Luật Đất đai 2024

Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài do Quốc hội ban hành

Số hiệu 29/2026/QH16
Cơ quan ban hành Quốc hội
Ngày ban hành 24/04/2026
Ngày công báo Đã biết
Lĩnh vực Bất động sản,Bộ máy hành chính
Loại văn bản Nghị quyết
Người ký Trần Thanh Mẫn
Ngày có hiệu lực Đã biết
Số công báo Đã biết
Tình trạng Đã biết

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Nghị quyết số: 29/2026/QH16

Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2026

 

NGHỊ QUYẾT

CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ ĐỂ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN XẢY RA TRƯỚC KHI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024 CÓ HIỆU LỰC VÀ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHO CÁC DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, KÉO DÀI

QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 87/2025/QH15;

QUYẾT NGHỊ:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù về:

1. Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh và không tham nhũng xảy ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024;

2. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh và không tham nhũng quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết này.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này.

Điều 3. Nguyên tắc thực hiện

1. Nguyên tắc chung:

a) Bảo đảm đúng thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý theo quy định tại Nghị quyết này, phù hợp các nguyên tắc của pháp luật hiện hành, không trái với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm;

c) Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

2. Việc áp dụng các quy định tại Chương II của Nghị quyết này bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 1 Điều này và các nguyên tắc sau:

a) Xác định rõ vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm, nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại, kết quả khắc phục hậu quả, tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng và hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội của dự án, công trình; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; khẩn trương kết luận, xử lý, không để kéo dài đối với những vụ án, vụ việc có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quyết định xử lý theo quy định của Nghị quyết này;

b) Phân định rõ việc xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm với các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với từng dự án, công trình để sớm đưa đất đai vào khai thác, sử dụng hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí;

c) Không áp dụng các quy định trong Nghị quyết này để xem xét lại những quyết định xử lý kỷ luật, bản án hình sự đã có hiệu lực đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.

3. Việc áp dụng các quy định tại Chương III của Nghị quyết này bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 1 Điều này và các nguyên tắc sau:

a) Chỉ xem xét, xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án mà nguyên nhân dẫn đến vi phạm, sai phạm do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước hoặc do lỗi của cả cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, chủ đầu tư. Việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án hạn chế tối đa các khiếu kiện, nhất là các dự án có yếu tố nước ngoài; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình;

b) Việc áp dụng chính sách để tháo gỡ cho các dự án khó khăn, vướng mắc bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư, chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng; bảo đảm năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật;

c) Cho phép xử lý tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, bảo đảm không làm phát sinh sai phạm mới và có phương án khắc phục thiệt hại.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị quyết này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Không tham nhũng là việc không thực hiện các hành vi tham nhũng được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng được quy định trong Bộ luật Hình sự và được cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật kết luận bằng văn bản.

2. Vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện hoạt động, ban hành chính sách hoặc quyết định nhằm phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đất nước, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.

3. Vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện hoạt động, ban hành quyết định hoặc biện pháp nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và sự ổn định của Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

4. Không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo theo quy định là không phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ hoặc có phát sinh khiếu nại, tố cáo nhưng đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành thông báo chấm dứt thụ lý, giải quyết vụ việc hoặc đã được giải quyết bằng văn bản giải quyết đã có hiệu lực thuộc lĩnh vực tư pháp cho đến khi xem xét, xử lý vi phạm theo Nghị quyết này.

5. Hậu quả thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai gây ra là hậu quả vật chất.

6. Khắc phục hậu quả thiệt hại là việc cá nhân vi phạm và tổ chức, cá nhân có lợi ích trực tiếp từ hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thực hiện bồi thường về vật chất nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các bên liên quan và bên thứ ba ngay tình; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân trong lợi ích tổng thể của quốc gia.

7. Mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm, cải thiện hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.

8. Vi phạm pháp luật về đất đai là hành vi vi phạm trong quản lý đất đai, chuyển quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, lựa chọn nhà đầu tư, quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng.

9. Giấy chứng nhận không đúng quy định là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp mà trên đó ghi mục đích sử dụng đất là đất ở (không hình thành đơn vị ở) hoặc đất ở (xây dựng và kinh doanh bất động sản, du lịch) hoặc đất ở có thông tin khác không đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Chương II

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN XẢY RA TRƯỚC KHI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024 CÓ HIỆU LỰC

Điều 5. Không truy cứu trách nhiệm hình sự

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:

1. Không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Không tham nhũng;

b) Vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;

c) Dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước;

d) Không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định.

2. Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và đã khắc phục toàn bộ hậu quả.

Điều 6. Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân khắc phục hậu quả nếu bảo đảm đủ các điều kiện sau:

1. Có hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;

2. Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng;

3. Các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.

Điều 7. Miễn trách nhiệm hình sự

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này.

Điều 8. Không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa

1. Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là 02 năm kể từ ngày ra quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 7 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.

Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa.

Thời hạn tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hết thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lý như sau:

a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo;

b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả, hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Điều 9. Hoãn chấp hành hình phạt, miễn, giảm hình phạt và xóa án tích đối với trường hợp đã có bản án

1. Trường hợp cá nhân đã có bản án của Tòa án nhưng chưa có quyết định thi hành án mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì Tòa án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt.

Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời hiệu thi hành bản án và thời gian chấp hành hình phạt.

2. Hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này thì xử lý như sau:

a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt;

b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án; đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.

3. Đối với người có hành vi vi phạm đáp ứng điều kiện thuộc các trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này mà đang chấp hành án hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại; chưa chấp hành án hoặc đang được hoãn thi hành án thì được miễn chấp hành hình phạt.

4. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Thời hạn tạm đình chỉ án phạt tù tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

Hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù quy định tại khoản này thì xử lý như sau:

a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành thời hạn chấp hành án phạt còn lại;

b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án ra quyết định tiếp tục thi hành án; đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt. Sau khi đã chấp hành xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.

5. Đối với người vi phạm đã chấp hành xong bản án và chưa xóa án tích mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích và miễn thời gian thử thách theo quy định của Bộ luật Hình sự.

6. Đối với người đang chấp hành án phạt tù có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết này nhưng không có điều kiện để khắc phục hậu quả thì Tòa án xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Sau khi đã chấp hành xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.

Điều 10. Quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

1. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật theo quy định của pháp luật nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm theo quy định được miễn kỷ luật nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước;

b) Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả.

2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật theo quy định của pháp luật nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh, có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng, các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện khắc phục để mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết thì xem xét chưa xử lý kỷ luật để khắc phục hậu quả. Thời hạn chưa xem xét xử lý kỷ luật tối đa là 02 năm, không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.

3. Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này thì xử lý như sau:

a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ mức kỷ luật.

Chương III

THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHO CÁC DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, KÉO DÀI

Điều 11. Xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định

Đối với dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn bảo đảm tính độc lập, khách quan, minh bạch. Sau khi rà soát thì việc xử lý dự án được thực hiện như sau:

1. Trường hợp dự án phù hợp với quy hoạch có chức năng sử dụng đất để xây dựng nhà ở:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án theo chính sách và giá đất tại thời điểm được nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định sang mục đích là đất ở để xác định số tiền cần phải thu từ phần chênh lệch tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp theo quy định tại Nghị quyết này;

b) Nhà đầu tư, chủ đầu tư thực hiện dự án hoàn thành nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước và bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nhà đầu tư, chủ đầu tư không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước theo quy định và không bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án thì xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư hoặc Giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất ở. Thời hạn sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất ở.

