HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
|
Số:
121/2009/NQ-HĐND
|
Hải
Dương, ngày 09 tháng 7 năm 2009
|
NGHỊ QUYẾT
VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
6 THÁNG ĐẦU NĂM, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP BỔ SUNG TRONG THỜI GIAN TỚI; ĐIỀU CHỈNH MỘT
SỐ CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH NĂM 2009.
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
KHOÁ XIV, KỲ HỌP THỨ 15
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;
Căn cứ Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ngày 02/4/2005;
Sau khi xem xét báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và một số nhiệm vụ, giải pháp bổ
sung trong thời gian tới, báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh
và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1.
Tán thành với báo cáo đánh giá về tình hình thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và một số nhiệm vụ, giải pháp bổ
sung trong thời gian tới, đồng thời nhấn mạnh một số nội dung sau:
A. KẾT QUẢ THỰC
HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009
I. Kế hoạch năm 2009 được triển
khai thực hiện trong bối cảnh kinh tế thế giới bước vào giai đoạn khủng hoảng
sâu rộng, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phát triển KT -
XH của tỉnh. Sáu tháng đầu năm 2009, kinh tế tỉnh ta tiếp tục tăng trưởng,
nhưng thấp hơn so với cùng kỳ và mục tiêu đề ra. Đời sống nhân dân cơ bản ổn định,
trật tự An toàn xã hội, quân sự địa phương được củng cố, tăng cường.
Một số chỉ tiêu chủ yếu đạt được
so với 6 tháng đầu năm 2008 như sau:
1. Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh
tăng 2,8%.
2. Giá trị sản xuất Nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản giảm 7,1%.
3. Giá trị sản xuất công nghiệp
- xây dựng giảm 3,3%, trong đó GTSX công nghiệp giảm 4,4%.
4. Giá trị sản xuất các ngành dịch
vụ tăng 9,8%.
5. Giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt
272 triệu 95 ngàn USD, tăng 11,7%.
6. Tổng thu NSNN trên địa bàn đạt
1.630 tỷ 943 triệu đồng, bằng 45,7% dự toán năm, giảm 14,4%, trong đó thu nội địa
1.437 tỷ 350 triệu đồng, bằng 46,8% dự toán năm, giảm 10,8%; thu thuế XNK 193 tỷ
593 triệu đồng, bằng 38,7% dự toán năm, giảm 26,7%.
7. Tạo thêm việc làm cho trên
7.300 lao động (trong đó xuất khẩu 400 lao động).
II. Bên cạnh những kết quả đạt
được, còn một số hạn chế, yếu kém, đó là:
1. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế
đều đạt thấp so với mục tiêu đề ra. Chưa tạo được sự liên kết bền vững giữa sản
xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. TTCN và làng nghề phát triển
chậm, phân tán. Năng lực sản xuất công nghiệp còn thấp, còn phụ thuộc nhiều vào
khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số sản phẩm như: xi măng,
điện, ô tô...
2. Tiến độ đầu tư của nhiều dự
án, kể cả các dự án trọng điểm còn chậm.
3. Một số vấn đề xã hội tuy đã
được tích cực giải quyết nhưng kết quả đạt được chưa vững chắc, như: ô nhiễm
môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, khai
thác cát trái phép…
4. Quản lý nhà nước trong một số
lĩnh vực còn hạn chế, lỏng lẻo; xử lý sai phạm ở một số lĩnh vực chưa nghiêm.
Công tác chỉ đạo điều hành của chính quyền có lúc, có nơi còn thiếu chủ động.
5. Cải cách hành chính còn chậm,
chưa thực sự hiệu quả, trong một số lĩnh vực thủ tục còn chồng chéo.
B. MỘT SỐ NHIỆM
VỤ, GIẢI PHÁP BỔ SUNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu
quả các giải pháp của Chính phủ nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ngăn ngừa lạm
phát, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội, trong đó nhấn
mạnh một số nhóm giải pháp trọng tâm sau:
1. Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh và xuất khẩu
- Chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch
sản xuất lúa và rau màu vụ mùa. Đảm bảo tiến độ thực hiện các đề án, dự án
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao chất lượng quản lý giống và vật
tư nông nghiệp. Chủ động phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt công tác PCLB,
úng.
- Tạo mọi điều kiện để các dự án
sản xuất công nghiệp lớn trên địa bàn đi vào hoạt động. Triển khai nhanh các dự
án mới như: Nhiệt điện, thép, xi măng, các trạm điện, dự án điện nông
thôn...Hoàn chỉnh Đề án “Phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương giai đoạn
2010 – 2015 và định hướng đến năm 2020“.
- Tiếp tục thực hiện tốt công
tác quản lý thị trường. Hoàn thành và triển khai thực hiện quy hoạch hệ thống
bán buôn, bán lẻ trên địa bàn tỉnh. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở
rộng thị trường xuất khẩu, khai thác tốt thị trường nội địa.
