăm sóc y tế đặc biệt hoặc điều trị dài ngày mà trại giam ở nước ngoài hoặc Việt Nam không đáp ứng được hoặc để người đó được ở gần gia đình trong thời gian điều trị; người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước mà người đó đang chấp hành án phạt tù xác nhận;

b) Người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên;

c) Người đang chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

d) Người đang chấp hành án phạt tù là người đủ 70 tuổi trở lên;

đ) Để phục vụ yêu cầu chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

2. Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại tính đến thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao phải bảo đảm đủ thời gian để thực hiện các thủ tục chuyển giao và tiếp tục thi hành một phần bản án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác vì mục đích nhân đạo.

3. Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan về tính chất đặc biệt của từng hồ sơ cụ thể để quyết định việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Công an.

Xem nội dung VB
Điều 15. Điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài có thể được tiếp nhận về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:
...
c) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 8. Từ chối tiếp nhận vì lý do việc tiếp nhận vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam vì lý do việc tiếp nhận vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đề nghị chuyển giao mắc các bệnh hiểm nghèo, bệnh truyền nhiễm nhóm A hoặc các rối loạn tâm thần thể nặng mà tại thời điểm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, các trại giam hoặc cơ sở y tế chuyên khoa phục vụ thi hành án tại Việt Nam chưa có đủ điều kiện về trang thiết bị, phác đồ điều trị hoặc thuốc đặc trị để duy trì sự sống hoặc bảo đảm an toàn tính mạng cho người đó hoặc việc tiếp nhận có thể gây nguy cơ lây lan dịch bệnh nghiêm trọng không thể kiểm soát trong trại giam;

b) Người được đề nghị chuyển giao là đối tượng khủng bố quốc tế, tội phạm đặc biệt nguy hiểm cần chế độ giam giữ, giám sát an ninh đặc biệt với công nghệ cao hoặc các điều kiện phòng ngừa đặc biệt mà hệ thống trại giam của Việt Nam không thể đáp ứng được hoặc việc tiếp nhận có thể gây mất an ninh, trật tự, an toàn nghiêm trọng cho trại giam;

c) Chi phí phát sinh trực tiếp cho việc tiếp nhận, di chuyển và bảo đảm các điều kiện sinh hoạt, y tế đặc biệt cho người đang chấp hành án phạt tù vượt quá định mức chi ngân sách nhà nước theo quy định và vượt quá khả năng cân đối của Bộ Công an trong năm tài chính; đồng thời không huy động được nguồn đóng góp, hỗ trợ tự nguyện từ người đang chấp hành án phạt tù, người đại diện hợp pháp của người đó, người thân thích, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại Điều 11 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Tài chính và các cơ quan khác có liên quan về việc đánh giá thực trạng các điều kiện đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và tiếp tục chấp hành án của người đó tại Việt Nam. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Bộ Công an, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Công an.

Xem nội dung VB
Điều 16. Các trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
...
d) Vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù.
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 9. Tài liệu kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Đơn đề nghị được chuyển giao phải có chữ ký của người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên và người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì đơn đề nghị được chuyển giao phải do người đại diện hợp pháp của người đó ký tên.

2. Tài liệu chứng minh quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù gồm bản chính hoặc bản sao chứng thực của một trong các giấy tờ còn giá trị sử dụng sau đây:

a) Giấy khai sinh; trường hợp giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ;

b) Giấy chứng minh nhân dân; thẻ căn cước công dân; thẻ căn cước; căn cước điện tử;

c) Hộ chiếu Việt Nam;

d) Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam; quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài; quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;

đ) Các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật về quốc tịch.

3. Tài liệu mô tả đặc điểm nhân dạng, tất cả dấu vân tay của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao do cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập;

4. 02 ảnh màu khuôn mặt, kích thước 4cm x 6cm, chụp trong vòng 06 tháng tính đến ngày lập hồ sơ, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính, phông nền trắng.

Xem nội dung VB
Điều 18. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và các tài liệu kèm theo
...
2. Kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm các tài liệu sau đây:

a) Đơn đề nghị được chuyển giao hoặc tài liệu thể hiện nguyện vọng được chuyển giao hoặc đồng ý về việc chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc của người đại diện hợp pháp của người đó;

b) Tài liệu chứng minh quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao theo quy định của pháp luật Việt Nam;

c) Bản sao bản án, quyết định của tòa án của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao;

d) Văn bản về việc thi hành hình phạt bổ sung (nếu có);