2. Đối với các dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư sang đất thương mại, dịch vụ;

Thời hạn sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, được tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng công trình trên đất theo quy định của pháp luật về xây dựng; trường hợp không phải cấp giấy phép xây dựng thì thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm bắt đầu xây dựng công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định.

b) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất thương mại, dịch vụ. Thời hạn sử dụng đất là 50 năm được tính từ thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ chủ đầu tư thực hiện dự án;

c) Trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà nhà đầu tư, chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì nhà đầu tư, chủ đầu tư phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định trước khi điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định.

Điều 12. Xử lý về việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các dự án, đất đai vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án để áp dụng chính sách theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa (sau đây gọi là Nghị quyết số 170/2024/QH15) đối với các trường hợp sau đây:

a) Dự án đầu tư đã lựa chọn nhà đầu tư (bao gồm cả cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam được giao là chủ đầu tư) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng đã được triển khai thi công xây dựng trên đất;

b) Dự án đầu tư đã lựa chọn nhà đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án;

c) Dự án đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với toàn bộ hoặc một phần khu đất thực hiện dự án và đã được triển khai thi công xây dựng trên đất nhưng bị thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất;

d) Dự án mà nhà đầu tư đã ứng một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để Nhà nước thu hồi đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án hoặc đã nộp tiền ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án nhưng chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất;

đ) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị, khu dân cư đã được chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở trong trường hợp nhà đầu tư thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở.

2. Đối với các trường hợp dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này không phải thực hiện lại thủ tục đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.

3. Đối với các trường hợp dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này mà chưa hoàn thành thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư thì thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư để thực hiện dự án.

Trường hợp nhà đầu tư không bảo đảm năng lực để tiếp tục thực hiện dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lựa chọn nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc hoàn trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư.

4. Việc chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của Điều này phải bảo đảm không mở rộng diện tích sử dụng đất so với dự án đầu tư đã đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.

5. Đối với các dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại khoản 1 Điều này tiếp tục được Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với phần diện tích chưa được ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định pháp luật về đất đai tại thời điểm áp dụng Nghị quyết này.

Điều 13. Xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật

Dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật mà chủ đầu tư dự án đã bỏ kinh phí để thực hiện thu hồi toàn bộ diện tích đất của dự án thì xử lý như sau:

1. Chủ đầu tư được tiếp tục thực hiện khi đáp ứng các điều kiện sau:

a) Nhà đầu tư đáp ứng năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật, đang quản lý, sử dụng, thực hiện đầu tư xây dựng trên khu đất được xác định có vi phạm về thu hồi đất, trong đó có phần lỗi của Nhà nước theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án;

b) Dự án không có tranh chấp, khiếu kiện hoặc đã giải quyết xong tranh chấp, khiếu kiện (nếu có);

c) Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 hoặc phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.

2. Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật đất đai.

3. Trường hợp dự án không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án và hoàn trả kinh phí Chủ đầu tư đã bỏ ra để thu hồi đất theo quy định của Chính phủ.

Đối với tài sản là công trình xây dựng (nếu có) gắn liền với đất trong trường hợp Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án thì chủ sở hữu tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Xử lý các dự án đầu tư trong trường hợp có vi phạm về mục đích sử dụng đất

Trường hợp dự án đầu tư có vi phạm về mục đích sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thì thực hiện như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, điều chỉnh mục tiêu dự án, điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để tiếp tục thực hiện dự án theo quy định của pháp luật. Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai;

2. Nhà đầu tư vẫn bị xử phạt hành chính nhưng không phải tháo dỡ đối với phần công trình phù hợp quy hoạch đô thị và nông thôn; không buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất nhưng phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng.

Điều 15. Xử lý dự án đầu tư xây dựng lưới điện đang triển khai đầu tư xây dựng nhưng chưa thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư

1. Đối với dự án đầu tư xây dựng lưới điện thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật đang triển khai đầu tư xây dựng nhưng chưa thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư thì không phải thực hiện lại thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.

2. Quyết định phê duyệt dự án đầu tư là căn cứ để thực hiện các thủ tục về đất đai, xây dựng và các thủ tục có liên quan theo quy định của pháp luật.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 16. Điều khoản thi hành

1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.

2. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân được quy định tại Nghị quyết này được thực hiện đến hết ngày 01 tháng 5 năm 2029. Sau thời điểm ngày 01 tháng 5 năm 2029 mà quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt, chưa xem xét kỷ luật theo quy định tại Nghị quyết này chưa hết thời hạn thì được tiếp tục thực hiện quy định của Nghị quyết này đến khi kết thúc.

3. Các quy định về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết này được thực hiện đến hết ngày 01 tháng 5 năm 2031. Các cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định thực hiện theo Nghị quyết này mà đến hết ngày 01 tháng 5 năm 2031 chưa kết thúc thì được tiếp tục triển khai theo quyết định đã ban hành.

4. Sửa đổi mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV như sau:

"14. Cho phép mở rộng việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 8 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai có tình huống pháp lý tương tự và được xác định thời điểm sai phạm, vi phạm trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án. Việc thực hiện nội dung này phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ nguyên tắc quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 và các nguyên tắc khác đã được Bộ Chính trị chỉ đạo.

Giao Bộ, cơ quan trung ương và địa phương căn cứ vào các quan điểm, nguyên tắc đã được quy định cụ thể tại các Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội đã ban hành, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai tháo gỡ theo thẩm quyền. Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thực hiện kiểm toán việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các dự án, đất đai áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết này.

Trong quá trình áp dụng quy định này mà các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có quy định thuận lợi hơn thì được lựa chọn áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành".

5. Trong quá trình rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trước thời điểm Nghị quyết này được ban hành, trường hợp phát sinh các tình huống pháp lý chưa được quy định tại Nghị quyết này và trong thời gian Quốc hội không họp, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết có quy định khác với luật, nghị quyết của Quốc hội, nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Điều 17. Tổ chức thực hiện

1. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân được quy định tại Nghị quyết này được tổ chức thực hiện như sau:

a) Giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ban hành quy định hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này;

b) Giao Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh khẩn trương rà soát, lập danh sách, báo cáo về các vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024. Người đứng đầu các cơ quan nêu trên chịu trách nhiệm toàn diện trong việc đánh giá tính hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của dự án, công trình đã triển khai, khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục và giám sát kết quả khắc phục hậu quả thiệt hại do các hành vi vi phạm gây ra làm căn cứ để áp dụng các chính sách quy định tại Nghị quyết này;

c) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng các cấp khẩn trương rà soát, lập danh sách, báo cáo về các vụ việc, vụ án, bản án có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 để thực hiện hiệu quả Nghị quyết này;

d) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Nghị quyết này thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Các quy định về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết này được tổ chức thực hiện như sau:

a) Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm sau đây:

a1) Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ban hành quy định hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này;

a2) Chỉ đạo các Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cao trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định tại Nghị quyết này, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả; không để trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí;

a3) Chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp với chính quyền địa phương cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý các vấn đề chưa phân cấp, phân quyền cho địa phương;

a4) Để bảo đảm lợi ích quốc gia và ngăn chặn các yếu tố có thể đe dọa an ninh quốc gia, Thủ tướng Chính phủ thực hiện các biện pháp khẩn cấp dừng hoặc tạm dừng thực hiện các cơ chế, chính sách được quy định tại Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; trong thời gian giữa hai kỳ họp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;

a5) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết này;

b) Trong quá trình áp dụng quy định tại Nghị quyết này, trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội được ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì áp dụng quy định của Nghị quyết này. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Nghị quyết này thì việc áp dụng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;

c) Người đứng đầu Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết này; đồng thời khẩn trương rà soát kỹ các dự án, xác định vấn đề vướng mắc cụ thể, thẩm quyền xử lý để chủ động giải quyết hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 05 năm 2026-2030, gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” và không để xảy ra trường hợp còn có dự án tồn đọng nhưng không được tổng hợp, xem xét xử lý, tháo gỡ.

3. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, người tham gia xây dựng, thẩm định, thẩm tra Nghị quyết này và tham gia triển khai thực hiện Nghị quyết này được loại trừ, miễn trách nhiệm trong trường hợp đã tuân thủ các quy trình, quy định liên quan và không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.

Các tổ chức, cá nhân có thành tích trong xây dựng, thẩm định, thẩm tra, thực hiện Nghị quyết này được khen thưởng theo quy định của pháp luật. Xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết này.

4. Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết này định kỳ hằng năm và kết quả tổng kết khi kết thúc việc thực hiện Nghị quyết này.

5. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XVI, kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 24 tháng 4 năm 2026.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

0
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tiện ích dành riêng cho tài khoản TVPL Basic và TVPL Pro
Tải về Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài do Quốc hội ban hành
Tải văn bản gốc Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài do Quốc hội ban hành

THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom – Happiness
---------------

Resolution No. 29/2026/QH16

Hanoi, April 24, 2026

 

RESOLUTION

ON SPECIAL MECHANISMS AND POLICIES FOR ADDRESSING LAND LAW VIOLATIONS COMMITTED BY ORGANIZATIONS AND INDIVIDUALS BEFORE THE LAW ON LAND 2024 COMING INTO FORCE AND FOR RESOLVING OBSTACLES TO DELAYED AND UNRESOLVED PROJECTS

THE NATIONAL ASSEMBLY

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

Pursuant to the Law on Organization of the National Assembly No. 57/2014/QH13 amended in by the Law No. 65/2020/QH14 and the Law No. 62/2025/QH15;

Pursuant to the Law on Promulgation of Legislative Documents No. 64/2025/QH15, amended by the Law No. 87/2025/QH15;

HEREBY RESOLVES:

Chapter I

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 1. Scope

This Resolution provides for special mechanisms and policies regarding:

1. Handling of land law violations in projects and works carried out for socio-economic development purposes, for national defense and security purposes, and not involving corruption committed before August 1, 2024;

2. Continued resolution of obstacles to delayed and unresolved projects before August 1, 2024.

Article 2. Regulated entities

1. Agencies, organizations, and individuals related to violations and handling of land law violations in projects and works carried out for socio-economic development purposes, for national defense and security purposes, and not involving corruption specified in clause 1 Article 1 of this Resolution.

2. Agencies, organizations, and individuals related to delayed and unresolved projects specified in clause 2 Article 1 of this Resolution.

Article 3. Principles for implementation

1. General principles:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Ensure that violations are not legitimized and that no new violations arise; inspect, supervise, and take strict action against organizations and individuals abusing the implementation of this Resolution to commit corruption, wastefulness, misconduct, or conceal violations;

c) Maintain conformity with objective realities and specific historical circumstances; ensure harmonization between the interests of the State, the lawful rights and interests of relevant entities, and the legitimate interests of bona fide third parties within the overall interests of the nation in accordance with law; maintain security, public order, and social safety.

2. The application of the provisions of Chapter II of this Resolution must meet the principles specified in clause 1 of this Article and the following principles:

a) Clearly identify the roles, motives, and purposes of violating organizations and individuals; the causes, nature, and extent of damage; extent of remediation; documents and evidence for determining whether corrupt practices exist; the political and socio-economic benefits of projects and works; and aggravating and mitigating circumstances; promptly conclude and handle, without undue delay, cases and matters involving land law violations and issue handling decisions in accordance with this Resolution;

b) Clearly distinguish the handling of liability of violating organizations and individuals from solutions for resolution of obstacles and remedying consequences (if any) for each project and work in order to promptly put land into effective use and utilization, avoiding loss and wastefulness;

c) The provisions of this Resolution shall not apply to reconsider disciplinary decisions or legally effective criminal judgments against organizations and individuals committing land law violations arising before August 1, 2024.

3. The application of the provisions of Chapter III of this Resolution must ensure the principles specified in clause 1 of this Article and the following principles:

a) Only projects specified in clause 2 Article 1 of this Resolution identified in inspection conclusions, examination conclusions, and court judgments, where violations are attributable to faults of regulatory agencies or both regulatory agencies and investors or project developers, shall be eligible for consideration and resolution of obstacles. The resolution of obstacles to projects must minimize legal claims, especially for projects involving foreign elements; and ensure the lawful rights and interests of bona fide third parties;

b) The application of policies for resolution of obstacles to projects must conform to the Party’s guidelines and the State’s policies and laws; ensure the principle that investors and project developers fully fulfill financial obligations to the State and do not adversely affect national security and national defense; and ensure capacity and conditions for project execution in accordance with law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 4. Definitions

For the purpose of this Resolution, these terms below shall be construed as follows:

1. “Not involving corruption” means not committing corrupt practices prescribed in the Law on Anti-Corruption or corruption-related crimes prescribed in the Criminal Code, as concluded in writing by investigation authorities, procuracies, courts, or other competent authorities in accordance with law.

2. “For socio-economic development purposes” means that competent organizations or individuals conduct operations or issue policies or decisions aimed at promoting socio-economic development of local areas and the country and improving the quality of life of the People.

3. “For national defense and security purposes” means that competent organizations or individuals conduct operations or issue decisions or measures aimed at protecting the independence, sovereignty, unity, and territorial integrity of the Fatherland; protecting national security; maintaining public order and social safety; and ensuring the stability of the State and the socialist regime.

4. “No complaints or denunciations, or complaints and denunciations having been fully resolved in accordance with regulations” means that no valid complaints or denunciations arise, or where complaints or denunciations arise, competent authorities have issued notices terminating acceptance and settlement of the matter or the matter has been resolved by legally effective settlement documents in the judicial sector up to the time of consideration and handling of violations under this Resolution.

5. “Damage” caused by land law violations means material damage.

6. “Remedying damage” means that violating individuals and organizations or individuals having direct interests derived from land law violations committed by agencies, cadres, civil servants, public employees, or members of the People’s Armed Forces provide material compensation in order to protect the interests of the State, relevant parties, and bona fide third parties; and ensure harmonization of interests among the State, enterprises, investors, and citizens within the overall interests of the nation.

7. “Bringing socio-economic benefits to local areas and the country” means promoting economic growth, attracting investment, creating jobs, improving technical infrastructure, improving the quality of life of the People, and ensuring social security.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

9. “Unlawfully issued certificate” means a Certificate of land use rights or a Certificate of land use rights and ownership of houses and other property on land issued by a competent regulatory agency, stating the land use purpose as residential land (without formation of residential units), or residential land (for construction and real estate/tourism business), or residential land with other information inconsistent with land laws.

Chapter II

HANDLING OF LAND LAW VIOLATIONS COMMITTED BY ORGANIZATIONS AND INDIVIDUALS BEFORE THE LAW ON LAND 2024 COMES INTO FORCE

Article 5. Exemption from criminal prosecution

Competent authorities conducting legal proceedings shall exempt criminal prosecution in the following cases:

1. Where no loss or waste of State assets is caused, all of the following conditions must be fully satisfied:

a) Not involving corruption;

b) For socio-economic development purposes and for national defense and security purposes;

c) Projects and works have been completed and bring socio-economic benefits to local areas and the country;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Where loss or waste of State assets is caused, the conditions specified in clause 1 of this Article must be satisfied and all consequences must have been fully remedied.

