Chủ sở hữu nhà ở có phải chịu rủi ro về nhà ở thuộc sở hữu của mình không?

Chuyên viên pháp lý: Nguyễn Xuân An Giang
Tham vấn bởi Luật sư: Nguyễn Thụy Hân
Chủ sở hữu nhà ở có phải chịu rủi ro về nhà ở thuộc sở hữu của mình không? Những rủi ro gì có thể xảy ra mà chủ sở hữu nhà ở cần chú ý khi mua bán nhà ở?

Mua bán Nhà riêng trên toàn quốc

Xem thêm Mua bán Nhà riêng trên toàn quốc

Nội dung chính

    Chủ sở hữu nhà ở có phải chịu rủi ro về nhà ở thuộc sở hữu của mình không?

    Căn cứ Điều 162 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

    Điều 162. Chịu rủi ro về tài sản
    1. Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
    2. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

    Như vậy, chủ sở hữu nhà ở phải chịu rủi ro về nhà ở thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp pháp luật hoặc các bên có thỏa thuận khác.

    Theo đó, nguyên tắc chung được xác lập là ai là chủ sở hữu tài sản thì người đó phải gánh chịu rủi ro đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Nhà ở là bất động sản nên cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này.

    Chủ sở hữu nhà ở có phải chịu rủi ro về nhà ở thuộc sở hữu của mình không?

    Chủ sở hữu nhà ở có phải chịu rủi ro về nhà ở thuộc sở hữu của mình không? (Hình từ Internet)

    Những rủi ro gì có thể xảy ra mà chủ sở hữu nhà ở cần chú ý khi mua bán nhà ở?

    Trong quá trình mua bán nhà ở, chủ sở hữu và bên nhận chuyển nhượng có thể đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý và thực tiễn nếu không kiểm tra, chuẩn bị kỹ lưỡng. Việc nhận diện sớm các rủi ro này giúp các bên chủ động phòng tránh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt trong bối cảnh mua bán nhà ở trên toàn quốc ngày càng diễn ra sôi động.

    Thứ nhất, rủi ro về pháp lý của nhà ở là vấn đề phổ biến nhất. Nhà ở có thể chưa được cấp Giấy chứng nhận, đang bị thế chấp, kê biên để thi hành án hoặc thuộc diện quy hoạch, giải tỏa. Nếu giao dịch được xác lập khi các tình trạng này chưa được xử lý dứt điểm, hợp đồng mua bán có nguy cơ vô hiệu hoặc không thể sang tên.

    Thứ hai, rủi ro về chủ thể giao dịch. Người ký hợp đồng có thể không phải là chủ sở hữu hợp pháp, hoặc việc định đoạt tài sản chung (nhà ở thuộc sở hữu chung vợ chồng, đồng sở hữu) không có đầy đủ sự đồng ý của các chủ thể có quyền. Điều này dễ dẫn đến tranh chấp kéo dài sau khi mua bán hoàn tất.

    Thứ ba, rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng như chậm bàn giao nhà, chậm thanh toán, không thực hiện nghĩa vụ thuế, phí liên quan hoặc vi phạm cam kết về hiện trạng nhà ở. Những rủi ro này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của các bên.

    Thứ tư, rủi ro về ranh giới, bất động sản liền kề và hiện trạng xây dựng. Nhà ở có thể xây dựng sai phép, lấn chiếm hoặc phát sinh tranh chấp với hộ liền kề, khiến chủ sở hữu mới phải gánh chịu hậu quả pháp lý và chi phí khắc phục.

    Để hạn chế rủi ro khi mua bán nhà ở trên toàn quốc, các bên nên tìm hiểu kỹ quy định pháp luật, kiểm tra hồ sơ pháp lý nhà ở và tham khảo thông tin từ các nguồn uy tín như Thư Viện Nhà Đất, qua đó đưa ra quyết định giao dịch an toàn và hiệu quả.

    Chủ sở hữu nhà ở có quyền khiếu nại đối với hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình không?

    Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở 2023 quy định như sau:

    Điều 10. Quyền của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở
    1. Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có các quyền sau đây:
    a) Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình;
    b) Sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và mục đích khác mà pháp luật không cấm;
    c) Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;
    d) Bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở theo quy định của Luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan; chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở, cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở và các quyền khác theo quy định của pháp luật; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho đối tượng không thuộc trường hợp được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.
    Trường hợp Luật Đất đai có quy định khác về quyền của chủ sở hữu nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thực hiện theo quy định đó;
    đ) Sử dụng chung các công trình tiện ích công cộng trong khu nhà ở đó theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
    Trường hợp là chủ sở hữu nhà chung cư thì có quyền sở hữu chung, sử dụng chung đối với phần sở hữu chung của nhà chung cư và công trình hạ tầng sử dụng chung của khu nhà chung cư đó, trừ công trình được xây dựng để kinh doanh hoặc phải bàn giao cho Nhà nước theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở;
    e) Bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng;
    g) Được bảo hộ quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Điều 7 của Luật này;
    h) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình và hành vi khác vi phạm pháp luật về nhà ở;
    i) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
    2. Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền quy định tại Điều 20 của Luật này.
    3. Người sử dụng nhà ở không phải là chủ sở hữu nhà ở được thực hiện quyền trong việc quản lý, sử dụng nhà ở theo thỏa thuận với chủ sở hữu nhà ở.

    Như vậy, chủ sở hữu nhà ở có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình và hành vi khác vi phạm pháp luật về nhà ở.

    saved-content
    unsaved-content
    1