đ) Điều luật của nước chuyển giao áp dụng để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu thi hành hình phạt đối với tội phạm đó của bản án;

e) Văn bản thể hiện sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao hoặc văn bản thể hiện sự đồng ý xem xét yêu cầu chuyển giao của Bộ Công an trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao;

g) Tài liệu mô tả đặc điểm nhân dạng, vân tay và ảnh khuôn mặt của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao;

h) Văn bản, tài liệu xác nhận thời gian người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao đã chấp hành án phạt tù, việc đại xá, đặc xá, miễn, giảm án tại nước chuyển giao và thời gian còn lại phải chấp hành án phạt tù;

i) Tài liệu liên quan đến tình hình sức khỏe, trạng thái tâm thần, hồ sơ bệnh án của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao và các khuyến nghị (nếu có);

k) Điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước chuyển giao (nếu có);

l) Tài liệu cần thiết khác (nếu có).
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 10. Trình tự, thủ tục tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có thể trực tiếp hoặc qua đường bưu điện gửi đơn đề nghị được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao hoặc Bộ Công an.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao có trách nhiệm chuyển đơn và các tài liệu kèm theo đến Bộ Công an. Đối với trường hợp người làm đơn thuộc diện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao phải chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 05 ngày. Việc chuyển đơn và các tài liệu kèm theo có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).

2. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao nhận được đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao chuyển đơn đến Bộ Công an theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trường hợp Bộ Công an nhận được đơn đề nghị được chuyển giao từ người thân thích của công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài, trong thời hạn 10 ngày, Bộ Công an kiểm tra thông tin và có văn bản chuyển mẫu đơn đề nghị được chuyển giao đến người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó viết và ký đơn thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước mà người đó đang chấp hành án phạt tù.

Sau khi nhận được đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù, cơ quan đại diện Việt Nam chuyển đến Bộ Công an theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Trường hợp có dấu hiệu cho thấy người đang chấp hành án phạt tù không tự nguyện đồng ý với việc chuyển giao, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó, Bộ Công an có thể cử cán bộ đến nước chuyển giao để xác minh sự đồng ý đối với việc chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù. Việc xác minh được lập thành văn bản có chữ ký của người đang chấp hành án phạt tù và cán bộ tiến hành xác minh.

5. Trường hợp chưa xác định rõ quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, Bộ Công an đề nghị Bộ Tư pháp tiến hành tra cứu quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Bộ Công an, Bộ Tư pháp có văn bản trả lời kết quả tra cứu.

Xem nội dung VB
Điều 19. Tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài

1. Công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có thể gửi đơn đề nghị được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù đến một trong các cơ quan sau đây:

a) Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao;

b) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao;

c) Bộ Công an.

2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao có trách nhiệm chuyển đơn đến Bộ Công an. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao phải chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao. Căn cứ đơn đề nghị được chuyển giao, Bộ Công an xem xét lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại Điều 20 của Luật này.

Việc chuyển đơn đề nghị được chuyển giao về Việt Nam từ cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao đến Bộ Công an có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 11. Trình tự, thủ tục lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, Bộ Công an có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết phục vụ việc xem xét, quyết định lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đối với người đó. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được các thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cung cấp, Bộ Công an tiến hành rà soát các điều kiện theo quy định tại Điều 15 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Trường hợp đủ điều kiện, Bộ Công an lập văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gửi cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao theo quy định tại khoản 3 Điều này. Trường hợp không đủ điều kiện, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó, cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao về việc từ chối và nêu rõ lý do theo quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và văn bản từ chối lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được gửi qua kênh ngoại giao, trừ trường hợp Việt Nam và nước chuyển giao cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định khác. Bộ Công an gửi văn bản từ chối lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đến cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao và đề nghị chuyển văn bản này đến người đang chấp hành án phạt tù.

Xem nội dung VB
Điều 20. Lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam do Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, các thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cung cấp, Bộ Công an xem xét, quyết định việc lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao.

Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam từ Bộ Công an thì chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an.

3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam thì gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến Bộ Công an. Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao thì chuyển ngay đến Bộ Công an để xử lý theo quy định của Luật này.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 12. Trình tự, thủ tục tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Bộ Công an tiếp nhận hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam thông qua cách thức sau đây:

a) Trực tiếp từ cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao;

b) Từ Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao hoặc cơ quan đại diện của nước chuyển giao ở Việt Nam.

2. Sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao, Bộ Công an kiểm tra các nội dung sau:

a) Về hình thức: Kiểm tra số lượng bộ hồ sơ, ngôn ngữ, con dấu, chữ ký trên các tài liệu và việc miễn hợp pháp hóa lãnh sự;

b) Về thành phần: Đối chiếu sự đầy đủ của các tài liệu bắt buộc quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Về nội dung sơ bộ: Rà soát các điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù được quy định tại Điều 15 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và đánh giá khả năng từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù.