Article 6. Suspension of criminal prosecution

Competent authorities conducting legal proceedings shall consider suspension of criminal prosecution to enable organizations and individuals to remedy consequences if all of the following conditions are fully satisfied:

1. Violations are committed for socio-economic development purposes or for national defense and security purposes;

2. Loss or waste of State assets is caused but not involving corruption;

3. Projects and works are under implementation and have not yet been completed, and consequences have not yet been remedied due to objective causes, but there remain feasible capabilities, plans, and conditions for remedying consequences and bringing socio-economic benefits to local areas and the country, together with commitments from relevant organizations and individuals to remedy consequences and actively carry out such remediation according to the committed schedule and plan.

Article 7. Exemption from criminal liability

During the stages of investigation, prosecution, and adjudication, competent procedural authorities and persons conducting legal proceedings shall grant exemption from criminal liability in the cases specified in Article 5 of this Resolution.

Article 8. Decision not to institute criminal proceedings; suspension of settlement of denunciations and information on crimes and recommendations for criminal prosecution; suspension or termination of investigation; suspension or termination of investigation against suspects; suspension or termination of criminal proceedings; suspension or termination of criminal proceedings against suspects and defendants; and adjournment of trials

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Where sufficient grounds specified in Article 6 of this Resolution exist, competent authorities conducting legal proceedings shall issue decisions on suspension of settlement of denunciations and information on crimes and recommendations for criminal prosecution. The maximum period of suspension shall be 2 years from the date of issuance of the decision and shall not be included in the statute of limitations for criminal liability.

2. During the stages of investigation, prosecution, and adjudication, where sufficient grounds specified in Article 5 and Article 7 of this Resolution exist, Investigation Authorities shall issue decisions on termination of investigation; Procuracies and Courts shall issue decisions on termination of criminal proceedings and termination of criminal proceedings against suspects and defendants.

Where sufficient grounds specified in Article 6 of this Resolution exist, investigation authorities shall issue decisions on suspension of investigation; Procuracies shall issue decisions on suspension of criminal proceedings and suspension of criminal proceedings against suspects; courts shall issue decisions on suspension of criminal proceedings, suspension of criminal proceedings against suspects and defendants, and adjournment of trials.

The maximum period of suspension of investigation of criminal cases, suspension of investigation against suspects, suspension of criminal proceedings, suspension of criminal proceedings against suspects and defendants, and adjournment of trials shall be 2 years from the date of issuance of the decision and shall not be included in the statute of limitations for criminal liability.

3. Upon expiry of the periods of suspension of settlement of denunciations and information on crimes and recommendations for criminal prosecution, suspension of investigation of criminal cases, suspension of investigation against suspects, suspension of criminal proceedings, suspension of criminal proceedings against suspects and defendants, and adjournment of trials specified in clause 1 and clause 2 of this Article, competent authorities conducting legal proceedings shall handle them as follows:

a) Where all consequences have been fully remedied, investigation authorities shall issue decisions not to institute criminal proceedings or decisions on termination of investigation; Procuracies and Courts shall issue decisions on termination of criminal proceedings and termination of criminal proceedings against suspects and defendants;

b) Where all consequences have not been fully remedied, competent authorities conducting legal proceedings shall carry out procedures in accordance with the Criminal Procedure Code and, based on the ratio of remedied consequences and socio-economic benefits brought to local areas and the country, decide on mitigation of criminal liability.

Article 9. Postponement of enforcement of sentences, exemption from or reduction of penalties, and expungement of criminal records for cases already adjudicated

1. Where an individual has already been subject to a court judgment but no enforcement decision has yet been issued, and sufficient grounds specified in Article 6 of this Resolution exist, the Court shall issue a decision on postponement of enforcement of the sentence.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Upon expiry of the period of postponement of enforcement of the sentence specified in clause 1 of this Article, proceed as follows:

a) Where all consequences have been fully remedied, the Court shall decide on exemption from serving the sentence;

b) Where all consequences have not been fully remedied, the competent Court shall issue a decision on enforcement of the judgment; and, based on the ratio of remedied consequences and socio-economic benefits brought to local areas and the country, decide on reduction of the imposed sentence or reduction of the sentence-serving period in special cases.

3. Persons committing violations satisfying the conditions specified in the cases provided in Article 5 of this Resolution and currently serving sentences or currently subject to suspension of sentence enforcement shall be exempted from serving the remaining sentence; where they have not yet commenced serving the sentence or are currently subject to postponement of sentence enforcement, they shall be exempted from serving the sentence.

4. Where persons currently serving imprisonment sentences satisfy sufficient grounds specified in Article 6 of this Resolution, the Court shall decide on suspension of enforcement of imprisonment sentences. The maximum period of suspension of imprisonment sentence enforcement shall be 2 years from the date of issuance of the decision and shall not be included in the sentence-serving period.

Upon expiry of the period of suspension of imprisonment sentence enforcement specified in this clause, proceed as follows:

a) Where all consequences have been fully remedied, the Court shall decide on exemption from serving the remaining sentence period;

b) Where all consequences have not been fully remedied, the Court shall issue a decision to continue enforcement of the sentence; and, based on the ratio of remedied consequences and socio-economic benefits brought to local areas and the country, decide on reduction of the imposed sentence or reduction of the sentence-serving period in special cases. After the sentence has been fully served in accordance with regulations, the Court shall consider deciding on reduction of the period for expungement of criminal records.

5. Persons committing violations who have fully served their sentences and whose criminal records have not yet been expunged, but satisfy sufficient grounds specified in Article 5 of this Resolution, shall automatically have their criminal records expunged and be exempted from probation periods in accordance with the Criminal Code.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 10. Provisions on disciplinary action against cadres, civil servants, public employees, and members of the People’s Armed Forces

1. Cadres, civil servants, public employees, and members of the People’s Armed Forces committing disciplinary violations in accordance with law but for socio-economic development purposes, for national defense and security purposes, not involving corruption, where projects and works have been completed and bring socio-economic benefits to local areas and the country, and where no complaints or denunciations arise or complaints and denunciations have arisen but have been fully resolved in accordance with regulations, shall be exempted from disciplinary sanctions if satisfying one of the following conditions:

a) No loss or waste of State assets is caused;

b) Loss or waste of State assets is caused but all consequences have been fully remedied.

2. Cadres, civil servants, public employees, and members of the People’s Armed Forces committing disciplinary violations in accordance with law but for socio-economic development purposes, for national defense and security purposes, causing loss or waste of State assets but not involving corruption, where projects and works are under implementation and have not yet been completed, and consequences have not yet been remedied due to objective causes but there remain feasible capabilities, plans, and conditions for remediation in order to bring socio-economic benefits to local areas and the country, together with commitments from relevant organizations and individuals to remedy consequences and actively carry out such remediation according to the committed schedule and plan, shall be considered for temporary non-imposition of disciplinary sanctions in order to remedy consequences. The maximum period during which disciplinary action is not considered shall be 2 years and shall not be included in the statute of limitations for disciplinary action.

3. Upon expiry of the period specified in clause 2 of this Article, proceed as follows:

a) Where all consequences have been fully remedied, the provisions of clause 1 of this Article shall apply;

b) Where all consequences have not been fully remedied, competent authorities shall, based on the ratio of remedied consequences and socio-economic benefits brought to local areas and the country, decide on mitigation of disciplinary sanctions.

