Kinh phí giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất có được tính vào tổng mức đầu tư chung của dự án để quyết toán không?
Mua bán Nhà riêng trên toàn quốc
Nội dung chính
Kinh phí giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất có được tính vào tổng mức đầu tư chung của dự án để quyết toán không?
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 104/2026/NĐ-CP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước.
Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Nghị định 104/2026/NĐ-CP như sau:
Điều 9. Quyết toán kinh phí
1. Quyết toán năm: Chi thường xuyên cho nhiệm vụ giải phóng mặt bằng được quyết toán theo niên độ ngân sách hằng năm cùng với quyết toán ngân sách của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Kinh phí chi thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng được quyết toán trong giá trị tổng mức đầu tư của dự án.
Ngoài việc tổng hợp báo cáo quyết toán hằng năm theo quy định tại khoản 1 Điều này, đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thực hiện quyết toán nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng hoàn thành trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán và gửi quyết định phê duyệt tới chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình để tổng hợp vào báo cáo quyết toán dự án hoàn thành chung của toàn bộ dự án theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, đất đai và quy định của pháp luật liên quan.
Theo đó, kinh phí chi thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất được quyết toán trong giá trị tổng mức đầu tư của dự án.
Kinh phí giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất có được tính vào tổng mức đầu tư chung của dự án để quyết toán không? (Hình từ Internet)
Trường hợp nào Nhà nước có thể thu hồi đất trước thời hạn?
Căn cứ vào khoản 2 Điều 85 Luật Đất đai 2024 quy định cụ thể như sau:
Điều 85. Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
[...]
2. Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
[...]
Như vậy, trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn quy định.
Các trường hợp nào thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai?
Căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Đất đai 2024 về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
- Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm.
- Người sử dụng đất hủy hoại đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại đất mà tiếp tục vi phạm.
- Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.
- Đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất mà người được giao đất, cho thuê đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật Đất đai 2024.
- Đất được Nhà nước giao quản lý mà để bị lấn đất, chiếm đất.
- Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
- Đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản không được sử dụng trong thời gian 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời gian 18 tháng liên tục, đất trồng rừng không được sử dụng trong thời gian 24 tháng liên tục và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không đưa đất vào sử dụng theo thời hạn ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng không quá 24 tháng và phải nộp bổ sung cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian được gia hạn; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất và chi phí đầu tư vào đất còn lại.
- Các trường hợp quy định tại các khoản 6, 7 và 8 Điều 81 Luật Đất đai 2024 không áp dụng đối với trường hợp bất khả kháng.
