Luật Đất đai 2024

Nghị định 56-CP năm 1996 về doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích

Số hiệu 56-CP
Cơ quan ban hành Chính phủ
Ngày ban hành 02/10/1996
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Doanh nghiệp
Loại văn bản Nghị định
Người ký Võ Văn Kiệt
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 56-CP

Hà nội, ngày 02 tháng 10 năm 1996

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 56-CP NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 1996 VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 20 tháng 4 năm 1995;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1.- Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.

Điều 2.- Các DNNN hoạt động công ích nói tại Điều 1 của Nghị định này bao gồm:

1- Các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh và các doanh nghiệp tại các địa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng.

2. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng khác có ít nhất 70% doanh thu từ các hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:

a) Giao thông, công chính đô thị;

b) Quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thuỷ, sân bay, điều hành bay, bảo đảm hàng hải, dẫn dắt tàu ra vào cảng biển; kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ; kiểm tra, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện.

c) Khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi;

d) Sản xuất giống gốc cây trồng, vật nuôi;

đ) Xuất bản và phát hành sách giáo khoa, sách báo chính trị. Sản xuất và phát hành phim thời sự, tài liệu, phim cho thiếu nhi. Sản xuất và cung ứng muối ăn, chiếu bóng phục vụ vùng cao, biên giới, hải đảo. Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ khác theo chính sách xã hội của Nhà nước.

Điều 3.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào các tiêu thức quy định tại Điều 1 và Điều 2 của Nghị định này để quyết định cho từng doanh nghiệp trong số các DNNN đang hoạt động thuộc ngành, địa phương mình là doanh nghiệp hoạt động công ích.

Điều 4.- Thủ trưởng cơ quan quyết định doanh nghiệp công ích giao chỉ tiêu kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích đó.

Doanh nghiệp hoạt động công ích có trách nhiệm sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công cộng theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng của Nhà nước.

Điều 5.-

1- DNNN hoạt động công ích mới thành lập được Nhà nước ưu tiên đầu tư đủ vốn ban đầu tương đương với nhiệm vụ công ích được giao.

2- Việc đầu tư vốn bổ sung cho DNNN đang hoạt động tương ứng với nhiệm vụ công ích Nhà nước giao được quy định như sau:

a) Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích có lãi, được xét giảm thuế lợi tức để bổ sung vào vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

b) Trường hợp doanh nghiệp hoạt động công ích không có nguồn để tự bổ sung, thì được Nhà nước đầu tư bổ sung vốn.

Điều 6.- Ngoài các hoạt động tạm thời chưa thu thuế doanh thu quy định tại Luật thuế doanh thu và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế doanh thu, các hoạt động công ích khác nếu không bù đắp được chi phí sản xuất hoặc chi phí cung ứng dịch vụ thì được xem xét miễn, giảm thuế doanh thu.

Điều 7- DNNN hoạt động công ích phải tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ theo giá, khung giá hoặc thu phí theo quy định của Nhà nước. Doanh nghiệp được sử dụng các khoản thu nhập này để bù đắp các khoản chi phí theo nguyên tắc sau:

1. Trường hợp các khoản thu không đủ trang trải các khoản chi phí hợp lý thì được Nhà nước hỗ trợ đủ phần chênh lệch và bảo đảm lợi ích vật chất thoả đáng cho người lao động.

2. Trường hợp các khoản thu lớn hơn chi phí thì được xử lý như sau:

a) Các khoản thu được cần phải có chi phí sản xuất hoặc dịch vụ, thì phần thu sau khi trừ các khoản chi phí hợp lý là lợi nhuận của doanh nghiệp và được phân phối theo quy định hiện hành;

b) Các khoản thu theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, mà không cần phải có chi phí sản xuất hoặc dịch vụ, thì phần còn lại sau khi trừ các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khác theo quy định hiện hành và bảo đảm lợi ích vật chất thoả đáng cho người lao động phải được nộp vào ngân sách Nhà nước.

3. Bộ Tài chính có nhiệm vụ quy định cụ thể việc bảo đảm lợi ích vật chất thoả đáng cho người lao động trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ quốc phòng an ninh hoặc sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước.

Điều 8.- Việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp công ích phải được thủ trưởng cơ quan ký Quyết định thành lập doanh nghiệp công ích đó quyết định, sau khi có ý kiến thoả thuận bằng văn bản của cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp.

Điều 9.- Khi có nhu cầu đầu tư ra ngoài doanh nghiệp hoặc huy động vốn theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp hoạt động công ích phải lập phương án cụ thể gửi cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp tham gia ý kiến trước khi trình thủ trưởng cơ quan ký Quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định.