Chapter III

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Article 11. Handling of projects granted unlawfully issued certificates

For projects granted unlawfully issued certificates, Province-level People’s Committees shall review planning schemes in accordance with laws on urban and rural planning, ensuring independence, objectivity, and transparency. Upon completion of such review, the project shall be handled as follows:

1. Where projects conform to planning schemes that have land use functions for residential construction:

a) Province-level People’s Committees shall determine land use levies and land rents of projects according to policies and land prices applicable at the time competent regulatory agencies adjust unlawfully issued certificates to residential land purposes in order to determine amounts required to be collected from differences in land use levy and land rents at the time of adjustment of certificates granted in accordance with this Resolution;

b) Investors and project developers shall fulfill financial obligations to competent regulatory agencies and ensure capability for continued project implementation in accordance with law.

Where investors and project developers fail to fully fulfill financial obligations to competent regulatory agencies in accordance with regulations and fail to ensure capability for continued project implementation, proceed in accordance with clause 2 of this Article;

c) Adjust the land use purpose stated in unlawfully issued certificates of investors and project developers or unlawfully issued Certificates of land use rights of land users having received transfer of land use rights within projects into residential land purposes. Land use term and land use regime shall comply with land laws applicable to residential land.

2. For projects not falling within the cases specified in clause 1 of this Article:

a) Adjust the land use purpose stated in unlawfully issued certificates of investors and project developers into commercial and service land purposes;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

b) Adjust the land use purpose stated in unlawfully issued certificates of land users having received transfer of land use rights within projects into commercial and service land purposes. Land use term shall be 50 years calculated from the time of receipt of transfer of land use rights from project developers;

c) In the cases specified at point a and point b of this clause where investors and project developers have not fully fulfilled financial obligations at the time unlawfully issued certificates are granted, investors and project developers shall fully fulfill outstanding financial obligations existing at the time unlawfully issued certificates are granted before adjustment of such unlawfully issued certificates.

Article 12. Handling continuation of allocation of land and land lease for projects violating regulations on investor selection and land administration and use

1. Province-level People’s Committees shall review projects and land involving violations relating to investor selection, allocation of land, land lease, and permission for change of land use purpose stated in inspection conclusions, examination conclusions, and court judgments for application of policies specified in Article 4 and Article 5 of Resolution No. 170/2024/QH15 dated November 30, 2024 of the National Assembly on special mechanisms and policies for resolution of obstacles relating to projects and land in inspection conclusions, examination conclusions, and court judgments in Ho Chi Minh City, Da Nang City, and Khanh Hoa Province (hereinafter referred to as “Resolution No. 170/2024/QH15”) in the following cases:

a) Investment projects that have selected investors (including regulatory agencies and agencies of the Communist Party of Vietnam assigned as project developers) without auction of land use rights or without bidding for investor selection, where competent regulatory agencies have not yet issued decisions on allocation of land or land lease but construction works have already been implemented on land;

b) Investment projects that have selected investors without auction of land use rights or without bidding for investor selection, where competent regulatory agencies have issued decisions on allocation of land or land lease for part or the whole of project land areas;

c) Projects for which competent regulatory agencies have issued decisions on allocation of land or land lease for the whole or part of project land areas and construction works have already been implemented on land, but such decisions on allocation of land or land lease have subsequently been revoked;

d) Projects where investors have advanced part or all of compensation, support, and resettlement funds or carried out compensation, support, and resettlement activities for the State to recover land for part or the whole of project land areas, or have deposited project implementation security, but competent regulatory agencies have not yet issued decisions on allocation of land or land lease;

dd) Housing construction investment projects, urban area projects, and residential area projects having obtained approval or investment policy approval or permission for change of land use purpose into residential land in cases where investors reach agreements on acquisition of land use rights but do not possess residential land.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

3. For project cases reviewed by Province-level People’s Committees and decided for application of the provisions of Article 4 and Article 5 of Resolution No. 170/2024/QH15 in accordance with point c and point d clause 1 of this Article, where procedures for investment policy approval, investment policy decisions, or investor selection have not yet been completed, procedures for investment policy approval shall be carried out simultaneously with investor approval for project implementation.

Where the investor lacks sufficient capability for continued project implementation, the Province-level People’s Committee shall select another investor in accordance with law. Province-level People’s Committees shall refund to investors compensation, support, and resettlement amounts already advanced and construction costs incurred on project land areas (if any).

4. Investment policy approval and adjustment of investment policies under this Article must ensure that land use areas are not expanded beyond those proposed in investment projects submitted to competent regulatory agencies before August 1, 2024.

5. For projects reviewed by Province-level People’s Committees and decided for application of the provisions of Article 4 and Article 5 of Resolution No. 170/2024/QH15 in accordance with clause 1 of this Article, the State shall continue recovery of land, allocation of land, and land lease for land areas for which decisions on allocation of land or land lease have not yet been issued in accordance with land laws applicable at the time this Resolution is applied.

Article 13. Handling of investment projects on land areas where the State has recovered land not falling within cases eligible for land recovery under law

Investment projects on land areas where the State has recovered land not falling within cases eligible for land recovery under law, and where project developers have expended funds to recover the entire land areas of projects, shall be handled as follows:

1. Project developers may continue project implementation if satisfying the following conditions:

a) Investors satisfy capability and project implementation conditions in accordance with law and are managing, using, and carrying out construction investment on land areas determined to involve violations relating to land recovery, including faults attributable to the State according to inspection conclusions, examination conclusions, and court judgments;

b) Projects are free from disputes and legal claims, or disputes and legal claims (if any) have been fully resolved;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

2. Allocation of land, land lease, and permission for change of land use purpose shall comply with current land laws.

3. Where projects fail to satisfy the conditions specified in clause 1 of this Article, the State shall terminate project implementation and refund expenditures incurred by project developers for land recovery in accordance with Government regulations.

For assets being construction works attached to land (if any) in cases where the State terminates project implementation, owners of such assets shall be handled in accordance with law.

Article 14. Handling of investment projects involving violations relating to land use purposes

Where investment projects involve violations relating to land use purposes already decided or approved by competent regulatory agencies through investment policy decisions, investment approvals, investor approvals, and conforming to land use planning, forestry planning, national defense land use planning, security land use planning, or planning schemes formulated in accordance with laws on urban and rural planning, forestry planning, national defense land use planning, and security land use planning, proceed as follows:

1. Province-level People’s Committees shall review and adjust project objectives, decisions on allocation of land and land lease, and permissions for change of land use purpose in order to continue project implementation in accordance with law. Investors shall fully fulfill land-related financial obligations;

2. Investors shall still be subject to administrative sanctions but shall not be required to demolish portions of works conforming to urban and rural planning schemes; restoration of original land conditions shall not be compulsory, but investors must disgorge illicit gains obtained from violations in accordance with land and construction laws.

Article 15. Handling of grid construction investment projects currently under construction investment implementation but not yet having carried out procedures for investment policy approval

1. For grid construction investment projects subject to investment policy approval or investment policy decisions under law and currently under construction investment implementation but not yet having carried out procedures for investment policy approval, procedures for investment policy approval are not required to be re-conducted.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

Chapter IV

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 16. Implementation provisions

1. This Resolution comes into force as of May 1, 2026.

2. The provisions on handling of land law violations committed by organizations and individuals specified in this Resolution shall be implemented until the end of May 1, 2029. After May 1, 2029, where periods specified in decisions on suspension of settlement of denunciations and information on crimes and recommendations for criminal prosecution, suspension of investigation of criminal cases, suspension of investigation against suspects, suspension of criminal proceedings, suspension of criminal proceedings against suspects and defendants, adjournment of trials, postponement of enforcement of sentences, or temporary non-consideration of disciplinary action under this Resolution have not yet expired, the provisions of this Resolution may continue to apply until completion.

