Luật Đất đai 2024

Nghị định 173-CP năm 1963 ban hành điều lệ bảo vệ đê điều do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu 173-CP
Cơ quan ban hành Hội đồng Chính phủ
Ngày ban hành 21/11/1963
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường
Loại văn bản Nghị định
Người ký Phạm Văn Đồng
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
--------

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------------

Số: 173-CP

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 1963

 

NGHỊ ĐỊNH

BAN HÀNH ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế và văn hóa trong nước và yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp;

Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Thủy lợi;

Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp hội nghị Thường vụ ngày 24 tháng 7 năm 1963,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nay ban hành kèm theo nghị định này, bản điều lệ bảo vệ đê điều.

Điều 2. Ông Bộ trưởng Bộ Thủy lợi quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành bản điều lệ này.

 

 

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

 

ĐIỀU LỆ

BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU
(Ban hành kèm theo Nghị định số 173-CP ngày 21-11-1963)

MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA

Đê Điều là một công trình chống lũ, ngăn nước mặn do nhân dân ta xây dựng từ lâu đời. Từ sau hòa bình lập lại đến nay, được sự giúp đỡ của Nhà nước, hàng năm nhân dân ta đã góp nhiều công sức để không ngừng củng cố và tăng cường các hệ thống đê sông, đê biển, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước, bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Tuy nhiên đê điều hiện nay còn nhiều nhược điểm: đê đắp bằng đất, xây dựng đã lâu năm và hình thành từ các bờ nhỏ, trong thân đê có nhiều hang hốc, tổ mối, móng đê có nhiều chỗ xấu. Mặt khác đê ngày càng được đắp cao và mở rộng làm cho cống dưới đê trở nên ngắn, lại đã dùng lâu năm nên bị yếu; dòng nước luôn luôn thay đổi, sóng triều vỗ mạnh khi có gió bão, nền đê, kè thường bị xói chân, sạt mái… Bởi vậy việc bảo vệ đê điều, phòng và chống lụt, bão là cực kỳ quan trọng và là nhiệm vụ của toàn dân. Tuy nhiên việc bảo vệ đê điều còn bị xem nhẹ, còn có những hành động làm tổn hại đê, kè, cống.

Điều lệ này quy định chế độ bảo vệ đê điều phòng, chống lụt, bão, ngăn ngừa những hành động gây tổn hại cho đê, kè, cống, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước.

Chương 1.

NỘI DUNG CÔNG TÁC BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU

Điều 1. Phạm vi áp dụng:

Điều lệ này áp dụng cho tất cả các đê và kè, cống phụ thuộc vào đê, thuộc phạm vi trung ương quản lý, bao gồm:

Đê sông chính;

Đê sông nhánh;

Đê biển;

Đê bao thành phố.

Đối với những đê điều thuộc phạm vi địa phương quản lý, ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ căn cứ vào tinh thần điều lệ này mà quy định việc bảo vệ.

Điều 2. Các đê và kè, cống phụ thuộc vào đê điều có một phạm vi bảo vệ quy định như sau:

a) Đối với đê: kể từ chân đê trở ra:

Phạm vi bảo vệ

Đê sông chính

Đê sông nhánh

Để biển

Đê bao thành phố

Về phía đồng

20m

10m

20m

5m

Về phía sông hay biển

20m

10m

100m

5m

b) Đối với kè: Phạm vi bảo vệ kè quy định như sau: Kể từ đầu kè trở ngược và cuối kè trở xuôi dọc bờ sông mỗi bên 100 thước; từ đỉnh kè trở vào chân đê 50 thước và từ chân kè trở ra phía sông 20 thước.

c) Đối với cống: Phạm vi bảo vệ cống quy định như sau: Kể từ giới hạn xây dựng cuối cùng ở thượng và hạ lưu cống trở ra mỗi phía 50 thước.

Trong những trường hợp cần thiết, ông Bộ trưởng Bộ Thủy lợi có thể quyết định sửa đổi những phạm vi bảo vệ trên đây sau khi đã thỏa thuận với ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở địa phương có đê. Những sửa đổi này phải được công bố cho nhân dân và các cơ quan, xí nghiệp hữu quan biết.

Điều 3. Việc xây dựng các công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều quy định như sau:

a) Cấm xây dựng bất kỳ công trình gì trên mặt đất hoặc đào xuống đất trong phạm vi bảo vệ đê điều, trừ trường hợp đặc biệt được Bộ Thủy lợi cho phép.

b) Ngoài phạm vi bảo vệ, nếu muốn đào ao, giếng, kênh, mương… ở phía trong đê (phía đồng) thì cứ đào sâu một thước phải cách xa phạm vi bảo vệ thêm 10 thước, đào sâu hai thước phải cách xa phạm vi bảo vệ thêm 20 thước… Nếu thăm dò trước khi đào mà thấy phía dưới có những chất như bùn, cát chảy và các thứ đất xấu khác thì không nên đào; trong trường hợp thật cần thiết phải đào, thì phải được Bộ Thủy lợi cho phép.

c) Đối với những công trình (nhà cửa, kho tầng, hàng quán, ao giếng) của các cơ quan và nhân dân đã sẵn có trong phạm vi bảo vệ thì giải quyết như sau:

1. Loại xây dựng đã lâu, xét không ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều, thì ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể đề nghị Bộ Thủy lợi cho phép để nguyên như cũ. Chủ nhân của những công trình này không được xây dựng thêm những công trình mới hoặc mở rộng công trình hiện có, không được đào sâu thêm ao giếng hoặc trồng những thứ cây lớn có thể ăn sâu vào thân đê.

2. Loại xét có thể ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều thì theo quyết định của bộ Thủy lợi, ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ quy định thời gian (không quá ba năm) và giúp đỡ chủ nhân những công trình đó di chuyển dần công trình đi nơi khác, đồng thời chỉ thị thi hành những biện pháp cần thiết để bảo vệ đê điều trong khu vực có thể bị ảnh hưởng.

3. Loại xét nguy hiểm cho việc bảo vệ đê điều thì ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thông báo và giúp đỡ cho các chủ nhân loại công trình đó di chuyển trước mùa lụt sắp tới.