Điều 10.- Doanh nghiệp hoạt động công ích có quyền tổ chức hoạt động kinh doanh thêm phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường với điều kiện:

1. Phải được cơ quan quản lý trực tiếp đồng ý bằng văn bản.

2. Không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ hoạt động công ích Nhà nước đã giao hoặc đặt hàng.

3. Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành.

4. Hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh.

5. Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với phần hoạt động kinh doanh thêm theo quy định của pháp luật.

Điều 11.- Thủ tục, trình tự thành lập, tổ chức lại, giải thể DNNN hoạt động công ích theo quy định tại Nghị định số 50/CP ngày 28 tháng 8 năm 1996 của Chính phủ về thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp Nhà nước. Khi giải thể một doanh nghiệp hoạt động công ích, thủ trưởng cơ quan ký Quyết định giải thể có thể đề nghị thành lập doanh nghiệp hoạt động công ích mới hoặc chuyển nhiệm vụ công ích của doanh nghiệp bị giải thể sang cho một doanh nghiệp Nhà nước khác thực hiện.

Điều 12.- Việc giải quyết phá sản DNNN hoạt động công ích trong một số lĩnh vực đặc biệt quan trọng thực hiện theo quy định tại Mục III Nghị định số 189/CP ngày 23 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng.

Điều 13.- Ngoài những quy định riêng cho DNNN hoạt động công ích tại Luật doanh nghiệp nhà nước và Nghị định này, DNNN hoạt động công ích còn thực hiện các quy định khác của pháp luật đối với DNNN.

Điều 14.- Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, nếu có hoạt động công ích do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, thì được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước tương ứng với phần hàng hoá hoặc dịch vụ phục vụ công ích quy định tại Tiết đ, Khoản 1 Điều 8 Luật Doanh nghiệp nhà nước và các quy định khác của pháp luật.

Điều 15.- Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước khác có liên quan có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Nghị định này.

Điều 16.- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

53
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị định 56-CP năm 1996 về doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích
Tải văn bản gốc Nghị định 56-CP năm 1996 về doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích

THE GOVERNMENT
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
------------

No. 56-CP

Hanoi ,October 02, 1996

 

DECREE

ON THE STATE PUBLIC-UTILITY ENTERPRISES

THE GOVERNMENT

Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to the Law on State Enterprises of April 20, 1995;
At the proposals of the Minister of Planning and Investment and the Minister of Finance,

DECREES:

Article 1.- The State public-utility enterprises are independent State enterprises or independent cost-accounting members of the State corporations directly performing national defense and security tasks or producing goods or providing public services according to State policies, State plans or orders within the price levels, price brackets or charges set by the State, and operating not mainly for profit.

Article 2.- The State enterprises defined in Article 1 of this Decree shall include:

1. Enterprises engaged in the manufacture and/or repair of weapons, equipment, facilities for special use in the national defense and security and enterprises which are located in important strategic areas and combine economic activities with the performance of national defense tasks in their operations.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a) Urban communication and public-utility works;

b) Management, exploitation, renovation and maintenance of the infrastructure system: the national system of railways, land roads, waterways, airports, flight control, maritime insurance and navigation control, piloting and/or towing ships into or out of sea ports; technical test of land road and waterway communication means; supervision, control and distribution of radio frequencies.

c) Exploitation and protection of irrigation works;

d) Production of original breeds of plants and animals;

e) Publication and distribution of text books, political publications; production and distribution of newsreels, documentary films, films for children; production and supply of kitchen salt, projection of films in service of the population of highland and border areas and islands; production and the provision of other services under State social policies.

Article 3.- The Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the Peoples Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall base themselves on the criteria defined in Articles 1 and 2 of this Decree to decide which among the enterprises currently operating in their respective branches or localities are public-utility enterprises.

Article 4.- The heads of the agencies which identify the public-utility enterprises shall assign annual plans or hand production orders to them.

The public-utility enterprises have the responsibility to produce goods and/or provide public services according to plans or production orders of the State.

Article 5.-

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. The supplementary allocation of capital to the enterprises currently in operation, corresponding to their public-utility tasks assigned by the State is defined as follows:

a) The public utility enterprises having profit shall be considered for profit tax reduction to supplement the capital of the enterprises in accordance with provisions of law.

b) A public-utility enterprise without source for self-accrument shall be allocated supplementary capital by the State.

Article 6.- In addition to the activities which are temporarily not subject to turnover tax as provided for in the Law on Turnover Tax and the Law on the Amendment and Supplement to a Number of Articles of the Law on Turnover Tax, other public-utility activities which cannot fully cover the cost of production or service supply shall be considered for turnover tax exemption or reduction.