3. Trường hợp hồ sơ đáp ứng các yêu cầu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, Bộ Công an có văn bản chuyển 01 bộ gốc hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền và 01 bộ sao y hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định. Văn bản của Bộ Công an gửi Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền bao gồm nội dung đánh giá của Bộ Công an về việc đáp ứng các điều kiện tiếp nhận và khả năng từ chối tiếp nhận.

4. Bộ Công an trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao qua kênh ngoại giao, trừ trường hợp Việt Nam và nước chuyển giao cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định khác và nêu rõ lý do trong các trường hợp sau đây:

a) Hồ sơ không đáp ứng ít nhất một trong các yêu cầu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này;

b) Hết thời hạn bổ sung mà không nhận được thông tin, tài liệu.

Xem nội dung VB
Điều 21. Tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và tài liệu kèm theo từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao hoặc kể từ ngày nhận được tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này từ cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn kiểm tra hồ sơ là 07 ngày.

Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu. Sau 60 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin, tài liệu mà không nhận được thông tin, tài liệu bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và nêu rõ lý do. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày.

2. Trường hợp hồ sơ yêu cầu chuyển giao đáp ứng quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ hồ sơ để xem xét, quyết định, đồng thời, chuyển ngay cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ sao y hồ sơ.

Việc chuyển văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 13 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 13. Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và việc tiếp nhận người được chuyển giao

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền, Bộ Công an gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao để thỏa thuận về thời gian, địa điểm, trình tự, thủ tục tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao về Việt Nam. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn nêu trên là 02 ngày làm việc.

Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ của Việt Nam thì Bộ Công an có văn bản đề nghị cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao tiến hành thủ tục cấp giấy tờ xuất nhập cảnh cho người đó theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 26. Thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù
...
3. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và tổ chức thi hành việc tiếp nhận. Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù phải được tiến hành trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định tiếp nhận có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù là 15 ngày.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 13 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 13 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 13. Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và việc tiếp nhận người được chuyển giao
...
2. Tổ chức việc tiếp nhận, áp giải người được chuyển giao về trại giam và hoàn chỉnh thủ tục thi hành án phạt tù tại Việt Nam.

a) Bộ Công an tổ chức Đoàn tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, thành phần gồm có: Đại diện cơ quan đầu mối của Bộ Công an về công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là Trưởng đoàn; đại diện Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an; đại diện cơ quan đối ngoại của Bộ Công an; đại diện Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án; người phiên dịch; cá nhân khác có liên quan;

b) Việc tiếp nhận phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo thỏa thuận giữa Bộ Công an và cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao, nguyên tắc ngoại giao, phù hợp với thông lệ quốc tế và đảm bảo tuyệt đối an toàn; kiểm tra, tiếp nhận đúng người có tên trong quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án kèm theo hồ sơ thi hành án phạt tù và giấy tờ, đồ vật, tư trang, tiền, tài sản (nếu có) của người được tiếp nhận và tiến hành kiểm tra sức khỏe sơ bộ người được tiếp nhận chuyển giao. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao có trách nhiệm hỗ trợ Đoàn tiếp nhận theo quy định của pháp luật trong thời gian Đoàn tiếp nhận ở nước chuyển giao nếu được đề nghị.

Việc tiếp nhận phải được lập thành biên bản gồm 03 bản bằng tiếng Việt, 03 bản bằng tiếng Anh và 03 bản bằng tiếng của nước chuyển giao theo mẫu quy định; có chữ ký xác nhận của đại diện cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và Trưởng đoàn tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù nêu tại điểm a khoản 2 Điều này;

c) Sau khi tiếp nhận, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù có trách nhiệm tổ chức áp giải người được tiếp nhận kèm theo hồ sơ thi hành án phạt tù và giấy tờ, đồ vật, tư trang, tiền, tài sản (nếu có) của người đó đến trại tạm giam do Công an địa phương mình quản lý để hoàn chỉnh hồ sơ thi hành án, báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định đưa đến trại giam chấp hành án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản báo cáo của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an phải ra quyết định đưa người đó đến trại giam chấp hành án;

d) Hồ sơ đưa người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam đến trại giam chấp hành án theo quyết định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an phải có quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án có hiệu lực pháp luật, quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền và có đủ các tài liệu theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Các tài liệu thi hành án phạt tù của nước ngoài có trong hồ sơ đưa người bị kết án phạt tù đến trại giam chấp hành án phải kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 28. Tiếp nhận người được chuyển giao

1. Bộ Công an tổ chức việc tiếp nhận người được chuyển giao vào thời gian, địa điểm đã được thống nhất bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 13 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 14. Thực hiện thi hành án phạt tù đối với người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam để chấp hành án

1. Các chế độ, quyền và nghĩa vụ của người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự và quy định liên quan khác của pháp luật Việt Nam.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về quyết định đặc xá, đại xá hoặc miễn, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc các quyết định tư pháp khác của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam dẫn đến việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc trả tự do cho người đó (nếu có) thì Bộ Công an gửi ngay thông báo đó cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định.