4. Trường hợp các công trình, nhà cửa, kho tầng, chuồng trại ở gần bờ sông, bờ biển đang bị xói lở, hoặc ao giếng, đầm lạch ở phía đồng đã phát hiện hang hốc, mạch sủi có thể gây nguy hiểm cho đê, kè, cống, thì dẫu không nằm trong phạm vi bảo vệ đê điều, ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng phải thông báo và giúp đỡ chủ nhân các loại công trình đó di chuyển hoặc lấp lại trước mùa lụt bão tới.

Điều 4. Đối với những cây cỏ trên mặt đê, mái đê, cơ đê và trong phạm vi bảo vệ đê điều:

- Cấm trồng các loại cây to có rễ ăn sâu vào thân đê, gây hư hại cho đê, dễ bị gió đánh đỗ khi có bão hoặc làm cản dòng nước lũ….

- Những cây hiện có phạm vào thân đê, bờ kè, máng cống, và những cây khác xét có thể bị đỗ, gây nên vỡ đê khi có lũ, bão đều phải đẵn ngay, đào hết gốc, rễ và lấp kín lại;

- Trên mặt đê, mái đê, cơ đê chỉ được trồng cỏ, không được trồng bất cứ loại cây gì khác;

- Trong phạm vi bảo vệ của đê, kè, cống, bãi sông, bãi biễn, nhân dân được trồng trọt, chăn nuôi nhưng phải cách chân đê, bờ kè ít nhất là một thước và những người nào trồng trọt, chăn nuôi ở đoạn nào thì phải theo dõi, phát hiện những hang cày, tổ mối, mạch sủi và những hư hỏng khác của đê, kè, cống ở đoạn ấy, để báo cho cơ quan có trách nhiệm biết và xử lý kịp thời.

- Cấm chặt phá các cây chống sóng, ngăn gió; cuốc hoặc nhổ cỏ trên mặt đê và thân đê, mái kè, bờ cống. Cấm cột và thả trâu bò đàn trên đê. Những nơi thiếu chỗ chăn dắt trâu bò, thì tạm thời có thể cho phép chăn trâu bò ăn lẻ ở trên đê, nếu đoạn đê đó không phải là đường giao thông. Tuyệt đối cấm việc cho trâu bò ăn cỏ trên những đê mới đắp chưa qua mùa mưa bão. Khi mức nước đã lên trên mức báo động hai hoặc có tin bão sắp đổ bộ, thì tuyệt đối cấm việc cho trâu bò ăn cỏ trên tất cả mọi con đê.

Điều 5. Cấm dùng mặt đê, mái đê để chứa hoặc sản xuất các nguyên liệu, vật liệu, như : vôi, ghạch, ngói, cát, sạn, rơm rạ… làm cản trở cho công tác chống lụt, bão, làm xói mòn đê, hoặc tạo điều kiện cho mối, kiến, cày, cáo làm tổ vào thân đê.

- Cấm dùng mái kè làm nơi găm đậu ca nô, thuyền bè, làm nơi bốc dỡ hàng hóa hoặc đánh cá, vớt củi. Cấm chứa các vật liệu nặng như đá, ghạch, cát, sạn… trên bờ kè, để khỏi gây sạt lở cho kè.

- Ngoài những khu vực được thiết bị riêng do ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định, cấm dùng mái để làm bến kéo gỗ, tre, nứa hoặc bốc dỡ các hàng hóa nặng khác để khỏi gây hư hỏng cho đê;

- Cấm phá hoại hoặc lấy những vật liệu phòng và chống lụt, bão và các vật liệu xây dựng kè, cống.

Điều 6. Cấm dùng mặt đê, cơ đê chưa được rãi đá hoặc rãi nhựa làm đường cho ô tô, máy kéo hoặc xe súc vật kéo, xe ba gác đi lại làm nứt, lún, hư hỏng mặt đê, trừ trường hợp quy định dưới đây:

Trừ loại xe bánh xích, các loại xe trọng tải không quá sức chịu đựng của cống, trong mùa khô nếu có những việc đột xuất cần đi một vài chuyến thì sẽ được châm chước cho đi lại trên đê. Nhưng nếu muốn sử dụng mặt đê, cơ đê làm đường vận chuyển thường xuyên thì : đối với ô tô, máy kéo phải được phép của ủy ban hành chính cấp tỉnh; đối với xe trâu bò, xe ba gác phải được phép của ủy ban hành chính cấp huyện. Những cơ quan hay tập thể được phép sử dụng phải bảo đảm việc tu sửa mặt đê do xe cộ làm hỏng. Trong mùa lụt, bão thì cần hạn chế việc đi lại của xe cộ. Khi mức nước đã trên báo động hai thì cấm tất cả các loại xe nói trên đi lại trên đê.

Quy định trên đây không áp dụng đối với những xe ô tô làm việc hộ đê, chống lụt, bão, cứu thương, cứu hỏa và xe quân sự khẩn cấp.

Điều 7. Cấm tự ý đóng cống, mở cống, kích chèn cửa cống, cho thuyền bè đi qua cống (trừ âu thuyền hoặc các cống lớn đã được cơ quan quản lý quy định) hoặc đánh cá trong phạm vi bảo vệ cống.

Cấm thuyền, bè, ca nô, tầu thủy đi lại hoặc nạo vét lòng sông trong phạm vi bảo vệ kè.

Điều 8. Cấm không ai được tự ý xẻ đê. Việc xẻ đê tạm thời chống hạn hoặc để xây dựng các công trình phải được Bộ Thủy lợi cho phép.

Những quãng đê bị cắt ngang làm đường giao thông (đường sắt, đường ô tô, đường bộ) thì mặt các đường giao thông nơi bị cắt đó phải cao hơn mức báo động ba và ở bên cạnh nơi bị cắt phải có số đất dự trữ tương ứng với chỗ đê bị cắt đê có thể lấp bịt lại được ngay khi có lệnh của ban chỉ huy chống lụt, chống bão khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Điều 9. Ở những quãng bờ sông, bờ biển đã hoặc đang sạt lở, kể từ mép bờ sông, bờ biển trở vào phía đồng 100 m chỉ được sản xuất lúa, hoa màu hay cây công nghiệp ngắn ngày.

Ở những bãi sông, bãi biển nơi đã trồng các dãi rừng cây chống sóng, ngăn gió thì cấm chặt phá hoặc thả trâu bò phá hoại cây cối. Việc khai thác các rừng cây nói trên phải được sự thỏa thuận của Bộ Thủy lợi và Tổng cục Lâm Nghiệp.