3. The provisions on special mechanisms and policies for resolution of obstacles to delayed and unresolved projects specified in this Resolution shall be implemented until the end of May 1, 2031. Special mechanisms and policies for resolution of obstacles to delayed and unresolved projects already decided for implementation by competent authorities under this Resolution but not yet completed by May 1, 2031 may continue implementation in accordance with issued decisions.

4. Section 14 of Resolution No. 265/2025/QH15 dated December 11, 2025 of the National Assembly on the 10th Session of the 15th National Assembly is amended as follows:

“14. Expansion of application of the special mechanisms and policies specified in Article 3, Article 4, Article 5, Article 6, Article 7, and Article 8 of Resolution No. 170/2024/QH15 is permitted for resolution of obstacles relating to projects and land that have similar legal circumstances and where timing of violations or wrongdoing is determined to have arisen before August 1, 2024 in inspection conclusions, examination conclusions, and court judgments. Implementation of this provision must ensure full compliance with the principles specified in Article 2 of Resolution No. 170/2024/QH15 and other principles directed by the Politburo.

Ministries, central agencies, and local authorities are assigned, based on viewpoints and principles specifically provided in conclusions of the Politburo and resolutions of the National Assembly already promulgated, to take responsibility for directing and organizing implementation of remedial measures within their competence. The State Audit Office shall be responsible for auditing determination of land prices, calculation of land use levy, and land rents for projects and land applying the special mechanisms and policies under this Resolution.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

5. During review and resolution of obstacles relating to delayed and unresolved projects before promulgation of this Resolution, where legal circumstances arise that are not yet provided in this Resolution and during periods when the National Assembly is not in session, the Government shall submit to the Standing Committee of the National Assembly for promulgation of a Resolution containing provisions differing from laws and resolutions of the National Assembly in order to continue resolution of obstacles relating to projects, and shall report to the National Assembly at the nearest session.

Article 17. Implementation

1. The provisions on handling of land law violations committed by organizations and individuals specified in this Resolution shall be organized for implementation as follows:

a) The Government, the Supreme People’s Court, and the Supreme People’s Procuracy are assigned, within their functions, duties, and powers, to promulgate provisions guiding implementation of this Resolution;

b) The Government, Ministries, sectors, central agencies, and province-level authorities are assigned to urgently review, compile lists of, and report on cases and matters involving land law violations but not involving corruption arising before August 1, 2024. Heads of the above-mentioned agencies shall bear overall responsibility for assessment of socio-economic benefits, assurance of national defense and security of implemented projects and works, capabilities, plans, and conditions for remediation, and supervision of results of remediation of damage caused by violations, serving as grounds for application of policies specified in this Resolution;

c) Competent authorities conducting legal proceedings at all levels shall urgently review, compile lists of, and report on matters, cases, and judgments involving land law violations but not involving corruption arising before August 1, 2024 in order to effectively implement this Resolution;

d) Competence, procedures, and processes for handling land law violations specified in Article 8 and Article 9 of this Resolution shall comply with laws on criminal procedure and laws on criminal judgment enforcement.

2. The provisions on special mechanisms and policies for resolution of obstacles to delayed and unresolved projects specified in this Resolution shall be organized for implementation as follows:

a) The Government and the Prime Minister shall have the following responsibilities:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

a2) Direct Ministries, central agencies, and Province-level People’s Committees to uphold responsibility, especially responsibility of heads of agencies, in leadership, direction, organization of implementation, inspection, and supervision of implementation of the provisions of this Resolution, ensuring openness, transparency, and effectiveness; and preventing abuse of policies for personal gain, loss, and wastefulness;

a3) Direct relevant agencies to coordinate with local authorities in reforming administrative procedures and shortening handling time for matters not yet delegated or devolved to local authorities;

a4) In order to ensure national interests and prevent factors potentially threatening national security, the Prime Minister shall implement urgent measures to stop or temporarily suspend implementation of mechanisms and policies specified in this Resolution and report to the National Assembly at the nearest session; during periods between sessions, report to the Standing Committee of the National Assembly and subsequently report to the National Assembly at the nearest session;

a5) Within their duties and powers, organize implementation of this Resolution;

b) During application of the provisions of this Resolution, where different provisions on the same matter exist between this Resolution and laws or other resolutions of the National Assembly promulgated before the effective date of this Resolution, the provisions of this Resolution shall prevail. Where legal normative documents promulgated after the effective date of this Resolution contain mechanisms or policies more preferential or favorable than those specified in this Resolution, application thereof shall be decided by provincial-level People’s Councils;

c) Heads of Ministries, sectors, central agencies, and local authorities shall be responsible for organizing implementation of this Resolution; and shall urgently conduct comprehensive review of projects, identify specific obstacles and handling competence in order to proactively resolve them or report to competent authorities for resolution in accordance with Conclusion No. 18-KL/TW dated April 2, 2026 of the Second Conference of the 14th Central Executive Committee of the Communist Party regarding the socio-economic development plan, national finance and public debt borrowing and repayment, and medium-term public investment plan for the 2026-2030 five-year period, associated with implementation of the target of striving for “double-digit” growth, and ensuring that no delayed or unresolved projects remain unidentified, unreviewed, or unresolved.

3. Heads of agencies and units, persons participating in drafting, appraisal, examination, and implementation of this Resolution shall be excluded from or exempted from liability where they have complied with relevant procedures and regulations and have not acted for personal gain during performance of duties, even where damage still occurs.

Organizations and individuals achieving outstanding performance in drafting, appraisal, examination, and implementation of this Resolution shall be rewarded in accordance with law. Corrupt practices, abuse for personal gain, and harassment committed by cadres and civil servants during implementation of this Resolution shall be strictly handled.

4. The Government shall submit annual reports to the National Assembly on results of implementation of this Resolution and submit a final review report upon completion of implementation of this Resolution.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập tài khoản TVPL Pro để xem được toàn bộ nội dung văn bản Tiếng Anh

This Resolution was adopted by the 16th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its First Session on April 24, 2026.

 

 

PRESIDENT OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Văn bản được hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản được hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản bị đính chính - [0]
[...]
Văn bản bị thay thế - [0]
[...]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
[...]
Văn bản được căn cứ - [0]
[...]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]
[...]
Văn bản đang xem
Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài do Quốc hội ban hành
Số hiệu: 29/2026/QH16
Loại văn bản: Nghị quyết
Lĩnh vực, ngành: Bất động sản,Bộ máy hành chính
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 24/04/2026
Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày đăng: Đã biết
Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
[...]
Văn bản hướng dẫn - [0]
[...]
Văn bản hợp nhất - [0]
[...]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
[...]
Văn bản đính chính - [0]
[...]
Văn bản thay thế - [0]
[...]
[...] Đăng nhập tài khoản TVPL Basic hoặc TVPL Pro để xem toàn bộ lược đồ văn bản
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Căn cứ Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;
...
Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội.
...
Điều 3. Rà soát điều kiện để xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định

Việc rà soát các điều kiện để xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thực hiện như sau:

1. Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát sự phù hợp của dự án với các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.

2. Sở Xây dựng tổng hợp kết quả đánh giá điều kiện và lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định đối với từng dự án. Hồ sơ gồm:

a) Tờ trình;

b) Dự thảo quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định;

c) Ý kiến của các cơ quan liên quan;

d) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).

3. Đối với các tỉnh, thành phố tổ chức riêng Sở Quy hoạch - Kiến trúc thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công Sở Xây dựng hoặc Sở Quy hoạch - Kiến trúc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Đối với diện tích đất được điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều này thì không phải thực hiện điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất.