3. Khi nhận được quyết định của các cơ quan có thẩm quyền nêu tại khoản 2 Điều này, trại giam nơi đang quản lý, giam giữ người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam có trách nhiệm tổ chức thi hành và thông báo cho Bộ Công an kết quả thi hành để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao.

Xem nội dung VB
Điều 29. Tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam

1. Việc tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam của người được chuyển giao thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá, đại xá hoặc miễn, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc các quyết định tư pháp khác của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam, Bộ Công an phải gửi ngay thông báo đó cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 7. Các trường hợp đặc biệt trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài có thể được tiến hành ngay cả khi thời hạn chưa chấp hành án phạt tù của người được đề nghị chuyển giao ít hơn 01 năm trong các trường hợp sau đây:

a) Người đang chấp hành án phạt tù bị mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng cần được chăm sóc y tế đặc biệt hoặc điều trị dài ngày mà trại giam ở nước ngoài hoặc Việt Nam không đáp ứng được hoặc để người đó được ở gần gia đình trong thời gian điều trị; người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước mà người đó đang chấp hành án phạt tù xác nhận;

b) Người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên;

c) Người đang chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

d) Người đang chấp hành án phạt tù là người đủ 70 tuổi trở lên;

đ) Để phục vụ yêu cầu chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

2. Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại tính đến thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao phải bảo đảm đủ thời gian để thực hiện các thủ tục chuyển giao và tiếp tục thi hành một phần bản án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác vì mục đích nhân đạo.

3. Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan về tính chất đặc biệt của từng hồ sơ cụ thể để quyết định việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Công an.

Xem nội dung VB
Điều 32. Điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:
...
c) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;
Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 15. Tài liệu kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Đơn đề nghị được chuyển giao phải có chữ ký của người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên và người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì đơn đề nghị được chuyển giao phải do người đại diện hợp pháp của người đó ký tên.

2. Tài liệu chứng minh quốc tịch nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận gồm bản chính hoặc bản sao chứng thực của một trong các giấy tờ còn giá trị sử dụng sau đây:

a) Hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của nước nhận cấp;

b) Giấy xác nhận quốc tịch hoặc giấy xác nhận tư cách công dân do cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước nhận tại Việt Nam cấp;

c) Giấy tờ chứng minh tình trạng được phép cư trú không thời hạn tại nước nhận;

d) Các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật về quốc tịch, cư trú của nước nhận.

3. Tài liệu mô tả đặc điểm nhân dạng, vân tay của người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao gồm danh bản, chỉ bản và các tài liệu khác.

4. 02 ảnh màu khuôn mặt, kích thước 4cm x 6cm, chụp trong vòng 06 tháng tính đến ngày lập hồ sơ, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính, phông nền trắng.

Xem nội dung VB
Điều 35. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài và các tài liệu kèm theo
...
2. Kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm các tài liệu sau đây:

a) Đơn đề nghị được chuyển giao hoặc tài liệu thể hiện nguyện vọng được chuyển giao hoặc đồng ý về việc chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc của người đại diện hợp pháp của người đó;

b) Tài liệu chứng minh quốc tịch nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận (nếu có);

c) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án nhân dân của Việt Nam đối với người đang chấp hành án phạt tù được đề nghị chuyển giao;

d) Văn bản về việc thi hành hình phạt bổ sung (nếu có);

đ) Điều luật của nước nhận áp dụng để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu thi hành hình phạt đối với tội phạm đó của bản án;

e) Văn bản thể hiện sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao hoặc văn bản thể hiện sự đồng ý xem xét yêu cầu chuyển giao của Bộ Công an trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao;

g) Các tài liệu quy định tại các điểm g, h, i, k và l khoản 2 Điều 18 của Luật này.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 16. Trình tự, thủ tục tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm phổ biến, giải thích cho người đang chấp hành án phạt tù là người nước ngoài về quyền được làm đơn đề nghị được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật Việt Nam ngay khi người đang chấp hành án phạt tù đến chấp hành án và cung cấp mẫu đơn, tạo điều kiện cho người đang chấp hành án phạt tù viết đơn hoặc liên hệ với người đại diện hợp pháp, cơ quan đại diện ngoại giao của nước họ để hỗ trợ viết đơn nếu người đang chấp hành án phạt tù có nguyện vọng.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù, trại giam thuộc Bộ Công an phải có văn bản báo cáo kèm theo đơn và các tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, g khoản 2 Điều 35 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, các khoản 2, 3, 4 Điều 15 của Nghị định này, tài liệu xác định việc thực hiện trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tịch thu tài sản và trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật, kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án (nếu có) gửi Bộ Công an; trại giam thuộc Bộ Quốc phòng phải có văn bản báo cáo kèm theo đơn và các tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, g khoản 2 Điều 35 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, các khoản 2, 3, 4 Điều 15 của Nghị định này, tài liệu xác định việc thực hiện trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tịch thu tài sản và trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật, kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án (nếu có) gửi về Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để có văn bản chuyển đơn đến Bộ Công an.

Trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm thông tin cho người đang chấp hành án phạt tù về quyền, hậu quả pháp lý và thời điểm rút lại đơn đề nghị được chuyển giao theo quy định tại Điều 7 và khoản 5 Điều 43 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

3. Trường hợp Bộ Công an nhận được đơn của người đang chấp hành án phạt tù từ cơ quan đại diện của nước nhận tại Việt Nam thì Bộ Công an có trách nhiệm vào sổ theo dõi hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và tiến hành rà soát hồ sơ người đang chấp hành án phạt tù để xem xét việc lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại Điều 37 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

4. Trường hợp người đại diện hợp pháp hoặc người thân thích của người đang chấp hành án phạt tù gửi đơn đến Bộ Công an, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hoặc quan hệ thân thích. Nếu hợp lệ, Bộ Công an thông báo cho trại giam nơi người đang chấp hành án phạt tù đang chấp hành án để lấy ý kiến xác nhận nguyện vọng của người đang chấp hành án phạt tù trước khi tiến hành các thủ tục tiếp theo.

5. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận thì cơ quan đại diện Việt Nam chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao. Đối với trường hợp người làm đơn thuộc diện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận phải chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 05 ngày làm việc. Việc chuyển đơn có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).

6. Sau khi nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, Bộ Công an tiến hành rà soát các điều kiện chuyển giao theo quy định tại Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù chưa đủ điều kiện chuyển giao, Bộ Công an có văn bản thông báo và nêu rõ lý do cho người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp, người thân thích của người đó hoặc cơ quan đại diện của nước nhận tại Việt Nam.

Xem nội dung VB
Điều 36. Tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam

1. Người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có thể gửi đơn đề nghị được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù đến một trong các cơ quan sau đây:

a) Bộ Công an;

b) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận;

c) Cơ quan đại diện của nước nhận tại Việt Nam.

2. Trường hợp nhận được đơn đề nghị được chuyển giao hoặc tài liệu thể hiện nguyện vọng được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc của người đại diện hợp pháp của người đó, Bộ Công an có trách nhiệm tiếp nhận và xem xét lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 17 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 17. Trình tự, thủ tục lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước nhận cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết phục vụ việc xem xét, quyết định lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đối với người đó. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được các thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước nhận cung cấp, Bộ Công an tiến hành rà soát các điều kiện theo quy định tại Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Trường hợp đủ điều kiện, Bộ Công an lập văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và gửi cơ quan có thẩm quyền của nước nhận theo quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp không đủ điều kiện, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho người đang chấp hành án phạt tù, cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và nêu rõ lý do từ chối lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Trường hợp người nước ngoài đang chấp hành án tại trại giam thuộc

Bộ Quốc phòng có nguyện vọng chuyển giao, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng có văn bản đề nghị Bộ Công an tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an thống nhất về thời gian, địa điểm tiếp nhận để Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định điều chuyển người đang chấp hành án phạt tù cùng hồ sơ phạm nhân đến trại giam thuộc Bộ Công an chấp hành án và Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù trước khi tiến hành các thủ tục chuyển giao theo quy định.

Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù rút lại đơn đề nghị được chuyển giao theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền từ chối chuyển giao người đó cho nước ngoài hoặc các trường hợp khác dẫn đến việc không thể chuyển giao người đó cho nước nhận thì Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù.

4. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và văn bản từ chối lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được gửi qua kênh ngoại giao, trừ trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định khác. Bộ Công an gửi văn bản từ chối lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đến trại giam nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù để chuyển văn bản này đến người đang chấp hành án phạt tù.

Xem nội dung VB
Điều 37. Lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài do Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, các thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước nhận cung cấp, Bộ Công an xem xét, quyết định việc lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài và gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhận.

Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài từ Bộ Công an thì chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an.

3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài thì gửi trực tiếp hoặc qua kênh ngoại giao đến Bộ Công an. Trường hợp Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận thì chuyển ngay đến Bộ Công an để xử lý theo quy định của Luật này.

