Chính sách hỗ trợ cho thuê nhà đất là tài sản công tại Tuyên Quang theo Quyết định 119/2026/QĐ-UBND
Nội dung chính
Chính sách hỗ trợ cho thuê nhà đất là tài sản công tại Tuyên Quang theo Quyết định 119/2026/QĐ-UBND
Theo Điều 4 Quyết định 119/2026/QĐ-UBND, chính sách hỗ trợ cho thuê nhà đất là tài sản công tại Tuyên Quang như sau:
- Hình thức hỗ trợ:
Các doanh nghiệp quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 1 Quyết định này được hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công theo các hình thức quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
- Mức hỗ trợ
Được giảm tiền thuê nhà, cụ thể như sau:
+ Doanh nghiệp nhỏ và vừa: số tiền thuê nhà được hỗ trợ giảm bằng 30% tiền thuê nhà phải nộp theo hợp đồng.
+ Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ: số tiền thuê nhà được hỗ trợ giảm bằng 40% tiền thuê nhà phải nộp theo hợp đồng.
+ Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo: số tiền thuê nhà được hỗ trợ giảm bằng 50% tiền thuê nhà phải nộp theo hợp đồng.
+ Giảm tiền thuê nhà với số tiền được giảm bằng số tiền thuê đất được giảm theo quy định tại Nghị định 230/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai 2024.
+ Trường hợp doanh nghiệp thuộc nhiều nhóm đối tượng với các mức hỗ trợ khác nhau thì được giảm tiền thuê nhà theo chính sách với mức ưu đãi cao nhất.

Chính sách hỗ trợ cho thuê nhà đất là tài sản công tại Tuyên Quang theo Quyết định 119/2026/QĐ-UBND
Trình tự, thủ tục hỗ trợ cho thuê nhà đất là tài sản công tại Tuyên Quang theo Quyết định 119/2026/QĐ-UBND
Theo Điều 5 Quyết định 119/2026/QĐ-UBND, trình tự, thủ tục hỗ trợ cho thuê nhà đất là tài sản công tại Tuyên Quang thực hiện theo quy định tại Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 286/2025/NĐ-CP, cụ thể như sau:
- Giá cho thuê nhà theo phương thức niêm yết giá là giá cho thuê nhà tại Bảng giá cho thuê nhà.
Trường hợp cho thuê đối với quỹ nhà, đất được giao để sử dụng vào mục đích quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định 108/2024/NĐ-CP hoặc trường hợp tại thời điểm cho thuê nhà theo Kế hoạch quản lý, khai thác nhà, đất được Ủy ban nhân dân các cấp phê duyệt mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa ban hành Bảng giá cho thuê nhà hoặc trường hợp tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được giao bổ sung nhà, đất để cho thuê theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị định 108/2024/NĐ-CP thì việc thuê doanh nghiệp thẩm định giá, xin ý kiến của các cơ quan có liên quan về giá cho thuê nhà đối với từng cơ sở nhà, đất được thực hiện như quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 108/2024/NĐ-CP; trên cơ sở đó, Sở Tài chính trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ sung giá cho thuê nhà đối với các cơ sở nhà, đất nêu trên vào Bảng giá cho thuê nhà.
Trường hợp tại thời điểm niêm yết cho thuê nhà nếu giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo quy định của pháp luật về đất đai (bao gồm cả trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hệ số điều chỉnh giá đất (nếu có)) của cơ sở nhà, đất có nhà đang cho thuê có thay đổi thì phải điều chỉnh giá cho thuê nhà theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 108/2024/NĐ-CP.
- Giá cho thuê nhà quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP là giá để niêm yết, thông báo công khai và thực hiện cho thuê nhà. Trường hợp pháp luật khác có quy định việc ưu đãi về giá cho thuê nhà cho các đối tượng ưu tiên thì thực hiện theo quy định của pháp luật đó.
- Tổ chức quản lý, kinh doanh nhà có trách nhiệm thực hiện việc niêm yết thông tin nhà, đất có nhu cầu cho thuê và giá cho thuê nhà tại trụ sở của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà, tại các địa điểm nhà, đất cho thuê, đồng thời đăng tải thông tin trên Cổng (Trang) thông tin điện tử của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) trong cùng một ngày. Thời hạn niêm yết và thông báo tối thiểu là 15 ngày liên tục kể từ ngày bắt đầu niêm yết và đăng tải thông tin; thời gian cụ thể do tổ chức quản lý, kinh doanh nhà quyết định. Nội dung niêm yết và thông báo theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 108/2024/NĐ-CP.
- Tổ chức, cá nhân có nhu cầu thuê nhà (sau đây gọi là người đăng ký thuê nhà) nộp Phiếu đăng ký thuê nhà trong thời hạn niêm yết và được quyền xem nhà trước khi quyết định đăng ký tham gia. Phiếu đăng ký thuê nhà theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 108/2024/NĐ-CP. Những người không được đăng ký thuê nhà thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 29 Nghị định 108/2024/NĐ-CP.