Điều 4. Quy định về thực hiện điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16

1. Trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Môi trường:

a) Xác định giá đất và chuyển thông tin đến cơ quan thuế để cơ quan thuế tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp bổ sung theo quy định tại Điều 5 Nghị định này đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 sau khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định;

b) Ban hành Quyết định công bố danh sách các giấy chứng nhận đã cấp thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16; tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp giấy chứng nhận; số phát hành (số seri của giấy chứng nhận); số vào Sổ cấp giấy chứng nhận.

Đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì việc ban hành quyết định tại điểm này được thực hiện khi có giấy tờ hoặc thông tin của cơ quan thuế chứng minh nhà đầu tư, chủ đầu tư đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính.

2. Trách nhiệm của Văn phòng đăng ký đất đai:

a) Đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng về danh sách số phát hành (số seri của giấy chứng nhận), số vào Sổ cấp giấy chứng nhận của các giấy chứng nhận đã cấp thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Việc đăng tin được thực hiện 03 lần, mỗi lần cách nhau 30 ngày;

b) Trường hợp có địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì gửi thông báo bằng văn bản cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp giấy chứng nhận đã cấp để thực hiện điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất

c) Gửi thông báo bằng văn bản kèm theo danh sách số phát hành (số seri của giấy chứng nhận), số vào Sổ cấp giấy chứng nhận của các giấy chứng nhận quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đến Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, cơ quan, tổ chức, các bên có liên quan (nếu có) để thông tin đến người sử dụng đất, người sở hữu tài sản và các bên có liên quan khi thực hiện giao dịch;

d) Thực hiện chỉnh lý, cập nhật vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp phải cấp mới theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp; trao giấy chứng nhận cho người được cấp.

Trường hợp xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp, Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện tại cột “Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý” của giấy chứng nhận đã cấp như sau: “... (ghi tên loại thông tin thay đổi) đã thay đổi từ... thành ... (ghi nội dung thông tin trước và sau khi thay đổi) theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội, theo hồ sơ số... (ghi mã hồ sơ thủ tục đăng ký)”.

Trường hợp cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đang được thế chấp và đã được đăng ký biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm thì thực hiện việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm; việc trao Giấy chứng nhận được thực hiện đồng thời giữa ba bên gồm Văn phòng đăng ký đất đai, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và bên nhận thế chấp; người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất ký, nhận Giấy chứng nhận mới từ Văn phòng đăng ký đất đai để trao cho bên nhận thế chấp.

3. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp giấy chứng nhận đã cấp kèm theo đơn về việc đăng ký biến động theo quy định về thủ tục đăng ký biến động đất đai đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi nhận được thông báo quy định tại khoản 2 Điều này.

Trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc trường hợp đã lập hợp đồng, văn bản chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được công chứng, chứng thực trước ngày ban hành thông báo quy định tại điểm c khoản 2 Điều này thì nộp thêm văn bản, giấy tờ về việc chuyển quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.

4. Nhà đầu tư, chủ đầu tư nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và pháp luật liên quan.

5. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thực hiện:

a) Cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo mẫu quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông;

b) Chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục hành chính để thực hiện Điều này: trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong các bước thực hiện trình tự, thủ tục, thời gian tối đa thực hiện trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ phải nộp.

Điều 5. Xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với dự án được điều chỉnh mục đích sử dụng đất sang đất ở quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16

1. Thời điểm xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được điều chỉnh mục đích sử dụng đất sang đất ở quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 là thời điểm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định.

2. Số tiền cần phải thu từ phần chênh lệch tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 được xác định như sau:

TBS = T1 - T2

Trong đó:

TBS là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp bổ sung.

T1 là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm Nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp.

T2 là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo mục đích sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm Nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp. Trong đó:

Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được xác định theo quy định của Chính phủ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và giá đất;

Trường hợp giá đất để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng được xác định căn cứ vào tỷ lệ so với đất ở thì nay cho áp dụng tỷ lệ đó để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

3. Trường hợp số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp lớn hơn số tiền tính theo giá đất ở tại thời điểm trước đây đã cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì Nhà nước không hoàn trả số tiền chênh lệch.

4. Đối với phần diện tích của dự án không phải diện tích đất được điều chỉnh sang đất ở theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà thực hiện điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch chi tiết thì việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thực hiện theo pháp luật về đất đai, pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và pháp luật khác có liên quan.

Xem nội dung VB
Điều 11. Xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định

Đối với dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn bảo đảm tính độc lập, khách quan, minh bạch. Sau khi rà soát thì việc xử lý dự án được thực hiện như sau:

1. Trường hợp dự án phù hợp với quy hoạch có chức năng sử dụng đất để xây dựng nhà ở:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án theo chính sách và giá đất tại thời điểm được nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định sang mục đích là đất ở để xác định số tiền cần phải thu từ phần chênh lệch tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp theo quy định tại Nghị quyết này;

b) Nhà đầu tư, chủ đầu tư thực hiện dự án hoàn thành nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước và bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nhà đầu tư, chủ đầu tư không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước theo quy định và không bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án thì xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư hoặc Giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất ở. Thời hạn sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất ở.

2. Đối với các dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư sang đất thương mại, dịch vụ;

Thời hạn sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, được tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng công trình trên đất theo quy định của pháp luật về xây dựng; trường hợp không phải cấp giấy phép xây dựng thì thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm bắt đầu xây dựng công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định.

b) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất thương mại, dịch vụ. Thời hạn sử dụng đất là 50 năm được tính từ thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ chủ đầu tư thực hiện dự án;

c) Trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà nhà đầu tư, chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì nhà đầu tư, chủ đầu tư phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định trước khi điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Căn cứ Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;
...
Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội.
...
Điều 6. Quy định về tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất

1. Đối với dự án quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16 nằm tại khu vực ven biển hoặc trong phạm vi thực hiện dự án có diện tích đất có nguồn gốc từ đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất thì áp dụng chính sách theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 170/2024/QH15. Việc rà soát điều kiện được tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư như sau:

a) Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát các điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 170/2024/QH15 đối với từng dự án về: sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật; không vi phạm quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh, quy hoạch 03 loại rừng (hoặc quy hoạch lâm nghiệp); điều kiện năng lực thực hiện dự án của nhà đầu tư;

b) Sở Tài chính tổng hợp kết quả đánh giá điều kiện và lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư đối với từng dự án. Hồ sơ gồm: Tờ trình; dự thảo quyết định cho phép tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư; ý kiến của các cơ quan liên quan; tài liệu khác có liên quan (nếu có).

2. Đối với dự án quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng chính sách theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 170/2024/QH15. Việc rà soát điều kiện được tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư như sau:

a) Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát các điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 170/2024/QH15 đối với từng dự án về: sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật; không vi phạm quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh; điều kiện năng lực thực hiện dự án của nhà đầu tư;

b) Sở Tài chính tổng hợp kết quả đánh giá điều kiện và lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư đối với từng dự án. Hồ sơ gồm: Tờ trình; dự thảo quyết định cho phép tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư; ý kiến của các cơ quan liên quan; tài liệu khác có liên quan (nếu có).