4. Trường hợp người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ phạm nhân thuộc Bộ Quốc phòng thì người đó phải được chuyển sang cơ sở giam giữ phạm nhân thuộc Bộ Công an để chấp hành án trước khi tiến hành các thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 17 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 18 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 18. Trình tự, thủ tục tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Bộ Công an tiếp nhận hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thông qua các cách thức sau đây:

a) Trực tiếp từ cơ quan trung ương hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước nhận;

b) Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận hoặc cơ quan đại diện nước nhận ở Việt Nam.

2. Sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao, Bộ Công an kiểm tra các nội dung sau:

a) Về hình thức: Kiểm tra số lượng bộ hồ sơ, ngôn ngữ, con dấu, chữ ký trên tài liệu và việc miễn hợp pháp hóa lãnh sự;

b) Về thành phần: Đối chiếu sự đầy đủ của các tài liệu bắt buộc quy định tại Điều 34, Điều 35 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Về nội dung sơ bộ: Rà soát các điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được quy định tại Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, đánh giá khả năng từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

3. Trường hợp hồ sơ đáp ứng các yêu cầu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, Bộ Công an có văn bản chuyển 01 bộ gốc hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền và 01 bộ sao y hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định. Văn bản của Bộ Công an gửi Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền bao gồm nội dung đánh giá của Bộ Công an về việc đáp ứng các điều kiện chuyển giao và khả năng từ chối chuyển giao.

4. Bộ Công an trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhận qua kênh ngoại giao, trừ trường hợp Việt Nam và nước nhận cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định khác và nêu rõ lý do trong các trường hợp sau đây:

a) Hồ sơ không đáp ứng ít nhất một trong các yêu cầu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này;

b) Hết thời hạn bổ sung mà không nhận được thông tin, tài liệu.

Xem nội dung VB
Điều 38. Tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và tài liệu kèm theo từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận hoặc kể từ ngày nhận được tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Luật này. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn kiểm tra hồ sơ là 07 ngày.

Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước nhận bổ sung thông tin, tài liệu. Sau 60 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin, tài liệu mà không nhận được thông tin, tài liệu bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và nêu rõ lý do. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày.

2. Trường hợp hồ sơ yêu cầu chuyển giao đáp ứng quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Luật này thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ hồ sơ để xem xét, quyết định, đồng thời, chuyển ngay cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền 01 bộ sao y hồ sơ.

Việc chuyển văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 18 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 2, 3 Điều 19 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 19. Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và bàn giao người được chuyển giao

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước nhận của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền, Bộ Công an có trách nhiệm gửi văn bản thông báo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước nhận người đang chấp hành án phạt tù thỏa thuận về thời gian, địa điểm và trình tự, thủ tục bàn giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn nêu trên là 02 ngày làm việc.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thỏa thuận bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nhận người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, trại giam nơi người được chuyển giao đang chấp hành án phạt tù và các cơ quan liên quan để tổ chức thi hành theo thẩm quyền. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn nêu trên là 02 ngày làm việc.

3. Trường hợp quá thời hạn 07 ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước nhận chưa thể tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù do có những trở ngại khách quan và đã thông báo cho Bộ Công an về sự chậm trễ này và cam kết bằng văn bản việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và chi trả toàn bộ chi phí phát sinh do việc chậm trễ nhận chuyển giao gây nên, Bộ Công an có trách nhiệm thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để ấn định thời gian và địa điểm mới thực hiện việc chuyển giao. Việc hoãn thực hiện quyết định chuyển giao không được quá 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản cam kết của nước ngoài về việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. Sau khi kết thúc thời hạn hoãn chuyển giao mà nước nhận không tiếp nhận người được chuyển giao thì Bộ Công an lập biên bản về việc này và thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định chuyển giao để xem xét, hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì các thời hạn nêu trên lần lượt là 03 ngày làm việc và 05 ngày làm việc.

Xem nội dung VB
Điều 42. Thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
...
3. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và tổ chức thi hành việc chuyển giao. Việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải được tiến hành trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định chuyển giao có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là 15 ngày.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 2, 3 Điều 19 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4, 5 Điều 19 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 19. Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và bàn giao người được chuyển giao
...
4. Tổ chức áp giải người được chuyển giao

a) Trại giam nơi người được chuyển giao đang chấp hành án phạt tù chịu trách nhiệm tổ chức áp giải người được chuyển giao kèm theo bản sao y các tài liệu thi hành án trong hồ sơ người đang chấp hành án phạt tù có đóng dấu của trại giam, phiếu khám sức khỏe, hồ sơ sức khỏe của người đang chấp hành án phạt tù (nếu có), biên bản kiểm kê giấy tờ, tài sản, đồ vật, tư trang, tiền (nếu có) của người đang chấp hành án phạt tù đến địa điểm và đúng thời gian do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước nhận chuyển giao đã thỏa thuận để tiến hành thủ tục bàn giao cho nước nhận. Thành phần Đoàn áp giải gồm có: Giám thị hoặc Phó Giám thị trại giam làm Trưởng đoàn; cán bộ áp giải; cán bộ hồ sơ; cán bộ y tế; cán bộ phiên dịch (nếu có);

b) Việc áp giải người được chuyển giao phải bảo đảm tuyệt đối an toàn; bảo đảm áp giải đúng người có tên trong quyết định chuyển giao của Tòa án nhân dân có thẩm quyền đến đúng thời gian, địa điểm tiến hành bàn giao theo thỏa thuận.