Article 7.- The public-utility enterprises must sell their products or supply their services at the prices, within the price brackets or charges set by the State. They can use such revenues to make up for their expenses on the following principles:

1. If the revenue cannot fully cover the reasonable expenses, the State shall subsidize the difference and ensure the reasonable material interests for the laborers.

2. If the revenue is larger than the reasonable expenses, it shall be handled as follows:

a) If the revenue involves the cost of production or service, the earning after deduction of the reasonable expenses shall be the profit of the enterprise and shall be distributed in accordance with the current regulations;

b) If the revenue is collected according to the prices, price brackets or charges set by the State and does not involve production or service cost, the remainder after deduction of the managerial expenses, and other expenses according to current regulations and ensuring the reasonable material interests for the laborers shall be remitted to the State budget.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 8.- The transfer, lease, mortgage and pledge of assets under the management of the public-utility enterprises must be decided by the heads of the agencies signing the decisions on the establishment of such enterprise upon receiving the written consent of the agency managing State capital and assets in the enterprise.

Article 9.- The public-utility enterprises wishing to invest outside the enterprise or mobilize capital in accordance with provisions of law shall have to draw up a specific plan and submit it to the agency managing State capital and assets in the enterprise for its comments before submitting such plan to the head of the agency which has signed the decision on the establishment of the enterprise, for decision.

Article 10.- The public-utility enterprises shall be entitled to conduct extra business activities in conformity with their capabilities and the demand of the market, on the following conditions:

1. Having a written consent from the direct managing agency;

2. Not affecting the performance of the public-utility tasks or production orders assigned by the State;

3. Making supplementary registration of business lines in accordance with current regulations;

4. Conducting separate cost accounting for its business activities;

5. Fulfilling the obligation of tax payment for the extra business in accordance with provisions of law.

Article 11.- The procedures and order for the establishment, reorganization and dissolution of State public-utility enterprises shall be carried out in accordance with the provisions of Decree 50-CP of August 28, 1996 of the Government on the establishment, reorganization, dissolution and bankruptcy of State enterprises. When a State public-utility enterprise is dissolved, the head of the agency signing the decision on the dissolution may request the establishment of a new public-utility enterprise or transfer of the public-utility tasks of the dissolved enterprise to another State enterprise.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 13.- Besides the specific provisions of the Law on State Enterprises and this Decree, the State public utility enterprises shall have to observe other provisions of the Law on State enterprises.

Article 14.- The State business enterprises, when conducting public-utility activities assigned by the competent State agency, the State business enterprises shall be entitled to the regimes of allowances, price subsidies or other State preferential regimes corresponding to the volume of public-utility products or services as stipulated in Point e, Clause 1, Article 8 of the Law on State Enterprises and other provisions of law.

Article 15.- This Decree takes effect from the date of its signing. The previous provisions which are contrary to this Decree are now annulled. The Ministry of Planning and Investment, the Ministry of Finance and other concerned State agencies shall have to guide the implementation of this Decree.

Article 16.- The Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the Peoples Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to implement this Decree.

 

 

ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
THE PRIME MINISTER




Vo Van Kiet

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị định 56-CP năm 1996 về doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích
Số hiệu: 56-CP
Loại văn bản: Nghị định
Lĩnh vực, ngành: Doanh nghiệp
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 02/10/1996
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Thi hành Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động công ích; sau khi trao đổi với Ban chỉ đạo Trung ương Đổi mới doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cụ thể việc xác định DNNN hoạt động công ích và việc Nhà nước giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích như sau:

I. XÁC ĐỊNH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.

Các DNNN hoạt động công ích nêu trên bao gồm:

1. Các DNNN trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh:

- Các DNNN sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh đã được quyết định thành lập lại và thành lập mới theo Nghị định 388/HĐBT và đã được phê duyệt trong phương án tổng thể tổ chức, sắp xếp lại DNNN theo chỉ thị số 500/TTg ngày 25 tháng 8 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ mà công nghệ và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp là sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh.

- Các DNNN được thành lập để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh: trực tiếp xuất, nhập khẩu vũ khí, khí tài, vật tư, trang thiết bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; rà phá bom, mìn; xây dựng công trình đặc biệt; in, xuất bản và phát hành sách báo, tài liệu chuyên về quốc phòng, an ninh; các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ đặc biệt, duy trì tiềm lực quốc phòng.