Những quãng sông có bãi sa bồi nằm giữa (chia sông làm hai luồng) nếu độ cao của bãi sa bồi dưới mức nước báo động ba thì chỉ được dùng để sản xuất lúa, hoa màu, hay cây công nghiệp ngắn ngày, không được trồng các cây to lâu năm. Ở những quãng sông bị thắt hẹp, hai bên bờ sông không được lắp đê bồi, không được làm đường giao thông cao, không được làm nhà, xây dựng những công trình có tường kiên cố (ghạch, đá, bê tông), không được trồng các loại cây to làm cản trở dòng chảy. Việc xây dựng các mỏ cầu, trụ cầu qua sông, cần được sự thỏa thuận trước của cơ quan quản lý đê điều.

Chương 2.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NGÀNH, CÁC CẤP

Điều 10. Bộ Thủy lợi có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương thi hành điều lệ này và phổ biến kinh nghiệm công tác bảo vệ đê điều cho các ngành, các cấp có liên quan.

Điều 11. Các bộ, các ngành có liên quan đến việc bảo vệ đê điều, có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tra các cấp và các cơ sở trực thuộc chấp hành nghiêm chỉnh điều lệ này.

Các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, các đơn vị quân đội và công an nhân dân vũ trang đóng ở các vùng có đê có nhiệm vụ tích cực tham gia công tác bảo vệ đê điều ở địa phương nơi mình ở.

Điều 12. Ủy ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi tình hình đê điều ở địa phương mình và giáo dục, động viên nhân dân chấp hành điều lệ bảo vệ đê điều, tích cực giúp đỡ các cơ quan quản lý đê điều.

Đối với những quãng đê xung yếu, ủy ban hành chính các cấp từ huyện trở lên có nhiệm vụ; căn cứ vào điều lệ này và sự hướng dẫn của bộ Thủy lợi và ủy ban hành chính cấp trên, đề ra những biện pháp bảo vệ thích đáng, và đảm bảo việc thực hiện những biện pháp ấy.

Điều 13. Trong mùa lụt, bão, ban chỉ huy chống lụt, chống bão các cấp có nhiệm vụ giúp đỡ ủy ban hành chính địa phương kiểm tra, đôn đốc việc thi hành điều lệ này và trực tiếp lãnh đạo công tác phòng và chống lụt, bão

Chương 3.

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Điều 14. Bảo vệ đê, kè, cống là nhiệm vụ của các tổ chức quản lý, bảo vệ đê điều, đồng thời cũng là nhiệm vụ chung của các cơ quan Nhà nước và của nhân dân đặc biệt là nhân dân ở những vùng có đê, kè, cống.

- Khen thưởng: những đơn vị hoặc cá nhân tích cực thi hành những quy tắc bảo vệ đê điều, kịp thời phát hiện với những cơ quan Nhà nước có trách nhiệm biết những chỗ hư hỏng của đê, kè, cống, ngăn chặn và tố cáo những hành động gây tổn hại cho đê, kè, cống sẽ được khen thưởng.

- Kỷ luật: những đơn vị hoặc cá nhân vi phạm chế độ bảo vệ đê điều quy định trong điều lệ này, nếu gây thiệt hại nhẹ sẽ bị xử phạt theo thể lệ hiện hành. Những hành động làm hại đê, kè cống, gây tổn thất lớn đến tính mạng, tài sản của nhân dân và của Nhà nước sẽ bị truy tố trước tòa án.

Chương 4.

ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 15. Những quy định trước trái với điều lệ này đều bãi bỏ.

Điều 16. Các ông bộ trưởng Bộ Thủy lợi, Bộ trưởng Bộ Công An và các ông chủ tịch ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn và thi hành điều lệ này.

24
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị định 173-CP năm 1963 ban hành điều lệ bảo vệ đê điều do Hội đồng Chính phủ ban hành
Tải văn bản gốc Nghị định 173-CP năm 1963 ban hành điều lệ bảo vệ đê điều do Hội đồng Chính phủ ban hành
Chưa có văn bản song ngữ
Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị định 173-CP năm 1963 ban hành điều lệ bảo vệ đê điều do Hội đồng Chính phủ ban hành
Số hiệu: 173-CP
Loại văn bản: Nghị định
Lĩnh vực, ngành: Tài nguyên - Môi trường
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày ban hành: 21/11/1963
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 1 Thông tư 28-TL-ĐĐ-1964 có hiệu lực từ ngày 14/10/1964
Điều lệ bảo vệ đê điều đã ban hành là văn bản của Nhà nước có tính chất pháp lý, quy định những điểm cơ bản nhất trong công tác bảo vệ đê điều.
Trong khuôn khổ một bản điều lệ không thể nói hết được các điểm chi tiết. Chiếu theo điều 2 của nghị định và điều 16 của điều lệ, Bộ Thủy lợi giải thích và hướng dẫn một số điểm cụ thể để Ủy ban hành chính, Ty Thủy lợi các tỉnh có đê, các thành phố trực thuộc trung ương và các ngành có liên quan nghiên cứu thi hành đúng với tinh thần của bản điều lệ.
...
Chương 1: NỘI DUNG CÔNG TÁC BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU

Điều 1 của điều lệ quy định chỉ áp dụng cho các đê, kè, cống phụ thuộc vào đê thuộc phạm vi trung ương quản lý.

Hiện nay có nhiều loại đê: đê sông, đê biển, đê nông trường, đê đồng muối, đê khai hoang v.v... do nhiều ngành, nhiều cấp quản lý. Theo phân loại và phân cấp thì có hai khu vực đê: khu vực đê thuộc trung ương quản lý (Bộ Thủy lợi) và khu vực đê thuộc địa phương quản lý (Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Điều lệ này chỉ áp dụng đối với đê thuộc trung ương quản lý.

1. Đê thuộc phạm vi trung ương quản lý bao gồm:

a) Đê sông chính là những đê có tác dụng bảo vệ cho một khu vực rộng lớn, bảo vệ những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, những cơ sở sản xuất quan trọng trong lưu vực sông chính như đê sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc, sông Trà Lý, đê sông Thái Bình, sông Văn Úc, sông Lạch Tray, sông Kinh Thầy, đê sông Chu, sông Mã, sông Cả, sông La, v.v... Nếu vỡ đê sông chính thì nước lũ có thể tràn ngập gây thiệt hại cho một hoặc nhiều huyện, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến một hoặc nhiều tỉnh, uy hiếp nghiêm trọng đến tính mạng, của cải của nhân dân và tài sản của Nhà nước.

