Nghị định 123 về đất đai còn hiệu lực không? Nghị định Xử lý vi phạm đất đai mới nhất là Nghị định nào?
Nội dung chính
Nghị định 123 về đất đai còn hiệu lực không? Nghị định Xử lý vi phạm đất đai mới nhất là Nghị định nào?
Ngày 04/10/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 123/2024/NĐ-CP (Nghị định 123 về đất đai) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thay thế Nghị định 91/2019/NĐ-CP
Nghị định 123/2024/NĐ-CP (Nghị định 123 về đất đai) có hiệu lực từ ngày 04/10/2024.
Nghị định 123 về đất đai hướng dẫn 03 văn bản cụ thể như sau:
(3) Luật xử lý vi phạm hành chính 2012
Như vậy, Nghị định Xử lý vi phạm đất đai mới nhất là Nghị định 123 2024 NĐ CP.
Hiện nay, Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đang trong quá trình xây dựng. Dự thảo Nghị định gồm 4 điều, tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; làm rõ căn cứ pháp lý, thẩm quyền xác định hành vi vi phạm, bảo đảm thống nhất với pháp luật đất đai và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất, mốc địa giới hành chính; làm rõ việc xử phạt đối với hộ gia đình, cộng đồng dân cư, nhiều người có chung quyền sử dụng đất; điều chỉnh mức phạt và thẩm quyền xử phạt của chính quyền địa phương, cơ quan thanh tra, kiểm tra theo mô hình chính quyền hai cấp… |
>> Xem Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2024/NĐ-CP Tải về

Nghị định 123 về đất đai còn hiệu lực không? Nghị định Xử lý vi phạm đất đai mới nhất là Nghị định nào? (Hình từ Internet)
Mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định như thế nào?
Căn cứ theo Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cụ thể như sau:
(1) Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP không vượt quá mức phạt tiền tối đa theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
(2) Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định 123/2024/NĐ-CP áp dụng đối với cá nhân (trừ khoản 4, 5, 6 Điều 18, khoản 1 Điều 19, điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 20, Điều 22, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 Nghị định 123/2024/NĐ-CP).
- Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng một hành vi vi phạm hành chính.
(3) Việc xác định mức phạt cụ thể căn cứ vào mức phạt của từng hành vi quy định tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
(4) Mức phạt tiền theo thẩm quyền quy định tại Điều 30 và Điều 31 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân.
- Mức phạt tiền theo thẩm quyền đối với một hành vi vi phạm hành chính của tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
(5) Việc xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp có giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất, cho thuê, cho thuê lại, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thực hiện như sau:
- Trường hợp vi phạm hành chính xảy ra trước khi chuyển quyền sử dụng đất thì bên chuyển quyền sử dụng đất bị xử phạt vi phạm hành chính và phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm do mình gây ra theo quy định.
+ Trường hợp bên chuyển quyền là tổ chức đã giải thể, phá sản, cá nhân đã chết không có người thừa kế hoặc chuyển đi nơi khác mà được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm không xác định được địa chỉ và không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì bên nhận chuyển nhượng không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả do bên chuyển quyền gây ra.
+ Bên nhận chuyển quyền bị xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm do mình gây ra (nếu có);
- Trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất mà không đăng ký biến động đất đai thì xử phạt vi phạm hành chính đối với cả hai bên chuyển đổi quyền sử dụng đất;
- Trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không đăng ký biến động đất đai thì xử phạt vi phạm hành chính đối với bên nhận chuyển quyền sử dụng đất;
- Trường hợp cho thuê, cho thuê lại, thế chấp bằng quyền sử dụng đất mà không đủ điều kiện, không đăng ký biến động đất đai thì xử phạt vi phạm hành chính đối với người đã cho thuê, cho thuê lại, thế chấp.
Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được xác định như thế nào?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai như sau:
Điều 3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 năm.
2. Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:
a) Đối với các hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đã kết thúc thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm;
b) Đối với các hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đang thực hiện thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
[...]
Như vậy, thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tùy thuộc vào hành vi vi phạm hành chính thì sẽ xác định tùy vào từng thời điểm như thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm hay là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm theo quy định như trên.
Trên đây là toàn bộ nội dung về "Nghị định 123 về đất đai còn hiệu lực không? Nghị định Xử lý vi phạm đất đai mới nhất là Nghị định nào?"