Người đăng ký thuê nhà có trách nhiệm nộp khoản tiền đặt trước bằng tiền thuê nhà của 03 tháng thuê nhà theo giá đã được niêm yết và thông báo công khai; việc nộp tiền đặt trước được thực hiện không chậm hơn thời điểm nộp Phiếu đăng ký thuê nhà. Trường hợp người đăng ký thuê nhà không được quyền thuê nhà, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà có trách nhiệm trả lại khoản tiền đặt trước cho người đăng ký thuê nhà trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký Biên bản xác định tổ chức, cá nhân được quyền thuê nhà (sau đây gọi là người được quyền thuê nhà).
Trường hợp người được quyền thuê nhà thuộc đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 108/2024/NĐ-CP thì phải nộp bản sao các hồ sơ, tài liệu chứng minh thuộc đối tượng ưu tiên.
- Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn niêm yết và thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP:
+ Trường hợp chỉ có duy nhất một người đăng ký thuê nhà thì người duy nhất đó là người được quyền thuê nhà.
+ Trường hợp có nhiều người đăng ký thuê nhà mà trong đó có một đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 108/2024/NĐ-CP thì đối tượng ưu tiên đó là người được quyền thuê nhà.
+ Trường hợp có nhiều người đăng ký thuê nhà mà trong đó có nhiều đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 108/2024/NĐ-CP thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tổ chức bốc thăm giữa các đối tượng ưu tiên để xác định người được quyền thuê nhà.
+ Trường hợp có nhiều người đăng ký thuê nhà mà trong đó không có đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 108/2024/NĐ-CP thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tổ chức bốc thăm để xác định người được quyền thuê nhà.
+ Việc bốc thăm phải thực hiện công khai, có sự chứng kiến của người đăng ký thuê nhà. Trường hợp người được quyền thuê nhà xác định thông qua bốc thăm từ chối quyền thuê nhà thì thực hiện lại việc xác định người được quyền thuê nhà theo quy định tại khoản này.
+ Tổ chức quản lý, kinh doanh nhà có trách nhiệm lập Biên bản xác định người được quyền thuê nhà.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày lập Biên bản xác định người được quyền thuê nhà, người được quyền thuê nhà có trách nhiệm ký Hợp đồng thuê nhà với tổ chức quản lý, kinh doanh nhà theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 108/2024/NĐ-CP. Trường hợp vì lý do bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, tai nạn đột xuất mà người được quyền thuê nhà không thực hiện ký Hợp đồng thuê nhà đúng thời hạn nêu trên thì phải thông báo cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được biết và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày lập Biên bản xác định người được quyền thuê nhà, người được quyền thuê nhà có trách nhiệm ký Hợp đồng thuê nhà với tổ chức quản lý, kinh doanh nhà theo quy định.
Trường hợp quá thời hạn nêu trên, người được quyền thuê nhà không đến ký Hợp đồng thuê nhà thì người đó mất quyền thuê nhà và không được nhận lại số tiền đặt trước; số tiền đặt trước được quản lý, sử dụng theo quy định tại Điều 23 Nghị định này; trong trường hợp này tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tổ chức lại thủ tục cho thuê theo quy định tại Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP.
- Trường hợp hết thời hạn niêm yết giá mà không có người đăng ký thuê nhà thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tổ chức lại thủ tục cho thuê theo quy định tại các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP.
- Trường hợp sau 02 lần tổ chức niêm yết giá để cho thuê mà không có người đăng ký thuê nhà thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà rà soát nguyên nhân và đề xuất giải pháp, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) để báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định sau khi có ý kiến của cơ quan chuyên môn về tài chính, các cơ quan, đơn vị có liên quan (nếu cần).
Trong đó, trường hợp xác định nguyên nhân không có người đăng ký thuê nhà do giá cho thuê cao, không còn phù hợp với giá thuê trên thị trường thì đồng thời tổ chức quản lý, kinh doanh nhà thuê doanh nghiệp thẩm định giá xác định lại giá cho thuê nhà, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) lấy ý kiến Sở Tài chính, các cơ quan, đơn vị có liên quan (nếu cần) để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định điều chỉnh giá cho thuê tại Bảng giá cho thuê nhà; sau khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh giá cho thuê, việc niêm yết, thông báo công khai và tổ chức xác định người được quyền thuê nhà thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP.
Trường hợp trong vòng một năm vẫn chưa cho thuê được thì đối với nhà, đất được giao với mục đích quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị định 108/2024/NĐ-CP, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà báo cáo cơ quan chuyên môn về tài chính để trình Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, xử lý cơ sở nhà, đất theo quy định tại Điều 22 Nghị định 108/2024/NĐ-CP và đưa ra khỏi danh mục nhà, đất quản lý để cho thuê.