Trường hợp đê dọc theo sông chính, nhưng có tác dụng bảo vệ ít thì cũng không thuộc phạm vi trung ương quản lý, như một số đê khoanh vùng ở thượng du, một số đê bối ở trung du và đồng bằng, những đê này do địa phương quản lý.

b) Đê sông nhánh: Đê nằm dọc theo những sông có lưu lượng tương đối nhỏ so với sông chính gọi là đê sông nhánh như: đê sông Hóa, sông Kinh Thày, sông Phó đáy, đê sông Cầu chầy.

c) Đê biển là những đê đắp dọc theo bờ biển; có tác dụng chắn sóng, ngăn mặn tràn vào đồng ruộng. Cũng có nhiều đê biển không ở dọc bờ biển mà nằm sâu trong nội địa hoặc nằm dọc các cửa sông có tác dụng ngăn mặn, chống sóng nên còn gọi là đê ngăn mặn.

Đê biển thuộc phạm vi trung ương quản lý là những đê ngăn mặn, chống bão, bảo vệ làng mạc, đồng ruộng trên một phạm vi rộng lớn. Trường hợp đê chỉ bao quanh một vùng nhỏ; có tính chất lấn dần ra biển, những đê biển đó không thuộc trung ương quản lý.

d) Đê bao thành phố: Một số thành phố quan trọng đã được bảo vệ bằng tuyến đê chính, còn có một tuyến đê thứ 2 đề phòng lũ ở các nơi khác do vỡ đê chảy về tập hậu. Tuyến đê thứ 2 đó gọi là đê bao thành phố, có thể ví dụ như đê bao Hà Nội.

2. Ngoài những loại đê thuộc phạm vi trung ương quản lý còn lại là đê thuộc địa phương quản lý. Trong phạm vi phân cấp, Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành có đê căn cứ vào nội dung điều lệ và tình hình cụ thể của địa phương mà quy định việc bảo vệ.

Điều 2 của điều lệ quy định phạm vị bảo vệ đê, kè, cống tức là khu vực không được xâm phạm đến để giữ cho đê, kè, công được ổn định. Phạm vi bảo vệ đó như sau:

1. Đối với đê:

a) Đê song chính thường đắp cao và to, nên phạm vi bảo vệ quy định từ chân đê phía sông (tức là chỗ giáp giới của mái đê với đất thiên nhiên) trở ra 20 thước, từ chân đê phía đồng trở vào 20 thước.

b) Đê sông nhánh là những đê tuy cũng quan trọng nhưng thông thường nhỏ và thấp hơn đê sông chính đầu nước và áp lực nước cũng thấp hơn, nên phạm vi bảo vệ quy định là 10 thước từ chân đê phí sông trở ra và 10 thước từ chân đê phía đồng trở vào.

Khoảng cách quy định này là dựa vào nghiên cứu sự ổn định của đê, tình hình đất đai hai bên đê, tình hình thực tế của đê hiện nay và yêu cầu cần thiết của công tác phòng chống lụt, bão. Khoảng cách hẹp hơn sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của đê và gây trở ngại cho việc kiểm tra quan sát trong mùa lụt, bão. Nếu rộng quá sẽ chiếm mất nhiều đất, ảnh hưởng đến sản xuất.

c) Đê biển phần lớn nằm ở những vùng bãi rộng ven biển: Vì gió bão ở biển thổi mạnh, sóng to hơn ở sông và điều kiện đất đai ven biển cho phép nên quy định phạm vi bảo vệ đê về phía biển là 100 thước để tăng khả năng chống đỡ của đê đối với sóng biển, phạm vi nàhy là kể cả khu vực trồng rừng cây chắn sóng, mà rừng cây muốn có tác dụng ngăn và cắt sóng phải rộng ít nhất từ 50 thước trở lên.

Phạm vi bảo vệ đê biển về phía đồng phải bảo đảm theo yêu cầu cấu tạo nên chỉ cần 20 thước, kể cả rãnh ngăn mặn (nếu có). Biện pháp làm rãnh ngăn nước mặn không cho chảy vào đồng là cần thiết để chống mặn cho lúa và hoa màu phía trong đê.

d) Đối với đê bao thành phố: Vì thành phố ít đất bỏ không, vì tính chất của đê bao la tuyến phòng ngự thứ hai chống ảnh hưởng tập hậu của lũ do vỡ đê ở nơi khác tràn tới, hơn nữa điều kiện đất đai xây dựng ở thành phố khác với ở nông thôn, nên điều lệ quy định phạm vi bảo vệ mỗi bên là 5 thước.

2. Về phạm vi bảo vệ kè bờ sông.

Đầu kè ở phía thượng lưu, cuối kè ở phía hạ lưu sông. Kè nằm nghiêng theo bờ sông, chân kè sát lòng sông, còn đỉnh kè (hay mép kè) là phần cao nhất của kè nhô khỏi mắt nước có khi tới mặt đất bằng ở bờ sông. Đầu kè trở ngược tức là đầu kè dọc theo bờ sông ngược lên thượng lưu và cuối kè trở xuôi tức là từ cuối kè xuôi theo dòng nước về hạ lưu mỗi phía 100 thước là phạm vi bảo vệ cho đầu kè và cuối kè. Chân kè nằm sát đáy sông, chịu sức nặng của kè dồn xuống, nếu lòng sông sát chân kè bị đào sâu (như khi nạo vét lòng sông) thì chân kè bị sạt lở và mái kè cũng đổ theo. Vì vậy quy định phạm vi bảo vệ chân kè 20 thước là kể từ chỗ giới hạn cuối cùng của chân kè trở ra và theo đáy sông.

Phạm vi bảo vệ đính kè quy định 50 thước là tính từ đỉnh kè trở vào phía chân đê nếu là kè bảo vệ đê, hoặc là trở vào đất liền nếu là kè bảo vệ bờ sông.

Tóm lại, điều lệ quy định bốn phía bao quanh kè (đầu kè, cuối kè, chân kè, đỉnh kè) đều có phạm vi bảo vệ rộng, hẹp khác nhau.