5. Tổ chức tiến hành bàn giao người được chuyển giao

a) Thành phần Đoàn bàn giao người được chuyển giao gồm có: Đại diện cơ quan đầu mối của Bộ Công an về công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là Trưởng đoàn; đại diện Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an; đại diện Cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Bộ Công an; đại diện cơ quan đối ngoại của Bộ Công an; Giám thị hoặc Phó Giám thị trại giam nơi người được chuyển giao đang chấp hành án phạt tù; người phiên dịch; cá nhân khác liên quan thực hiện thủ tục bàn giao;

b) Việc tiến hành bàn giao phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo thỏa thuận giữa Bộ Công an và cơ quan có thẩm quyền của nước nhận, nguyên tắc ngoại giao, phù hợp thông lệ quốc tế và đảm bảo tuyệt đối an toàn; bàn giao đúng người có tên trong quyết định chuyển giao của Tòa án nhân dân có thẩm quyền cho nước nhận.

Việc bàn giao phải được lập thành biên bản gồm 03 bản bằng tiếng Việt, 03 bản bằng tiếng Anh và 03 bản bằng tiếng của nước nhận; có chữ ký xác nhận của đại diện cơ quan có thẩm quyền của nước nhận và Trưởng đoàn bàn giao người đang chấp hành án phạt tù nêu tại điểm a khoản 5 Điều này.

Xem nội dung VB
Điều 44. Bàn giao người được chuyển giao

1. Bộ Công an tổ chức việc bàn giao người được chuyển giao vào thời gian, địa điểm đã được thống nhất bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền của nước nhận.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4, 5 Điều 19 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3, 6, 7 Điều 19 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
...
Điều 19. Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và bàn giao người được chuyển giao
...
3. Trường hợp quá thời hạn 07 ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước nhận chưa thể tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù do có những trở ngại khách quan và đã thông báo cho Bộ Công an về sự chậm trễ này và cam kết bằng văn bản việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và chi trả toàn bộ chi phí phát sinh do việc chậm trễ nhận chuyển giao gây nên, Bộ Công an có trách nhiệm thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để ấn định thời gian và địa điểm mới thực hiện việc chuyển giao. Việc hoãn thực hiện quyết định chuyển giao không được quá 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản cam kết của nước ngoài về việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. Sau khi kết thúc thời hạn hoãn chuyển giao mà nước nhận không tiếp nhận người được chuyển giao thì Bộ Công an lập biên bản về việc này và thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định chuyển giao để xem xét, hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì các thời hạn nêu trên lần lượt là 03 ngày làm việc và 05 ngày làm việc.
...
6. Quá thời hạn 07 ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước nhận không tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù mà không có lý do chính đáng thì Bộ Công an lập biên bản về việc này và thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định chuyển giao để xem xét, hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn nêu trên là 03 ngày làm việc.

7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và quyết định hủy quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án, Bộ Công an thông báo cho nước nhận, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, trại giam nơi người được chuyển giao đang chấp hành án để tiếp tục thi hành án đối với người có quyết định hủy quyết định chuyển giao của Tòa án. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn nêu trên là 02 ngày làm việc.

Xem nội dung VB
Điều 43. Hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

1. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chưa có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao hoặc thể hiện nguyện vọng không muốn chuyển giao bằng văn bản;

b) Nước nhận rút lại yêu cầu chuyển giao;

c) Người đang chấp hành án phạt tù chết hoặc bỏ trốn khỏi Việt Nam;

d) Trường hợp khác mà việc bàn giao người đang chấp hành án phạt tù không thể thực hiện được.

2. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này;

b) Quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bị hủy.

3. Quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bị hủy trong trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

b) Người được bàn giao không phải là người trong quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

c) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận không tiếp nhận người được chuyển giao đúng thời gian, địa điểm đã được thống nhất mà không có lý do chính đáng hoặc việc chuyển giao không được tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật này.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này; hủy quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 3 Điều này. Các quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành và phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước nhận, người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.

5. Việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm c khoản 3 Điều này chỉ được thực hiện sau ít nhất là 03 năm kể từ ngày quyết định hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3, 6, 7 Điều 19 Nghị định 171/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC có hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Căn cứ Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15;
...
Bộ trưởng Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết Điều 25 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù về chuyển đổi hình phạt tù.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư liên tịch này quy định chi tiết Điều 25 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư liên tịch này áp dụng đối với:

1. Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

2. Bộ Công an;

3. Người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được tiếp nhận về Việt Nam;

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.

Điều 3. Nguyên tắc chuyển đổi hình phạt tù

Việc chuyển đổi hình phạt tù phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1. Hình phạt tù trong bản án, quyết định mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên đối với người đang chấp hành án phạt tù không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam phải được chuyển đổi cho phù hợp;

2. Tuân thủ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

3. Không chuyển đổi hình phạt tù thành hình phạt khác.

Điều 4. Xác định tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt

1. Khi kiểm tra hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao về Việt Nam theo quy định tại Điều 21 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, căn cứ vào các tình tiết của vụ án được nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án của nước chuyển giao tuyên, Bộ Công an có trách nhiệm đánh giá ban đầu về tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt áp dụng đối với hành vi mà người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam đã thực hiện ở nước chuyển giao theo quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản trả lời.

2. Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam căn cứ vào các tình tiết của vụ án được nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án của nước chuyển giao tuyên, ý kiến của Bộ Công an quy định tại khoản 1 Điều này và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp để xem xét, quyết định chuyển đổi hình phạt tù. Nội dung chuyển đổi hình phạt tù gồm thông tin về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt và phải được thể hiện trong quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.

Điều 5. Chuyển đổi hình phạt tù đối với người thành niên

Việc chuyển đổi hình phạt tù đối với người thành niên khi phạm tội được thực hiện như sau:

1. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn trên 30 năm đối với nhiều tội thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 30 năm tù;

2. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn trên 20 năm đối với một tội thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 20 năm tù;

3. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân và hành vi mà người đó thực hiện ở nước chuyển giao có hình phạt tù có thời hạn theo quy định của pháp luật Việt Nam thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất phù hợp với quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này.

Điều 6. Chuyển đổi hình phạt tù đối với người chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

Việc chuyển đổi hình phạt tù đối với người chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội được thực hiện như sau:

1. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 15 năm tù và trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

2. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 18 năm tù và trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định khi người được đề nghị chuyển giao phạm một trong các tội sau đây:

a) Tội giết người;

b) Tội hiếp dâm;

c) Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

d) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

đ) Tội sản xuất trái phép chất ma túy.

Điều 7. Chuyển đổi hình phạt tù đối với người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Việc chuyển đổi hình phạt tù đối với người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội được thực hiện như sau:

1. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 09 năm tù và trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất không quá hai phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

2. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 12 năm tù và trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định khi người được đề nghị chuyển giao phạm một trong các tội sau đây:

a) Tội giết người;

b) Tội hiếp dâm;

c) Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

d) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

đ) Tội sản xuất trái phép chất ma túy.

Điều 8. Trả tự do cho người đang chấp hành án phạt tù

1. Trường hợp Tòa án quyết định tiếp nhận người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam, sau khi chuyển đổi hình phạt tù mà hình phạt tù áp dụng đối với người đó bằng hoặc thấp hơn thời gian mà họ đã chấp hành án phạt tù ở nước ngoài thì Thẩm phán tiến hành phiên họp xem xét yêu cầu chuyển giao phải tuyên bố trả tự do cho người được tiếp nhận về Việt Nam.

2. Việc trả tự do cho người được tiếp nhận về Việt Nam được thực hiện sau khi Bộ Công an tổ chức xong việc tiếp nhận người đó ở nước ngoài về Việt Nam và hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Hiệu lực thi hành

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, thay thế Điều 19 của Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC ngày 22 tháng 02 năm 2013 giữa Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người
đang chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp quy định tại Điều 48 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15.

Điều 10. Tổ chức thực hiện

1. Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thực hiện, tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này.

2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn, giải quyết kịp thời./.

Xem nội dung VB
Điều 25. Chuyển đổi hình phạt tù

1. Trường hợp hình phạt tù trong bản án, quyết định mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên đối với người đang chấp hành án phạt tù không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự và các quy định khác của pháp luật Việt Nam thì phải chuyển đổi cho phù hợp.

2. Việc chuyển đổi hình phạt tù phải căn cứ vào các tình tiết của vụ án được nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án của nước chuyển giao tuyên.

3. Hình phạt tù chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn hình phạt tù mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên về tính chất và thời hạn. Thời gian đã chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao được trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù tại Việt Nam.

4. Người đang chấp hành án phạt tù được tiếp nhận về Việt Nam không bị kết án lần thứ hai về tội phạm đã được tuyên trong bản án, quyết định của tòa án của nước chuyển giao.

5. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC có hiệu lực từ ngày 01/07/2026