3. Sau khi có Quyết định cho phép tiếp tục giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư, các cơ quan, người có thẩm quyền hoàn thiện các thủ tục để thực hiện dự án đầu tư theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Trường hợp trong diện tích đất đã giao, cho thuê trước ngày 01/5/2026 có diện tích rừng phải chuyển mục đích sử dụng rừng để thực hiện dự án mà chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp tại thời điểm giao đất, cho thuê đất thì cơ quan, người có thẩm quyền không phải ban hành quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng khi hoàn thiện hồ sơ dự án. Việc thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

4. Đối với phần diện tích của dự án đã có quyết định giao đất, cho thuê đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì việc lựa chọn phương pháp định giá đất, trình tự áp dụng phương pháp định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp được thực hiện theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 76/2025/NĐ-CP.

Đối với phần diện tích của dự án được Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì việc lựa chọn phương pháp định giá đất, trình tự áp dụng phương pháp định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất.

5. Trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì nhà đầu tư không phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian từ ngày bãi bỏ quyết định giao đất, cho thuê đất đến ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều 12. Xử lý về việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các dự án, đất đai vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án để áp dụng chính sách theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa (sau đây gọi là Nghị quyết số 170/2024/QH15) đối với các trường hợp sau đây:

a) Dự án đầu tư đã lựa chọn nhà đầu tư (bao gồm cả cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam được giao là chủ đầu tư) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng đã được triển khai thi công xây dựng trên đất;

b) Dự án đầu tư đã lựa chọn nhà đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án;

c) Dự án đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với toàn bộ hoặc một phần khu đất thực hiện dự án và đã được triển khai thi công xây dựng trên đất nhưng bị thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất;

d) Dự án mà nhà đầu tư đã ứng một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để Nhà nước thu hồi đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án hoặc đã nộp tiền ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án nhưng chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất;

đ) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị, khu dân cư đã được chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở trong trường hợp nhà đầu tư thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 7, điều 8 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Căn cứ Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;
...
Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội.
...
Điều 7. Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư để thực hiện dự án theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16

Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư để thực hiện dự án theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16 áp dụng như đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 4 Điều 23 Luật Đầu tư.

Điều 8. Quy định về xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 29/2026/QH16

1. Trường hợp dự án sau rà soát, nhà đầu tư đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định pháp luật thì thực hiện xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2025 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026).

2. Trường hợp dự án sau rà soát, nhà đầu tư không bảo đảm năng lực để tiếp tục thực hiện dự án, không được tiếp tục thực hiện dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoàn trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư. Kinh phí hoàn trả cho nhà đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương (chi đầu tư phát triển khác). Việc xác định chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình đã triển khai đầu tư xây dựng trên đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Xem nội dung VB
Điều 12. Xử lý về việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất
...
3. Đối với các trường hợp dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này mà chưa hoàn thành thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư thì thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư để thực hiện dự án.

Trường hợp nhà đầu tư không bảo đảm năng lực để tiếp tục thực hiện dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lựa chọn nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc hoàn trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 7, điều 8 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Căn cứ Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;
...
Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội.
...
Điều 9. Quy định về rà soát điều kiện được tiếp tục sử dụng đất thực hiện dự án

1. Việc rà soát các điều kiện được tiếp sử dụng đất để thực hiện dự án quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 29/2026/QH16 được thực hiện như sau:

a) Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 29/2026/QH16 đối với từng dự án;

b) Sở Tài chính tổng hợp kết quả đánh giá điều kiện và lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép dự án được tiếp tục thực hiện. Hồ sơ gồm: Tờ trình; dự thảo quyết định cho phép dự án được tiếp tục thực hiện; ý kiến của các cơ quan liên quan; tài liệu khác có liên quan (nếu có).

2. Việc xác định dự án không có tranh chấp, khiếu kiện hoặc đã giải quyết xong tranh chấp, khiếu kiện (nếu có) được thực hiện theo quy định tại Chương III của Luật Khiếu nại, Chương III của Luật Tố cáo và Mục 2 Chương XV của Luật Đất đai.

3. Sau khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cho phép dự án được tiếp tục thực hiện, Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tham mưu thực hiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai như đối với trường hợp đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều 13. Xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật

Dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật mà chủ đầu tư dự án đã bỏ kinh phí để thực hiện thu hồi toàn bộ diện tích đất của dự án thì xử lý như sau:

1. Chủ đầu tư được tiếp tục thực hiện khi đáp ứng các điều kiện sau:

a) Nhà đầu tư đáp ứng năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật, đang quản lý, sử dụng, thực hiện đầu tư xây dựng trên khu đất được xác định có vi phạm về thu hồi đất, trong đó có phần lỗi của Nhà nước theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án;

b) Dự án không có tranh chấp, khiếu kiện hoặc đã giải quyết xong tranh chấp, khiếu kiện (nếu có);

c) Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 hoặc phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.

2. Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật đất đai.

3. Trường hợp dự án không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án và hoàn trả kinh phí Chủ đầu tư đã bỏ ra để thu hồi đất theo quy định của Chính phủ.

Đối với tài sản là công trình xây dựng (nếu có) gắn liền với đất trong trường hợp Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án thì chủ sở hữu tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Căn cứ Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;
...
Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội.
...
Điều 10. Quy định xử lý kinh phí Chủ đầu tư đã bỏ ra để thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị quyết số 29/2026/QH16

1. Trường hợp dự án sau rà soát, nhà đầu tư đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định pháp luật thì thực hiện xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2025 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026).

2. Trường hợp dự án sau rà soát, nhà đầu tư không bảo đảm năng lực để tiếp tục thực hiện dự án, không được tiếp tục thực hiện dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoàn trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư. Kinh phí hoàn trả cho nhà đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương (chi đầu tư phát triển khác). Việc xác định chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình đã triển khai đầu tư xây dựng trên đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Xem nội dung VB
Điều 13. Xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật

Dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật mà chủ đầu tư dự án đã bỏ kinh phí để thực hiện thu hồi toàn bộ diện tích đất của dự án thì xử lý như sau:
...
3. Trường hợp dự án không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án và hoàn trả kinh phí Chủ đầu tư đã bỏ ra để thu hồi đất theo quy định của Chính phủ.

Đối với tài sản là công trình xây dựng (nếu có) gắn liền với đất trong trường hợp Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án thì chủ sở hữu tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật.
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026
Căn cứ Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;
...
Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội.
...
Điều 11. Hướng dẫn về mở rộng việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa

1. Đối với các trường hợp áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại các điều 3, 6, 7 và 8 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai có tình huống pháp lý tương tự theo quy định tại mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 16 Nghị quyết số 29/2026/QH16) thì được áp dụng quy định tương ứng tại Nghị định số 76/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa.

2. Trường hợp áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai có tình huống pháp lý tương tự theo quy định tại mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 thì được áp dụng các quy định tại các điều 6, 7 và 8 Nghị định này để triển khai thực hiện.

Xem nội dung VB
Điều 16. Điều khoản thi hành
...
4. Sửa đổi mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV như sau:

"14. Cho phép mở rộng việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 8 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai có tình huống pháp lý tương tự và được xác định thời điểm sai phạm, vi phạm trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án. Việc thực hiện nội dung này phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ nguyên tắc quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 và các nguyên tắc khác đã được Bộ Chính trị chỉ đạo.

Giao Bộ, cơ quan trung ương và địa phương căn cứ vào các quan điểm, nguyên tắc đã được quy định cụ thể tại các Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội đã ban hành, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai tháo gỡ theo thẩm quyền. Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thực hiện kiểm toán việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các dự án, đất đai áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết này.

Trong quá trình áp dụng quy định này mà các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có quy định thuận lợi hơn thì được lựa chọn áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành".
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 147/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/05/2026