3. Về phạm vi bảo vệ cống, điều lệ quy định kể từ giới hạn xây dựng cuối cùng ở thượng và hạ lưu cống trở ra mỗi phía 50 thước giới hạn xây dựng cuối cùng của cống là chỗ giáp giới giữa vật liệu làm cống (bê-tông, gạch, đá xây, đát lát, đất sét làm sân, cống chống thấm…) với đất thiên nhiên.

Trên đây là quy định chung phạm vi bảo vệ của từng loại công trình đê, kè, cống. Trong những trường hợp cá biệt cần thiết hay gặp những nơi đất quá xấu, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi có thể nghiên cứu rút bớt hoặc tăng thêm những phạm vi bảo vệ nói trên cho thích hợp với điều kiện cụ thể. Những thay đổi cá biệt này, sau khi Bộ Thủy lợi loan báo, chính quyền địa phương phải công bố cho nhân dân và các cơ quan, xí nghiệp hữu quan biết.

Điều 3 của điều lệ nói về việc xây dựng các công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều là phát triển cụ thể của điều 2, nêu những quy định chi tiết trên và dưới mặt đất:

a) Cấm xây dựng bất kỳ công trình gì trên mặt đất hoặc đào sâu xuống đất trong phạm vi bảo vệ đê điều, trừ trường hợp đặc biệt phải được Bộ Thủy lợi cho phép. Những trường hợp đặc biệt này là quá cần thiết không thể tránh được như: xây cột điện cao thế vượt sông, xây cống, xây trạm bơm, làm mổ cầu hoặc đường giao thông qua đê. Đứng về nguyên tắc thì đây là những vi phạm điều lệ và ảnh hưởng đến an toàn của đê điều. Nhưng vì lý do quá cần thiết, Bộ Thủy lợi sẽ căn cứ vào đồ án thiết kế kỹ thuật các công trình của từng trường hợp mà xét về mặt an toàn đối với chống lụt, bão và có thể cho phép xây dựng với một số điều kiện nhất định.

b) Phần b điều 3 của điều lệ nói rõ: ngoài phạm vi bảo vệ, muốn đào ao, giếng, kênh, mương… ở phía trong đê (phía đồng) thì cứ đào sâu một thước phải cách xây dựng lán trại và kho thêm 10 thước, đào sâu hai thước phải cách xa thêm 20 thước, v.v... Đây là những số liệu đã tính toán để đảm bảo an toàn cho đê điều khi nước lũ lên cao. Vì địa chất vùng gần đê phần lớn là đất cát, nếu đào sâu xuống mà không tôn trọng phạm vi đã quy định ấy thì có thể tạo điều kiện phát sinh thẩm lậu hoặc vòi nước nghiêm trọng khi có lũ lớn. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết phải đào công trình tương đối sâu mà vị trí lại nằm trong phạm vi nguy hiểm như đào móng một số công trình, đào giếng lấy nước cung cấp cho thành phố, công trường, xí nghiệp lớn… thì Bộ Thủy lợi sẽ căn cứ vào đồ án thiết kế của từng công trình và các biện pháp xử lý có thể dự kiến đối phó được mà cho phép thực hiện với một số điều kiện nhất định.

Trong trường hợp đào sâu và tôn trọng điều lệ chung mà khi đào gặp điều kiện địa chất xấu như bùn, cát cháy… thì phải đình chỉ việc đào để báo cáo Bộ Thủy lợi xét. Nếu muốn tiếp tục đào thêm thì phải được sự đồng ý của Bộ Thủy lợi, nếu không có thể gây trượt lún các tầng lớp đất phía dưới làm mất thế ổn định tự nhiên của vùng này, ảnh hưởng đến an toàn của đê điều ở gần đấy.

Điểm C của điều 3 quy định biện pháp giải quyết đối với những công trình (nhà cửa, kho tàng, hàng quán, ao giếng) của các cơ quan và nhân dân đã sẵn có trong phạm vi bảo vệ. Nói chung, những công trình này đều ít nhiều gây trở ngại cho việc bảo vệ đê điều, nhưng hiện nay chưa thể ngay trong một lúc di chuyển đi hết được, trừ một số trường hợp thật cần thiết. Điêu lệ quy định như sau:

1. Điểm C – 1 của điều 3 quy định:

- Loại xây dựng đã lâu mà xét không ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều như: đình chùa, miếu, di tích lịch sử v.v... có móng vững chắc thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành sẽ xét lập danh sách theo thứ tự vị trí để đề nghị Bộ Thủy lợi cho phép được giữ nguyên như cũ.

- Đối với nhà cửa, hàng quán, tài sản sẵn có của nhân dân nằm trong phạm vi bảo vệ đê điềum, nói chung, chưa đặt thành vấn đề di chuyển, trừ những trường hợp quy định ở điểm C – 2, C – 3, C – 4 của điều 3 sẽ nói rõ sau đây.

2. Điểm C – 2 của điều 3 quy định cho loại xét có ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều trừ những loại có thể gây sạt lở, lún, tổn hại đến tính ổn định của đê, kè, cống hoặc trở ngại lớn cho việc phòng chống lụt, bão như những nhà cửa, đồn vọng gác, trạm bơm, cột điện, công sự cũ, v.v... xây dựng trên mặt đê, mái đê, cơ đê, thì phải di chuyển dần đi nơi khác trong thời hạn không quá ba năm, tính từ khi ban hành thông tư này. Trong khi thi hành, Ủy ban hành chính tinh thần nghiên cứu cụ thể để xét châm chước cho một số ít trường hợp cá biệt có thể để lại, di chuyển sau, như trạm bơm, cột điện, các công trình nhả cửa kiên cố của Nhà nước và của nhân dân, v.v... với một số điều kiện nhất định.

3. Điểm C – 3 của điều 3 quy định cho những loại trực tiếtp gây nguy hiểm cho việc bảo vệ đê điều như: những nhà cửa, công trình, kho tàng ở gần đê, kè, cống; có loại xây bằng gạch đá nhưng bị nứt thành vết to ở tường, ở nền, móng, v.v... có loại bằng gỗ, tre, nứa bị mối mọt đục khoét, loại ở gần đê kè xung yếu đang sạt lở, hay những cây cối sắp đổ ngã. Những loại này có thể đột biến gây sạt lở nguy hiểm cho đê, kè, cống nên hàng năm phải kiểm tra lại kỹ và nếu có diễn biến thì phải nhanh chóng di chuyển đi nơi khác trước mua lụt, bão hàng năm.