2. Thực hiện có hiệu quả các biện
pháp kích cầu đầu tư
- Kiểm tra, xử lý kiên quyết đối
với các dự án thuê đất chậm triển khai thực hiện theo quy định. Tạo bước chuyển
biến rõ rệt trong công tác giải phóng mặt bằng cho các dự án.
Đối với các dự án sử dụng vốn
ngân sách: đảm bảo 100% dự án được khởi công xây dựng trước tháng 9/2009. Không
thực hiện việc chuyển nguồn vốn đối với các dự án chậm triển khai theo đúng
trình tự đầu tư XDCB hiện hành. Thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế nợ XDCB
kéo dài.
- Tích cực khai thác nguồn thu từ
đất để tăng cho chi đầu tư phát triển. Không cấp lại khoản thu từ đất thuộc
ngân sách cấp tỉnh cho các địa phương theo quy định tại Nghị quyết số
104/2008/NQ-HĐND ngày 11/12/2008 của HĐND tỉnh về giải pháp điều hành kế hoạch
vốn đầu tư phát triển năm 2009.
- Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh việc
giải ngân vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư cho các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực
giáo dục: Giao cho Thường trực HĐND tỉnh thống nhất với UBND tỉnh cơ cấu lại
nguồn vốn đầu tư cho từng dự án cụ thể trong từng thời kỳ. Thực hiện rà soát lại
quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, xác định rõ định hướng thu hút vốn đầu tư
trong nước và nước ngoài.
3. Thực hiện tốt các chính sách
tài chính, tiền tệ
- Thực hiện nghiêm Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ về việc giảm, giãn nộp thuế cho các đối tượng theo quy định.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách. Chủ động cân
đối nguồn đảm bảo nhu cầu chi ngân sách trong dự toán và thực hiện các chính
sách mới của Trung ương, của tỉnh.
- Rà soát, sắp xếp lại các khoản
chi tiêu trong dự toán của các sở, ngành, UBND các cấp. Hạn chế tối đa các khoản
chi hội nghị, hội thảo, lễ hội,...Thực hiện tiết kiệm tối đa trong việc sử dụng
điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu; ngừng các khoản chi cho các
nhiệm vụ chưa thực sự cấp bách. Hạn chế tối đa các khoản phát sinh ngoài dự
toán.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát
việc thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Thường xuyên theo dõi
sát diễn biến thị trường, có các biện pháp thực hiện linh hoạt, hiệu quả để đảm
bảo tính thanh khoản của thị trường tiền tệ, đồng thời kiểm soát rủi ro phát
sinh trong hoạt động của hệ thống tín dụng.
4. Đổi mới cơ chế quản lý đối với
các đơn vị sự nghiệp công lập.
Thực hiện đổi mới cơ chế quản
lý, cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh
theo tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ theo hướng
tạo thế chủ động cho các đơn vị, giảm dần bao cấp của ngân sách nhà nước. Cụ thể:
- Giữ nguyên các đơn vị sự nghiệp
đã tự đảm bảo được kinh phí hoạt động; Năm 2010 thực hiện chuyển ít nhất 6 đơn
vị sự nghiệp của tỉnh sang tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động.
- Thẩm định kết quả hoạt động
tài chính, thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian
giao ổn định 2007, 2008, 2009, để xây dựng lộ trình và thực hiện chuyển các đơn
vị có đủ điều kiện sang loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ hoặc đảm
bảo một phần kinh phí hoạt động. Từ nay trở đi khi thành lập mới các đơn vị sự
nghiệp phải căn cứ vào nhiệm vụ, tính chất công việc xác định rõ thời hạn ngân
sách hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động sau đó đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt
động. Những đơn vị đã tự trang trải chi phí hoạt động được tự chủ về biên chế.
- Khuyến khích các đơn vị sự
nghiệp có thu, đủ điều kiện chuyển sang loại hình doanh nghiệp, hoạt động theo
Luật doanh nghiệp .
5. Phát triển sự nghiệp văn hoá,
giáo dục, y tế, TDTT
- Duy trì tốt công tác chăm sóc
sức khoẻ nhân dân, tăng cường hoạt động quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, chủ
động ngăn ngừa các dịch bệnh thường xảy ra trong mùa hè.
- Đổi mới cơ chế tài chính trong
hệ thống giáo dục. Xây dựng phương án để từ 2011 thực hiện phân bổ ngân sách
giáo dục theo tiêu chí dân số trong độ tuổi đi học và số học sinh của từng địa
phương. Các cơ sở giáo dục thực hiện phân phối theo lao động. Triển khai thí điểm
trường Trung học cơ sở liên xã. Xây dựng lộ trình chuyển đổi các loại hình trường
theo Luật Giáo dục. Đẩy nhanh tiến độ kiên cố hoá trường lớp học, đồng bộ với
xây dựng trường chuẩn quốc gia và quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục.
