Người thuê căn hộ New City Thủ Thiêm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi không còn nhu cầu thuê không?
Nội dung chính
Người thuê căn hộ New City Thủ Thiêm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi không còn nhu cầu thuê không?
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 172 Luật Nhà ở 2023 quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở, cụ thể:
Điều 172. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở
[...]
3. Bên thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bên cho thuê nhà ở không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;b) Bên cho thuê nhà ở tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thỏa thuận trong hợp đồng;
c) Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.
4. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác theo thỏa thuận trong hợp đồng cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp cáNew City Thủ Thiêmc bên có thỏa thuận khác; trường hợp vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, người thuê căn hộ New City Thủ Thiêm không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ vì không còn nhu cầu thuê.
Quyền đơn phương chấm dứt chỉ áp dụng khi bên cho thuê vi phạm nghĩa vụ như không sửa chữa hư hỏng nặng, tăng giá thuê bất hợp lý, hoặc quyền sử dụng căn hộ bị hạn chế do người thứ ba.
Trường hợp muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê, bên thuê phải thông báo trước bằng văn bản ít nhất 30 ngày hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng, và phải bồi thường nếu gây thiệt hại.

Người thuê căn hộ New City Thủ Thiêm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi không còn nhu cầu thuê không? (Hình từ Internet)
Hợp đồng thuê căn hộ New City Thủ Thiêm chỉ bị chấm dứt khi hết 30 ngày thông báo?
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, cụ thể:
Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.
5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.
Do đó, hợp đồng thuê căn hộ New City Thủ Thiêm không tự động chấm dứt sau 30 ngày thông báo, mà hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Trong thời gian này, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ các thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc giải quyết tranh chấp.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê căn hộ New City Thủ Thiêm có bị phạt vi phạm không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thỏa thuận phạt vi phạm, cụ thể:
Điều 418. Thỏa thuận phạt vi phạm
1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