4. Điểm C – 4 của điều 3 đã quy định rõ những trường hợp cần phải di chuyên để bảo vệ đê, kè, cống, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước. Thông tư này không phát triển thêm.

Việc di chuyển những công trình của Nhà nước thuộc cơ quan hay ngành nào, địa phương nào thi do cơ quan hay ngành đó, địa phương đó đảm nhận và phải liên hệ với Ủy ban hành chính tỉnh nơi có công trình và nơi sẽ di chuyển đến để được giúp đỡ và bố trí sắp xếp. Nếu là những công trình mang tính chất lịch sử thì phải báo cáo và có ý kiến của Bộ Văn hóa.

Việc lấp hồ, ao ở gần đê của địa phương nào sẽ do địa phương đó đảm nhận.

Việc di chuyển tài sản của nhân dân, của cá nhân, của hợp tác xã thì do nhân dân, hợp tác xã đảm nhận, không có trợ cấp đền bù, nhưng chính quyền địa phương có trách nhiệm giúp đỡ về tổ chức, liên hệ sắp xếp với Ủy ban hành chính nơi di chuyển đến, động viên hợp tác xã và nhân dân địa phương giúp đỡ một phần về nhân lực và phương tiện.

Trên đây là một số điểm cơ bản về việc di chuyển các công trình, nhà cửa, kho tàng trong phạm vi bảo vệ đê điều. Ủy ban hành chính tỉnh và Ty Thủy lợi dựa và đây mà nghiên cứu kế hoạch, biện pháp thực hiện cho từng trường hợp cụ thể phù hợp với tình hình địa phương và nếu gặp khó khăn trở ngại gì thì báo cáo lên Bộ Thủy lợi góp thêm ý kiến.

Điều 4 quy định việc trồng cây, cỏ trên đê và trong phạm vi bảo vệ đê điều.

Trên mặt đê, mái đê, cơ đê chỉ được trồng cỏ vì cỏ là lớp áo khoác ngoài có tác dụng bảo vệ đê chống xói mòn. Không được trồng bất cứ loại cây gì khác, nhất là cây có rễ ăn sâu vào thân đê, dễ bị bão đánh gãy đổ gây hư hại cho đê và cản trở dòng nước lũ. Cỏ trên đê cần được gây trồng và bảo vệ cho tốt, đi đôi với khai thác có kế hoạch. Vì vậy cấm cuốc, nhổ cỏ trên đê, bờ kè, máng, cống. Việc cắt cỏ cho trâu, bò ăn cần chia khoảnh cắt lượt để nuôi dưỡng cỏ, nhưng cũng không nên để cỏ mọc quá cao trở ngại cho việc kiểm tra đê, kè, cống, việc phát hiện các hư hỏng, nứt nẻ, rò rỉ, nhất là trong mùa mưa, bão.

Trâu bò thả rong trên đê là điều cần tránh. Cấm cột và thả trâu bò đàn trên đê để tránh gây sạt lở đê và dẫm chết cỏ. Tuyệt đối cấm trâu bò ăn cỏ trên những đê mới đắp chưa qua mùa mưa bão, vì đây là những đê chưa qua thử thách, đất mới đắp có thể còn nhiều kẻ hở chưa dính chặt dễ sạt lở. Những nơi thiếu chỗ chăn dắt trâu, bò thì Ủy ban hành chính tỉnh tạm thời có thể cho phép chăn trâu, bò ăn lẻ trên đê, nếu đoạn đê đó không phải là đường giao thông.

Trồng cây chắn sóng, ngăn gió bão là biện pháp bảo vệ đê có nhiều hiệu quả nhất đối với những quãng đê xung yếu, trong mùa lũ thường bị dòng nước thúc mạnh hoặc gió bão gây sóng lớn vỗ vào gây sạt lở đê. Vì vậy, Bộ Thủy lợi chủ trương trồng tre chắn sóng ven đê sông và nhiều hàng cây nước mặn ven đê biển. Hàng tre gần nhất nên cách chân đê sông 2 mét, và hàng cây nước mặn gần nhất nên cách chân đê biển 10 mét để cắt sóng trước khi sóng vỗ vào đê. Những nơi đã trồng vào sát chân đê thì vẫn giữ nguyên như cũ, nhưng cần trồng thêm những hàng cây mới cách chân đê đúng theo quy định trên, đến khi hàng cây mới lớn lên đủ sức cắt sóng, ngăn gió bão thì có thể đẵn những hàng cây cũ ở sát đê.

Điều 5 của điều lệ quy định cấm phá hoại hoặc lấy những vật liệu phòng chống lụt, bão và các vật liệu xây dựng kè, cống như đá hộc, đá dăm, gạch, cát, sạn, phên, nứa, v.v... để tập trung hoặc đã giả ra ở các tuyến đê. Đấy là một quy định hết sức quan trọng nhằm đảm bảo sẵn sàng chiến đấu phòng chống lụt, bão. Nhưng ở nhiều nơi, do địa phương quản lý không được chặt chẽ nên những vật liệu này bị hao hụt, mất mát nhiều, nhất là đá hộc. Các Ty Thủy lợi cần kiểm kê số đá dự trữ chống lụt, có biện pháp thu hồi số bị hao hụt, sắp xếp lại và tổ chức bàn giao bảo quản chu đáo.

Điều 6 của điều lệ quy định việc giao thông đi lại trên đê.

Nguyên tắc chung là cấm xe cộ đi lại trên đê (nếu đê đó không phải là đường giao thông, mặt đê, cơ đê chưa được rải đá, rãi nhựa nhằm bảo đảm cho đê khỏi bị hư hỏng, nứt lún, sạt lở. Những xe cấm là những xe ô tô, máy kéo, xe xúc vật kéo, xe ba gác, nhất là các loại xe bánh xích.