- Nâng mức hỗ trợ xây dựng nhà
văn hoá thôn, khu dân cư lên 100 triệu đồng/nhà đối với những công trình khởi
công từ 1/7/2009; giữ nguyên mức hỗ trợ 50 triệu đồng/nhà đối với những nhà văn
hoá đã xây dựng trước ngày 01/7/2009 ( trừ những nhà văn hoá đã được hỗ trợ) để
xây dựng, nâng cấp hoặc mua sắm trang thiết bị. Phấn đấu đến hết năm 2010 cơ bản
xây dựng xong nhà văn hoá thôn, khu dân cư trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao chất lượng phong trào
"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở”. Duy trì tốt phong
trào TDTT quần chúng. Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức tốt các giải thể thao
do tỉnh đăng cai.
6. Đẩy mạnh thực hiện các giải
pháp đảm bảo an sinh xã hội
- Tiếp tục thực hiện tốt các
chính sách đảm bảo an sinh xã hội của Chính phủ. Ngoài việc thực hiện các chính
sách đã bố trí trong dự toán đầu năm, bổ sung thêm kinh phí thực hiện các chính
sách an sinh xã hội mới như: đào tạo nghề cho người lao động mất việc, hỗ trợ
vay tín dụng nhà ở hộ nghèo, bổ sung quỹ giải quyết việc làm, hỗ trợ lãi suất
vay vốn mua máy nông cụ...
- Tập trung giải quyết các vướng
mắc để sớm triển khai dự án khu thương mại, chuyển nghề tại xã Lai Vu (Kim
Thành).
- Đẩy nhanh việc xây dựng Đề án
thu hút đầu tư xây dựng nhà chung cư cho công nhân trong các khu công nghiệp và
Đề án xây dựng nhà ở cho người nghèo, nhà ở sinh viên trình Ủy ban nhân dân tỉnh
phê duyệt trong năm 2009.
- Thực hiện tốt hơn Chương trình
đẩy mạnh giảm nghèo, giải quyết việc làm; đề án dạy nghề cho nông dân; hỗ trợ
tái định cư, hỗ trợ sản xuất cho các hộ dân phải thu hồi đất cho phát triển
công nghiệp, đô thị.
7. Thực hiện tốt công tác thanh
tra, tư pháp, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự ATXH, củng cố quân sự địa
phương
- Làm tốt công tác tiếp dân, giải
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Tập trung xử lý các điểm khiếu kiện phức tạp
(chợ Cuối – Gia Lộc, Lương Điền, Cẩm Điền - Cẩm Giàng, Kim Lương – Kim Thành).
- Tăng cường trợ giúp pháp lý
cho nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi hành
án dân sự.
- Tiếp tục mở các đợt cao điểm tấn
công, trấn áp các loại tội phạm nhất là loại tội phạm có tổ chức, bằng mọi biện
pháp kiên quyết đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tệ nạn về ma tuý; giảm tai nạn giao
thông.
Thực hiện tốt quy chế phối hợp
giữa công an và quân đội trong công tác đảm bảo an ninh trật tự. Hoàn thành kế
hoạch huấn luyện, diễn tập quân sự năm 2009. Tổ chức giao quân đợt 2/2009 đảm bảo
đủ chỉ tiêu trên giao.
8. Nâng cao hiệu quả công tác
lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện
- Tạo bước chuyển biến rõ nét
trong cải cách hành chính. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
của các cơ quan hành chính của tỉnh. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra thực
hiện.
- Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng
kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 theo chỉ đạo của
Chính phủ. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Điều 2.
1. Nhất
trí điều chỉnh một số chỉ tiêu kế hoạch cả năm 2009 như sau:
- Giảm chỉ tiêu tăng trưởng GDP
từ 10,5% xuống còn 5,0% trở lên.
- Giảm chỉ tiêu tăng trưởng GTSX
công nghiệp từ 14,7% xuống còn 3,5% trở lên (giá trị sản xuất công nghiệp, xây
dựng cả năm tăng 4,5%).
- Điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng
GTSX nông, lâm nghiệp, thuỷ sản từ 3,5% thành - ( âm) 2% đến – ( âm) 2,3%.
- Giảm chỉ tiêu tăng trưởng GTSX
các ngành dịch vụ từ 13,5% xuống còn 11% – 11,5%.
- Điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng
giá trị XK từ 20% thành - (âm) 10% (550 triệu USD).
- Giảm chỉ tiêu tạo việc làm mới
cho 3,4 vạn lao động xuống còn 1,9 vạn lao động (trong đó xuất khẩu 1.000 lao động).
2. Nhất trí điều chỉnh một số loại
phí do Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã thống nhất với Uỷ ban nhân dân tỉnh
ban hành trong 6 tháng đầu năm 2009.
Điều 3.
Giao Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện
Nghị quyết.
Những vấn đề phát sinh giữa hai
kỳ họp thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh, giao Thường trực Hội đồng
nhân dân tỉnh thống nhất với Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết và báo cáo với Hội
đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp gần nhất.
Điều 4.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng
nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết
này.
Nghị quyết này được Hội đồng
Nhân dân tỉnh Hải Dương khoá XIV, kỳ họp thứ 15 thông qua.