Kế hoạch phát triển đô thị được xây dựng và áp dụng cho từng phường, đặc khu đúng không?
Mua bán nhà đất trên toàn quốc
Nội dung chính
Kế hoạch phát triển đô thị được xây dựng và áp dụng cho từng phường, đặc khu đúng không?
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị định 35/2026/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết về phân loại đô thị quy định như sau:
Điều 7. Kế hoạch phát triển đô thị
1. Kế hoạch phát triển đô thị được xây dựng và áp dụng cho từng phường, đặc khu được xác định là đô thị hoặc xã, đặc khu dự kiến thành đô thị theo chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt (bao gồm các địa phương thuộc Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), làm cơ sở để dự kiến nguồn lực và tổ chức triển khai thực hiện việc đầu tư phát triển đô thị trên địa bàn đáp ứng trình độ phát triển đô thị tương ứng theo phân loại đô thị.
2. Kế hoạch phát triển đô thị được lập theo giai đoạn 05 năm và phải phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn được lập cho địa phương, phù hợp với chương trình phát triển đô thị, các kế hoạch chuyên ngành khác có liên quan đến phát triển đô thị trên địa bàn và khả năng huy động nguồn lực thực tế tại địa phương.
[...]
Như vậy, kế hoạch phát triển đô thị được xây dựng và áp dụng cho từng phường, đặc khu đã được xác định là đô thị, hoặc xã, đặc khu dự kiến trở thành đô thị theo chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt (bao gồm cả các địa phương thuộc Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh).
Kế hoạch này được sử dụng làm căn cứ để dự kiến, bố trí nguồn lực và tổ chức triển khai hoạt động đầu tư phát triển đô thị trên địa bàn, nhằm bảo đảm đáp ứng trình độ phát triển đô thị tương ứng với từng loại đô thị theo quy định về phân loại đô thị.

Kế hoạch phát triển đô thị được xây dựng và áp dụng cho từng phường, đặc khu đúng không (Hình từ Internet)
Bảo đảm phát triển đô thị có tính đến định hướng giao thông công cộng, khai thác hiệu quả quỹ đất để thực hiện gì?
Căn cứ khoản 3 Điều 6 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2024 quy định như sau:
Điều 6. Yêu cầu đối với quy hoạch đô thị và nông thôn
1. Cụ thể hóa, phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo đảm tính thống nhất với quy hoạch phát triển các ngành trong phạm vi lập quy hoạch; bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
2. Dự báo chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật bảo đảm cơ sở khoa học, đáp ứng yêu cầu thực tế và phù hợp với xu thế phát triển của đô thị, nông thôn, khu chức năng; tuân thủ quy chuẩn về quy hoạch đô thị và nông thôn, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai; đáp ứng yêu cầu phát triển xanh, thông minh, hiện đại, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng ngừa hiểm họa, ảnh hưởng đến cộng đồng.
3. Bảo đảm phát triển đô thị có tính đến định hướng giao thông công cộng, khai thác hiệu quả quỹ đất để thực hiện xây dựng khu vực đầu mối giao thông công cộng kết hợp với việc phát triển mới, cải tạo, chỉnh trang đô thị.
4. Bảo đảm tính đồng bộ về không gian kiến trúc cảnh quan, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và không gian ngầm; phát triển hài hòa giữa đô thị, nông thôn và khu chức năng; bảo đảm gắn kết chặt chẽ, đồng bộ giữa khu vực phát triển mới và khu vực hiện hữu; giữ gìn, phát huy bản sắc; bảo tồn, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa, giá trị các công trình kiến trúc đặc trưng của từng địa phương.
5. Đáp ứng nhu cầu về nhà ở, nhà ở xã hội và hệ thống công trình hạ tầng xã hội, bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân.
[...]
Theo đó, yêu cầu đối với quy hoạch đô thị và nông thôn là bảo đảm phát triển đô thị có tính đến định hướng giao thông công cộng, khai thác hiệu quả quỹ đất để thực hiện xây dựng khu vực đầu mối giao thông công cộng kết hợp với phát triển mới, cải tạo và chỉnh trang đô thị.
Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phân loại đô thị bảo đảm các xu hướng phát triển đô thị thích ứng với yếu tố gì?
Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2024 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn sửa đổi 2025 quy định như sau:
Điều 4. Phân loại đô thị và hệ thống đô thị
1. Phân loại đô thị được quy định như sau:
a) Đô thị được phân loại theo vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; mức độ đô thị hóa; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan và các yếu tố đặc trưng;
b) Phân loại đô thị là cơ sở tổ chức, sắp xếp hệ thống đô thị theo các tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại đô thị, là cơ sở định hướng phát triển hệ thống đô thị, từng đô thị;
c) Căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phân loại đô thị bảo đảm các xu hướng phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, xanh, thông minh, hiện đại và bền vững.
2. Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt.
3. Hệ thống đô thị được định hướng tại quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn, quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch chung thành phố, bao gồm đô thị và đô thị mới.
Như vậy, căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phân loại đô thị bảo đảm các xu hướng phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, xanh, thông minh, hiện đại và bền vững.