Nhưng điều lệ có châm chước cho một số xe trong một vài trường hợp thật cần thiết được đi lại một vài lần trên đê trong mùa khô mà không phải xin phép, như: xe quân sự, máy cày, máy kéo, xe bánh xích, xe vận tải, nếu trọng lượng của những xe này không quá sức chịu đựng của cống, không gây hư hỏng cho cống dưới đê, nhưng khi đi phải có ý thức và trách nhiệm bảo vệ đê như xe bánh xích cần có vật chắn xích tránh làm hỏng mặt đê, xe trọng tải nặng không được leo lên mái con chạch, không được đi ra mép đê để tránh gây sạt lở cho đê, v.v... Nếu gây sạt lở, hư hỏng tổn hại đến đê thì cơ quan có xe đi phải chịu mọi chi phí tu sửa, đắp lại theo đúng kỹ thuật.

Nếu muốn đi thường xuyên thì: đối với ô tô, máy kéo xe bánh xích phải được phép của Ủy ban hành chính cấp tỉnh, đối với xe súc vật kéo, xe ba-gác phải được phép của Ủy ban hành chính cấp huyện. Những giấy phép này chỉ có giá trị trong phạm vi tỉnh, huyện đã cấp giấy phép, nếu không thi chính quyền địa phương các cấp có quyền địa phương các cấp có quyền bắt giữ lập biên bản báo cáo lên trên.

Để thi hành khoản này của điều 6, Ty Thủy lợi và Ty Giao thông các tỉnh cần thống nhất nghiên cứu lý lịch đê, kè, cống trong tỉnh, trọng tải các loại xe, trên cơ sở đó mà đề nghị Ủy ban hành chính tỉnh quy định những loại xe nào được phép đi trên từng con đê cho phù hợp với sức chịu đựng của đê và các loại cống dưới đê. Nếu xét cần thiết cho giao thông đi lại thường xuyên thì phải nghiên cứu mọi biện pháp ngăn ngừa gây hư hỏng sạt lở đê, nghiên cứu lát đá, rải nhựa, biến đê thành đường giao thông.

Đối với những đê là đường giao thông đã lát đá, rải nhựa thì Ủy ban hành chính tỉnh cũng dựa vào cơ sở thống nhất nghiên cứu giữa Ty Thủy lợi và Ty Giao thông mà quy định những loại xe nào được đi lại trên đê, quy định trọng tải và tốc độ cho phù hợp với sức chịu đựng của đê theo quy tắc chung của giao thông.

Trong mùa mưa, lụt phải hạn chế xe cộ đi lại trên đê. Một số xe nếu thấy cần thiết đi thì phải có giấy phép của Ban chỉ huy chống lụt bão cấp tỉnh trở lên. Các giấy phép của Ủy ban hành chính tỉnh, huyện chỉ được sử dụng khi nước sông không lên tới mức báo động và không có tin bão. Khi có báo động II và có báo bão gần thì các giấy phép không được đi nữa, chỉ còn lại có các xe ô-tô làm việc hộ đê chống lụt, bão, cứu thương, cứu hỏa và xe quân sự khẩn cấp.

Điều 7 của điều lệ quy định cấm tự ý đóng mở cống dưới đê trong mùa lụt cũng như trong mùa khô. Việc đóng mở phải do thủ cổng và những người có trách nhiệm và phải tuân theo nội quy đóng mở. Cấm kích chèn cửa cổng vì làm như vậy có thể gây hư hòng và khi nước sông lên không đóng kín cửa được rất nguy hiểm.

Điều 8 quy định cấm không ai được tự ý xé đê. Nếu muốn xẻ đê để chống hạn hay xây dựng công trình thì địa phương phải xin phép và phải được Bộ Thủy lợi đồng ý, những đoạn đê xẻ để chống hạn phải được đắp lại như cũ khi chống hạn xong, và bảo đảm kỹ thuật đầm nện tốt. Trước mùa lụt bão, Ty Thủy lợi cần kiểm tra phát hiện tất cả những đoạn đê xé mà chưa đắp lại hoặc đắp chưa kỹ để đắp và tu bổ lại thật tốt.

Ở nhiều nơi, nhân dân thưòng hạ thấp con chạch làm lối đi lại cho người và súc vật trong phạm vi hợp tác xã, thôn xóm, khu phố. Trường hợp này chỉ cho phép hạ thấp con chạch ở những đoạn đê ít quan trọng, không được cuốc hạ cấp đê.

Ủy ban hành chính tỉnh xét tình hình cụ thể cần thiết mà cho phép và quy định nội quy bảo vệ, cùng khối lượng đất dự trữ, số lượng dụng cụ, nhân lực sẵn sàng để lấp bịt khi cần thiết.

Điều 9 đề cập đến những quãng bờ sông, bờ biển đã hoặc đang bị sạt lở. Trong điều này không nói việc di chuyển nhà cửa, công trình (vì đã nói trong điều 3, điểm 4) mà chỉ quy định: ở những quãng bờ sông, bờ biển đã hoặc đang sạt lở, kể từ mép kè bờ sông, bờ biển trở vào phía đồng 100m chi được sản xuất lúa, hoa màu hay cây công nghiệp ngắn ngày. Đây là nhằm đảm bảo thu hoạch sản xuất vì bờ sông, bờ biển đang sạt lở thì chỉ nên trồng những thứ có thể thu hoạch trong thời gian ngắn, nếu trồng cây to lâu năm sẽ đổ ngã và cản trở dòng nước lũ. Cùng với tinh thần này mà điều lệ quy định ở những dòng sông có bãi sa bồi nằm giữa (chia sông làm hai luồng) nếu độ cao của bãi sa bồi dưới mức báo động III mà bãi đó đã bị ngập thì chỉ được sản xuất lúa, hoa màu hay cây công nghiệp ngắn ngày (các Ty Thủy lợi, Ty Nông nghiệp các tỉnh cần thống nhất nghiên cứu xác định những quãng sông này và công bố cho nhân dân nơi ấy biết mà thi hành).

Ở những quãng sông bị thắt hẹp, nước chảy xiết, tốc độ dòng chảy mạnh, nên quy định hai bên bờ sông không được đắp đê bồi, không được làm đường giao thông cao, không được làm nhà, không được xây dựng những công trình kiên cố và không được trồng cây lâu năm mục đích là để khai thông dòng chảy và vấn đề phòng sạt lở nguy hiểm cho đê.