- Các DNNN được thành lập tại các địa bàn chiến lược quan trọng như vùng biên giới, hải đảo, Tây nguyên để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu Nhà nước giao là bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị, xã hội trên địa bàn kết hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành nghề phù hợp với quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 2.- Các DNNN hoạt động công ích nói tại Điều 1 của Nghị định này bao gồm:

1- Các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh và các doanh nghiệp tại các địa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Thi hành Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động công ích; sau khi trao đổi với Ban chỉ đạo Trung ương Đổi mới doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cụ thể việc xác định DNNN hoạt động công ích và việc Nhà nước giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích như sau:
...
I. XÁC ĐỊNH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.

Các DNNN hoạt động công ích nêu trên bao gồm:
...
2. Các DNNN sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng có ít nhất 70% doanh thu do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ trong các lĩnh vực sau đây:

- Giao thông, công chứng đô thị: vận tải hành khách công cộng, dịch vụ vệ sinh môi trường và bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý công viên, cây xanh, vườn thú, bảo đảm chiếu sáng, cấp, thoát nước, dịch vụ tang lễ... tại các đô thị.

- Quản lý, khai thác, duy tu bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng: đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thuỷ, bến cảng, bảo đảm hàng hải, dẫn dắt tầu ra vào cảng biển, sân bay, điều hành bay.

- Kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ.

- Kiểm tra, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện.

- Khai thác, bảo vệ các công trình thuỷ lợi.

- Sản xuất giống cây trồng, vật nuôi: giống cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp, giống cây rừng, giống gia súc, gia cầm, giống thuỷ, hải sản, bao gồm cả sản xuất tinh và truyền tinh nhân tạo cho gia súc.

- Sản xuất và phát hành sách giáo khoa, sách báo chính trị.

- Sản xuất và phát hành phim thời sự, tài liệu, khoa học, phim truyền hình, phim cho thiếu nhi.

- Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ theo chính sách xã hội của Nhà nước: sản xuất và cung ứng muối ăn, chiếu bóng, cung ứng các hàng hoá dịch vụ khác theo quy định của Chính phủ phục vụ miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo; sản xuất, cung ứng thuốc phòng chống dịch cho người, cây trồng và vật nuôi; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ cho người tàn tật.

Doanh thu do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng được tính trên cơ sở doanh thu thực tế của doanh nghiệp trong hai năm gần nhất.

Xem nội dung VB
Điều 2.- Các DNNN hoạt động công ích nói tại Điều 1 của Nghị định này bao gồm:
...
2. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng khác có ít nhất 70% doanh thu từ các hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:

a) Giao thông, công chính đô thị;

b) Quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thuỷ, sân bay, điều hành bay, bảo đảm hàng hải, dẫn dắt tàu ra vào cảng biển; kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ; kiểm tra, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện.

c) Khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi;

d) Sản xuất giống gốc cây trồng, vật nuôi;

đ) Xuất bản và phát hành sách giáo khoa, sách báo chính trị. Sản xuất và phát hành phim thời sự, tài liệu, phim cho thiếu nhi. Sản xuất và cung ứng muối ăn, chiếu bóng phục vụ vùng cao, biên giới, hải đảo. Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ khác theo chính sách xã hội của Nhà nước.
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Thi hành Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động công ích; sau khi trao đổi với Ban chỉ đạo Trung ương Đổi mới doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cụ thể việc xác định DNNN hoạt động công ích và việc Nhà nước giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích như sau:
...
II. QUYẾT ĐỊNH DNNN HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

1. Đối với các DNNN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong phương án tổng thể tổ chức, sắp xếp lại DNNN theo Chỉ thị số 500/TTg ngày 25 tháng 8 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ:

Căn cứ vào các tiêu thức quy định tại Điều 1 và Điều 2 của Nghị định số 56/CP và hướng dẫn thực hiện tại Thông tư này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét và quyết định cho từng doanh nghiệp trong số các DNNN đang hoạt động thuộc ngành, địa phương mình là doanh nghiệp hoạt động công ích.

Đối với các DNNN quy định lại điểm 2, mục I của Thông tư này đã được quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích, nếu sau hai năm liên tiếp, doanh thu của doanh nghiệp do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng không đạt 70% doanh thu, thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp xem xét, phân định lại không quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích.

Trường hợp DNNN hoạt động trong các lĩnh vực quy định tại điểm 2, mục I của Thông tư này chưa được quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích, nếu đạt được 70% doanh thu do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng trong hai năm liên tiếp thì sẽ được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp xem xét để quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích

Cơ quan quyết định doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích gửi danh sách các DN hoạt động công ích thuộc ngành, địa phương mình đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

2. Thành lập mới DNNN hoạt động công ích:

Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ hoạt động công ích và năng lực của các DNNN hoạt động công ích hiện có trong ngành, lĩnh vực và trên địa bàn, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thành phố, thị xã, Hội đồng quản trị của Tổng công ty nhà nước đề nghị thành lập mới DNNN hoạt động công ích thuộc ngành, địa phương hoặc Tổng công ty mình.

