Quan điểm phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn đến năm 2050

Chuyên viên pháp lý: Hồ Nguyễn Bảo Ngọc
Tham vấn bởi Luật sư: Nguyễn Thụy Hân
Quan điểm phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn đến năm 2050? Thủ tướng Chính phủ yêu cầu như thế nào để hạn chế tác động tiêu cực những đợt xâm nhập mặn cao điểm?

Mua bán nhà đất trên toàn quốc

Xem thêm Mua bán nhà đất trên toàn quốc

Nội dung chính

    Quan điểm phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn đến năm 2050

    Ngày 04/4/2026, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 616/QĐ-TTG năm 2026 nhằm phê duyệt điều chỉnh quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2023, tầm nhìn đến năm 2050.

    Trong đó, căn cứ theo quy định tại tiểu mục 1 Mục II Điều 1 Quyết định 616/QĐ-TTG năm 2026 về quan điểm phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn đến năm 2050 như sau:

    (1) Phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng phát triển bền vững, tăng trưởng xanh gắn với việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chú trọng bảo vệ, tôn tạo và phát triển nền tảng văn hóa - xã hội và hệ sinh thái tự nhiên; lấy “con người” làm trung tâm; xác định an ninh nguồn nước là trụ cột, là điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững; quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, thống nhất trên toàn lưu vực sông đảm bảo việc duy trì nguồn sống cho môi trường và người dân; chuyển đổi mô hình sinh kế tại các tiểu vùng theo hướng chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Tiếp cận tổng thể, tích hợp phát triển kinh tế, xã hội, môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thúc đẩy hợp tác liên kết phát triển giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và các vùng khác trong cả nước đặt trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, trực tiếp là các nước Tiểu vùng Mê Công và các nước thành viên ASEAN.

    (2) Đổi mới mô hình tăng trưởng tập trung vào hiệu quả và giá trị gia tăng cao, xây dựng các chuỗi liên kết mạnh gắn với thương hiệu và giá trị: Phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng ưu tiên theo hướng sinh thái, tuần hoàn, đa giá trị; thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến theo chiều sâu, thu hút các ngành công nghiệp chế tạo gắn với phục vụ nông nghiệp, năng lượng tái tạo…. Phát triển các ngành dịch vụ hiện đại hỗ trợ hiệu quả cho sản xuất, phát triển du lịch đặc trưng, khác biệt hóa các sản phẩm.

    (3) Phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước. Đảm bảo tính ổn định và sinh kế của người dân, trong đó người dân và doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, nhà nước đóng vai trò định hướng, dẫn dắt. Xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa các cấp theo hướng đồng bộ, đạt chuẩn, phù hợp với đặc trưng không gian văn hóa của từng khu vực; gắn công tác bảo tồn, phát huy di sản với phát triển du lịch bền vững và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa.

    (4) Chuyển đổi sang thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng “thuận thiên có kiểm soát” và phát triển bền vững môi trường, có tầm nhìn dài hạn, ưu tiên cho thích ứng với biến đổi khí hậu đồng thời tận dụng các cơ hội để phát triển kinh tế các-bon thấp, kinh tế xanh, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên. Coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính, đột phá để phát triển kinh tế - xã hội vùng, xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vùng, gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với ứng dụng triển khai trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên của vùng.

    (5) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Phát huy tiềm lực, tăng cường thực lực quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, chủ quyền quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Chú trọng việc đảm bảo an ninh lương thực, nguồn nước, biên giới, vùng biển và hải đảo. Duy trì và thúc đẩy đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, theo xu thế hiện đại, tranh thủ các nguồn lực quốc tế để tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội vùng.

    (6) Chuyển đổi mô hình tổ chức không gian phát triển từ phân tán, nhỏ lẻ sang tập trung; phát triển cụm ngành kinh tế nông nghiệp gắn kết với các khu vực đô thị hóa, công nghiệp hóa tạo ra sự phát triển đột phá. Tăng cường liên kết nội vùng và ngoại vùng, trong đó ưu tiên đẩy nhanh các liên kết theo trục Đông - Tây, hướng biển, tạo không gian phát triển mới gắn biển. Tích hợp các loại hình kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại, thông minh, chuyển đổi sang hạ tầng xanh, hạ tầng đa mục tiêu - đa lợi ích phù hợp với mô hình phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải. Tập trung phát triển hạ tầng đi trước một bước, ưu tiên hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số, cấp nước sạch, thủy lợi và hạ tầng xã hội.

    Quan điểm phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn đến năm 2050Quan điểm phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn đến năm 2050 (Hình từ Internet)

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu như thế nào để hạn chế tác động tiêu cực những đợt xâm nhập mặn cao điểm trong thời gian tới tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long?

    Căn cứ theo quy định tại Công điện 15/CĐ-TTg năm 2025 để chủ động ứng phó, hạn chế tác động tiêu cực của những đợt xâm nhập mặn cao điểm trong thời gian tới tại các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

    - Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Công điện số 128/CĐ-TTg ngày 08 tháng 12 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc chủ động phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.

    - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục chỉ đạo theo dõi sát diễn biến, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về tình hình, dự báo thủy văn, nguồn nước, nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh đến cơ quan truyền thông, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương để thông tin chính xác, kịp thời chỉ đạo triển khai thực hiện các biện pháp ứng phó phù hợp, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ.

    - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân công lãnh đạo Bộ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa phương, nhất là khu vực ven biển Đồng bằng sông Cửu Long triển khai các biện pháp ứng phó xâm nhập mặn phù hợp với thực tế từng khu vực, hạn chế ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.

    - Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên, nhất là khu vực ven biển Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến và dự báo khí tượng thủy văn, nguồn nước, xâm nhập mặn để chủ động triển khai các biện pháp ứng phó cụ thể theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, tập trung triển khai các phương án bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh, tuyệt đối không được để người dân thiếu nước sinh hoạt, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục thiếu nước ngọt.

    - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam và Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam chỉ đạo cập nhật thông tin, đưa tin kịp thời, chính xác về tình hình xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt cục bộ (nếu có) và nhất là công tác chỉ đạo, các nhiệm vụ, giải pháp ứng phó của cơ quan có thẩm quyền để người dân biết, chủ động triển khai ứng phó phù hợp.

    - Giao Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà trực tiếp chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có liên quan triển khai thực hiện nghiêm túc công điện này và tiếp tục chỉ đạo triển khai công tác ứng phó xâm nhập mặn phù hợp với tình hình.

    Văn phòng Chính phủ theo theo chức năng, nhiệm vụ được giao theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện này; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách những vấn đề đột xuất, phát sinh.

    saved-content
    unsaved-content
    1