Việc đắp thêm đê bồi ở quãng sông bị thắt hẹp là tuyệt đối cấm. Đối với đê bồi ở các đoạn sông khác nói chung chỉ được đắp tới mức bảo đảm chống được mức nước báo động II. Nếu lũ vượt báo động II, đê bồi bị uy hiếp thì phải sẵn sàng chủ động mở đê bồi cho nước vào thử thách và bảo vệ quãng đê chính phía trong là hết sức cần thiết, nếu không đê bồi có thể bị phá vỡ bất thần làm cho đê chính cũng bị phá vỡ theo, nhất là ở chỗ giáp với đê bồi.

Việc xây dựng các mổ cầu, trụ cầu qua sông cần được sự thỏa thuận trước của cơ quan quản lý đê điều.

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU
...
Chương 1. NỘI DUNG CÔNG TÁC BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 1 Thông tư 28-TL-ĐĐ-1964 có hiệu lực từ ngày 14/10/1964
Điều này được hướng dẫn bởi Chương 2 Thông tư 28-TL-ĐĐ-1964 có hiệu lực từ ngày 14/10/1964
Điều lệ bảo vệ đê điều đã ban hành là văn bản của Nhà nước có tính chất pháp lý, quy định những điểm cơ bản nhất trong công tác bảo vệ đê điều.
Trong khuôn khổ một bản điều lệ không thể nói hết được các điểm chi tiết. Chiếu theo điều 2 của nghị định và điều 16 của điều lệ, Bộ Thủy lợi giải thích và hướng dẫn một số điểm cụ thể để Ủy ban hành chính, Ty Thủy lợi các tỉnh có đê, các thành phố trực thuộc trung ương và các ngành có liên quan nghiên cứu thi hành đúng với tinh thần của bản điều lệ.
...
Chương 2:

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NGÀNH, CÁC CẤP

Điều 12 nói về nhiệm vụ Ủy ban hành chính các cấp.

Khi thi hành điều khoản này, cần chú ý mấy việc dưới đây:

1. Căn cứ vào điều lệ và thông tư đã ban hành, Ủy ban hành chính, Ty Thủy lợi và Ty Công an các tỉnh, thành cùng với các ngành có liên quan thống nhất nghiên cứu những điều khoản và nội quy bảo vệ đê điều áp dụng cụ thể trong tỉnh.

Ty Thủy lợi giúp Ủy ban hành chính tỉnh xây dựng, sưu tầm hồ sơ lý lịch đê, kè, cống trong tỉnh, thường xuyên theo dõi nắm vững tình hình đê, kè, cống và tinh hình bảo vệ đê điều ở địa phương, có kế hoạch thực hiện và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiên điều lệ trong phạm vi tỉnh.

2. Trên cơ sở nghiên cứu đề nghị của Ty Thủy lợi và các Ty có liên quan và dựa vào tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban hành chính các tỉnh, thành có đê nghiên cứu ban hành thể lệ thực hiện điều lệ bảo vệ đê điều trong tỉnh, có kế hoạch giáo dục, động viên cán bộ, nhân dân trong tỉnh chấp hành, tích cực giúp đỡ cơ quan quản lý đê điều các cấp, và có kế hoạch biện pháp chỉ đạo phối hợp với các ngành để đảm bảo thực hiện đầy đủ điều lệ trong tỉnh.

Ở những công trình lớn và xung yếu, Ủy ban hành chính tỉnh, huyện cần đặt những bản niêm yết nội quy bảo vệ để cho cán bộ và nhân dân thực hiện. Bản niêm yết nội quy bảo vệ các công trình và các đoạn đê xung yếu cần căn cứ vào bản điều lệ chung của Nhà nước mà quy định. Các thể lệ thực hiện điều lệ bảo vệ đê điều của các tỉnh phải có các nội dung chính sau đây:

- Mục đích ý nghĩa (nét lớn);

- Phạm vi bảo vệ và điều lệ áp dụng đối với từng loại công trình đê, kè, cống;

- Quy định việc giải quyết những công trình sẵn có và việc xây dựng công trình trong và ngoài phạm vi bảo vệ, trên và dưới mặt đất;

- Vấn đề giao thông đi lại của các loại xe cộ, thuyền bè và quy định những loại xe được phép và không được phép đi lại trên công trình;

- Việc trồng cây, cỏ, sản xuất, trồng trọt, chăn dắt trâu, bò;

- Trách nhiệm, quyền hạn các ngành, các cấp;

- Khen thưởng, kỷ luật.

3. Để đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh điều lệ đã ban hành, biện pháp đầu tiên là phải tổ chức học tập, phổ biến sâu rộng trong cán bộ và nhân dân.

Ủy ban hành chính các tỉnh, thành có đê, các cơ quan, đơn vị và các ngành có liên quan cần có kế hoạch học tập cụ thể: học tập trong cán bộ từ tỉnh xuống huyện, xã, hợp tác xã, nghiên cứu thảo luận trong các ngành có liên quan như nông nghiệp, nông trường, công nghiệp, công an, giao thông, kiến trúc, v.v... học tập, thảo luận riêng đối với cán bộ, nhân viên ngành thủy lợi. Sau đó sẽ tổ chức học tập, phổ biến rộng rãi trong nhân dân thành thị, nông thôn, xã, hợp tác xã. Thông tư này chỉ giải thích và nói rõ những phần mà điều lệ nói quá cô đọng. Những phần mà điều lệ nói đã đầy đủ thì thông tư không nhắc lại, nên khi học tập và thực hiện cần nghiên cứu cả hai (điều lệ và thông tư).

Xem nội dung VB
ĐIỀU LỆ BẢO VỆ ĐÊ ĐIỀU
...
Điều 12. Ủy ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi tình hình đê điều ở địa phương mình và giáo dục, động viên nhân dân chấp hành điều lệ bảo vệ đê điều, tích cực giúp đỡ các cơ quan quản lý đê điều.

Đối với những quãng đê xung yếu, ủy ban hành chính các cấp từ huyện trở lên có nhiệm vụ; căn cứ vào điều lệ này và sự hướng dẫn của bộ Thủy lợi và ủy ban hành chính cấp trên, đề ra những biện pháp bảo vệ thích đáng, và đảm bảo việc thực hiện những biện pháp ấy.
Điều này được hướng dẫn bởi Chương 2 Thông tư 28-TL-ĐĐ-1964 có hiệu lực từ ngày 14/10/1964