Trình tự, thủ tục thành lập DNNN hoạt động công ích thực hiện theo quy định tại Nghị định số 50/CP ngày 28 tháng 8 năm 1996 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 3.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào các tiêu thức quy định tại Điều 1 và Điều 2 của Nghị định này để quyết định cho từng doanh nghiệp trong số các DNNN đang hoạt động thuộc ngành, địa phương mình là doanh nghiệp hoạt động công ích.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)
Thi hành Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động công ích; sau khi trao đổi với Ban chỉ đạo Trung ương Đổi mới doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cụ thể việc xác định DNNN hoạt động công ích và việc Nhà nước giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích như sau:
...
III. GIAO KẾ HOẠCH HOẶC ĐẶT HÀNG CHO DNNN HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

1. Các chỉ tiêu giao kế hoạch hoặc đặt hàng:

- Các DNNN hoạt động công ích căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động đã được xác định trong quyết định thành lập doanh nghiệp để xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể về hoạt động công ích và các hoạt động khác (nếu có) gửi cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp.

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích thuộc ngành, địa phương mình gồm các chỉ tiêu sau đây:

+ Số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng.

+ Thời gian và địa chỉ giao nhận sản phẩm, dịch vụ công cộng.

+ Đơn giá thanh toán sản phẩm, dịch vụ công cộng.

+ Đơn giá trợ cấp, trợ giá cho từng sản phẩm, dịch vụ công cộng do cấp có thẩm quyền quyết định.

+ Dự toán thu, chi ngân sách (trong phạm vi dự toán ngân sách hằng năm của Bộ, địa phương được duyệt).

- Hằng năm, cơ quan giao kế hoạch hoặc đặt hàng tổ chức nghiệm thu số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ công cộng hoàn thành được Nhà nước thanh toán cho DNNN hoạt động công ích.

2. Giao kế hoạch hoặc đặt hàng đối với DNNN hoạt động công ích trong một số lĩnh vực:

a- Đối với các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, Bộ trưởng Quốc phòng, Nội vụ giao chỉ tiêu số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ bảo đảm cho quốc phòng, an ninh.

b- Riêng đối với các doanh nghiệp tại địa bàn chiến lược, đây là DNNN hoạt động công ích đặc thù. Để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra, Nhà nước giao chỉ tiêu số lượng và chất lượng lao động có mặt thường xuyên tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu. Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao về lao động, doanh nghiệp lập kế hoạch sử dụng có hiệu quả số lượng và chất lượng lao động để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ phục vụ nền kinh tế quốc dân, bảo đảm đời sống cho người lao động.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động công ích nói tại điểm a và b trên đây, được hưởng các chế độ ưu đãi cho DNNN hoạt động công ích theo quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

c- Đối với các DNNN hoạt động công ích khác, Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng về số sản phẩm, dịch vụ công cộng chiếm từ 70% doanh thu của doanh nghiệp trở lên. Trường hợp sản phẩm, dịch vụ Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng không đảm bảo đủ 70% thì doanh nghiệp vẫn được hưởng chế độ ưu đãi tương ứng với số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp thanh toán với Nhà nước.

Ngoài nhiệm vụ thực hiện chỉ tiêu Nhà nước giao hoặc đặt hàng, doanh nghiệp có thể sản xuất, kinh doanh các sản phẩm dịch vụ khác để tận dụng năng lực sản xuất nhưng phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản.

- Không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công ích Nhà nước giao hoặc đặt hàng.

- Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành.

- Hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh.

- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với phần hoạt động kinh doanh thêm, theo quy định của pháp luật.

d- Đối với các DNNN hoạt động kinh doanh, nếu được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng giám đốc Tổng công ty, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng sản xuất các sản phẩm, dịch vụ công ích thì cũng được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước tương ứng với phần sản phẩm hoặc dịch vụ công ích đó.

Xem nội dung VB
Điều 4.- Thủ trưởng cơ quan quyết định doanh nghiệp công ích giao chỉ tiêu kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích đó.

Doanh nghiệp hoạt động công ích có trách nhiệm sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công cộng theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng của Nhà nước.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 1-BKH/DN-1997 có hiệu lực từ ngày 29/01/1997 (VB hết hiệu lực: 04/04/2015)